Thứ Tư, ngày 14 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Truyện ngắn
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  06/12/2013  
  TIẾNG KÈN  
 
Tác giả: Tam Anh
Hễ nhậu xỉn xỉn là Năm Hòa lôi chuyện cũ ra kể cho người bạn cùng nghề bắt chim nghe như để hả hê cơn giận dữ, ấm ức trong lòng mình. Từ chuyện bỗng dưng trở thành tỷ phú khi nhà nước quy hoạch mấy chục công vườn làm khu thương mại. Chuyện ăn chơi xả láng em út môi son má hồng say xỉn tá lả ngày đêm suốt mấy tháng trời. Chuyện tập nói tiếng “ lóng” của “ Mẽo” khó trần thân nhưng phải ráng chịu. Mở miệng thì cứ : “dét”, “nô”, “ô kê”, “ then kiêu”, “ de ri guốc”…
 
 
 


                                                               ( Tặng đại tá L.T.N , quê Bến Tre )

 

Trên cánh đồng xanh mườn mượt của nông trường, những bông lúa vàng ươm no tròn đang nằm phè phỡn trên những thân cây lúa yếu ớt trông thật tội nghiệp. Tiếng chim Chìa Vôi, Họa Mi trong hàng bạch đàn to tướng líu lo như đang kể nhau nghe về thế thái nhân tình, về cuộc sống mới đang ở phía trước, về một mái ấm gia đình giữa bầu trời xanh trong lồng lộng.

- Ông tính làm cái trò bắt, thả chim trời nầy tới chừng nào lận ? Nói thiệt nghe, nhỏ tới lớn tui chưa thấy ai như ông. Làm cách mạng trên bốn chục năm, tưởng ngon, về hưu rồi cũng trớt qướt như tui. Rồi nghêu ngao vác lục bắt chim- Tiếng Năm Hòa lè nhè trong lúc xỉn rượu, giọng nói lúc nghe được, lúc không.

- Ê. Đừng có nói xàm. Mỗi người có cái số. Giày dép còn có số nói chi người ta. Số tui vậy phải chịu, có ai bẻ nạng chống trời được đâu cha. Vả lại….vả lại…-Tiếng hai Nhơn trả lời rồi im bặt giữa chừng.

- Vãi với thiều. Cha chãnh thấy ớn. Làm cái giọng thấy mà ghét. Ai đời đại tá gì mà dìa hưu hổng có cục đất chọi chim, ở nhà trọ, ăn cơm bụi, gặp tui…tui…

- Thôi đi ông. Ông nói nghe dễ quá. Tại tui đi lưu linh lưu địa khắp nơi nên hơi gặp khó. Thôi từ từ chắc cũng ổn mà. Nè. Dô một ly cho đã cái coi.

Nhiều lúc Năm Hòa thắc mắc về cái tánh nết của thằng cha đại tá “ dị hợm” nầy. Tối ngày cứ đem theo mấy cái lục gài lên cây rồi lấy mấy cái kèn lá ra thổi coi bộ sầu đời dữ lắm. Thiệt là ngộ. Thổi chơi chơi vậy mà chim về bay vô lục nườm nượp. Chích chòe, họa mi, chìa vôi loại nào cũng có. Bắt cho vui chớ rồi “ chả” thả cho nó bay đi không để lại con nào. Thiệt uổng công. Hỏi chuyện đó chả im re bà rè. Mặt hầm hầm coi thấy ớn. Biết tánh, năm Hòa không thèm điều tra chi cho mệt.

Những ly rượu đế cứ rót ra. Dĩa khô cá lóc bầm xoài đã hết dần. Cái ca trà đá bằng nhựa đã tan hết nước đá chỉ còn lại mớ nước trà màu vàng xin xỉn. Năm Hòa nghẻo đầu trên chiếc chiếu rách ngủ li bì, giọng ngái ngủ nghe pho pho, đều đều trong cơn gió chiều phần phật thổi từ phía nông trường. Trời tối dần.

Nhìn người bạn già tứ cố vô thân nằm co ro, Hai Nhơn thấy thương bạn làm sao. Hơn sáu mươi tuổi mà không có được một mái nhà tạm bợ để che nắng che mưa. Vậy rồi đụng đâu ngủ đó từ những thớt thịt heo ở nhà lồng chợ tới ngủ trong chùa, trong miếu. Có khi lại ngủ ngoài mé hiên trường học, trạm y tế. Tài sản không có gì đáng gía ngoài mấy bộ đồ bận cũ xì, cái len, cây phảng và cuốn truyện Kiều cũ mèm. Cũ như chính cuộc đời của Năm Hòa.

Hễ nhậu xỉn xỉn là Năm Hòa lôi chuyện cũ ra kể cho người bạn cùng nghề bắt chim nghe như để hả hê cơn giận dữ, ấm ức trong lòng mình. Từ chuyện bỗng dưng trở thành tỷ phú khi nhà nước quy hoạch mấy chục công vườn làm khu thương mại. Chuyện ăn chơi xả láng em út môi son má hồng say xỉn tá lả ngày đêm suốt mấy tháng trời. Chuyện tập nói tiếng “ lóng” của “ Mẽo” khó trần thân nhưng phải ráng chịu. Mở miệng thì cứ : “dét”, “nô”, “ô kê”, “ then kiêu”, “ de ri guốc”…  Ăn nhà hàng uống rượu ngoại riết đâm ghiền, thấy rượu đế là ói tới mật xanh. Rồi chuyện vợ con nổi xung thiên cản hoài hổng được kéo nhau về Trà Vinh sinh sống. Rồi tiền cũng hết, rượu ngoại cạn dần, em út cũng lánh xa. Căn nhà còn lại cũng đem thế chấp ngân hàng không có tiền đáo hạn đóng lời, người ta đem phát mãi. Vậy là trắng tay. Tiền hết, nhà của đi tong, vợ con biền biệt, chỉ còn lại cuốn truyện Kiều làm bạn để than vãn về cuộc đời nhất đỏ nhì đen.

Gió mỗi lúc mạnh thêm. Lá bạch đàn khô kêu rào rào rồi rơi đầy xuống đất, đầy manh chiếu đang có hai con người lặng im như hai bức tượng vô tri. Hai Nhơn nhớ Tây Nguyên, nhớ nguời con gái Ba Na trắng hồng mơn mởn thổi kèn lá rất điệu đàng. Anh nhớ rừng Tây Bắc, nhớ suối, nhớ sông miệt Bát Tam Bang, Pô Sát bên Cam Pu Chia cháy ruột cháy gan.

Hồi nhỏ hổng biết sao Hai Nhơn ham đi làm Việt Cộng quá trời. Lâu lâu thấy mấy “ổng” dìa chuẩn bị đánh đồn Giồng Miễu, Giồng Trâm, Giồng Chùa, Hai Nhơn thấy cồn cào rậm rực không ăn không ngủ được.

- Mấy anh cho em theo “ tém ” thử một trận coi sao. Em “máu” quá- . Hai Nhơn nằn nì.

- Mày khùng rồi hả ? Dẫn mầy theo để mày té đái trong quần hả ? Tao lạy mầy đi.

- Tui nói thiệt đó. Tui “hầm” mấy cái thằng biệt động quân với thủy quân lục chiến xứ nầy quá trớn. Cho tui theo tui “ dứt” vài thằng làm đám giổ tía má tui chơi.

Nói tới đó, nước mắt hai Nhơn lăn dài xuống má kèm tiếng nấc liên tục như người sắp chết giấc. Cả đại đội du kích im re. Có tiếng khóc chợt bật lên từ mấy cô y tá. Người nào cũng đỏ hoe đôi mắt. Gì chớ vụ tía má thằng Nhơn bị giặc treo cổ ở đầu chợ Giồng Miễu vì dám bò vô đồn thiếu tá quận trưởng Sự đặt mìn làm chết mười mấy tên lính ngụy, trong đó có tới sáu thằng sỹ quan. Tụi địch phản phé, hai vợ chồng bị thương nặng nhưng không hé môi nói nữa lời. Chúng treo cổ làm gương tại chợ nầy để răn đe người dân theo Việt Cộng. Từ đó Hai Nhơn tá túc với ông bà ngoại. Hai ông bà qua đời, Hai NHơn thui thủi một mình.

- Nè. Tao cho đi theo. Nhưng nhớ nghe lời của tao. Mầy “lớ quớ” là nó “ ria” một băng thì hổng còn cái để đội nón, nhớ chưa?- Tiếng tiểu đội trưởng Mùi nói vui.

Vậy là Hai Nhơn bắt đầu cuộc đời “ Việt cộng” của mình với bao chiến công mà tới nay bản thân cũng không nhớ hết được. Xứ Giống Miễu, Khâu Băng, Cồn Cỏ nầy hễ nghe chuyện công đồn thắng lợi thì biết có phần đóng góp của “chuyên gia đặc công” xuất quỹ nhập thần vào ra đồn giặc như lấy đồ trong túi. Đó là Hai Nhơn.

Sau ngày giải phóng, Hai Nhơn chuyển về lực lượng Quân báo của Bộ Quốc Phòng. Hết miền Tây bắc sương mù lạnh giá quanh năm lại rong ruổi đóng quân ở rừng núi Tây Nguyên để giúp dân chống chọi với bọn phản động Phun rô lén lút hoạt động trong rừng sâu biên giới. Một nửa cuộc đời đã đến với Hai Nhơn bên dòng thác ầm ào nước cuồn cuộn chảy tuôn trào. Một người con gái Ba Na toan tự vẫn bằng lá ngón được Hai Nhơn cứu sống kịp thời.

- Cô làm cái gì kỳ cục vậy ? Chết là có tội với cha mẹ, với buôn làng, với thần linh, với núi rừng. Hiểu chưa?- Hai Nhơn giải thích.

- Tui không muốn sống, bộ đội ơi, cho tui chết đi…Tui bị mấy thằng ác ôn trong rừng làm nhục đời con gái. Tui xấu hổ quá…bộ đội ơi. Cô gái khóc thét lên, tiếng khóc nức nở ai oán thê lương vang vọng cả khoảng rừng tĩnh lặng.

- Dù gì đi nữa cũng không được chết. Rồi mọi chuyện sẽ qua thôi.

Nói xong anh nắm tay cô gái Ba Na chạy băng băng ra khỏi khu rừng vắng. Sau lưng tiếng cọp gầm, pha lẫn tiếng suối reo ầm ầm như thác đổ. Sau đó mỗi chiều hai Nhơn lại tới thăm Siu  BLai - cô gái Ba Na - xinh đẹp, hát hay, múa dẻo nhưng cuộc đời cũng lắm bất hạnh gian truân. Bù lại Siu BLai dạy cho anh cách thổi kèn lá để mời gọi chim rừng bay về xây tổ. Lạ thiệt nghe. Mỗi khi cô thổi thì núi rùng như yên lặng lắng nghe, suối như ngừng chảy, gió mạnh dần lên làm tóc cô bay lòa xòa rất lạ thường. Và chim rừng lũ lượt bay về theo tiếng nhạc rừng phát ra từ những chiếc lá đơn sơ. Mấy năm “ học nghề” hai Nhơn cũng khá thành công với cái “ chiêu” kèn lá và tình yêu cũng đơm hoa kết trái từ đây.

- Mai mốt về Bến Tre,  ngày đám cưới hai đứa mình biểu diễn kèn lá cho bà con quê anh “ lé” con mắt luôn- Hai Nhơn cười khà khà.

- Đâu được. Làm vậy người ta cười chết. Mà tui lo quá.

- Lo gì ?

- Tui đã quen sống với núi rừng, cái ăn, cái mặc, cái học hành cũng thua kém người dưới đó. Tui…tui-Nói đến đó Siu Blai khóc ngon lành vì tủi hổ.

- Rồi quen dần thôi. Lâu lâu mình về thăm lại núi rừng, nương rẫy, thăm bà con chóm xóm, có sao đâu- Hai Nhơn an ủi.

Lần chia tay về Nam nhận công tác mới giúp bạn thoát ách diệt chủng của bọn Pôn Pốt – Iêng sa ry, ở phía bìa rừng, Siu Blai khóc rất nhiều, đôi mắt cô cứ băn khoăn lo lắng, cứ đau đáu nhìn sâu vào đôi mắt hai Nhơn như sợ mất đi một cái gì thiêng liêng lắm.

- Đừng buồn. Anh về dưới nhận nhiệm vụ mới sẵn nói với tía má anh tính chuyện lên đây cưới em luôn thể.

- Dạ. Anh đi cẩn thận. Tui chờ nghe. Về dưới không được quên tui. Quên là tui ra suối tự tử lần nữa đó. Tiếng Siu Blai ngắt quãng khi chiếc xe U oát đã dần xa. Qua khung của sổ phía sau xe, bóng hình cô gái Ba Na cứ nhỏ dần trong ánh nắng ban mái chiếu sáng cả khu rừng thâm u bí ẩn.

Hai Nhơn không ngờ đó là lần cuối cùng gặp nhau. Bọn Phun Rô lại kéo về quấy rối dịp bầu cử quốc hội. Nhớ đến Hai Nhơn, nhớ đến bộ đội Việt nam, bất chấp nguy hiểm, nửa đêm Siu BLai băng rừng xuống báo tin cho đồn biên phòng cửa khẩu. Bọn chúng phát hiện và bắn theo xối xả. Trúng đạn nhưng cô vẫn gắng gượng chạy đến đồn báo cáo thều thào mấy câu rồi tắt lịm. Bộ đội, công an bủa vây, truy bắt tội phạm phun rô, những tên còn lại chạy trốn thục mạng sang bên kia biên giới để trả lại sự yên tĩnh của núi rừng, trong hương gió, tiếng chim có bóng hình người con gái Ba Na vĩnh viễn nằm sâu trong lòng đất mẹ.

Mối tình đầu thật đẹp tan vỡ trong sự nghiệt ngã tái tê lòng. Hai Nhơn tìm quên trong những tháng ngày chiến đấu ác liệt trên đất bạn Cam Pu Chia, quên người con gái Ba Na với chiếc kèn lá đầy nét bí ẩn liêu trai đã từng đi vào và trú ẩn trong trái tim anh. Càng quên lại càng nhớ. Khổ và cay độc là ở chỗ đó. Người chiến sỹ quân báo non tơ ngày nào nay đã là người đại tá quân báo về hưu với mái tóc bạc trắng và cô đơn trong hạnh phúc gia đình.

Tiền hưu mỗi tháng người đại tá thương binh Hai Nhơn dè xẻn gởi lên Tây Nguyên giúp đỡ cho gia đình người vợ chưa một lần được cưới và để lo phần nhang khói cho cô gái Ba Na bớt phần quạnh quẽ. Hàng năm cứ đến ngày giỗ Siu Blai, ông lại sắp xếp tìm về núi rừng xưa để thổi kèn lá trước ngôi mộ nhỏ, có lẽ ông tin rằng ở bên kia thế giới, cô gái kia sẽ lắng nghe, sẽ thấu hiểu nỗi lòng của ông, một người lính đi qua chiến tranh, chung thủy với tình yêu vẫn đang trống vắng, cô đơn giữa cuộc đời. Ông vẫn đợi vẫn chờ dù biết rằng điều chờ đợi ấy sẽ không bao giờ có thật.

 

 
     
  Cộng tác viên ( báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

1 2 3 4 5 6 7 8 9 
 Bài mới cập nhật








  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)













  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |