Thứ Tư, ngày 14 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Truyện ngắn
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  25/01/2014  
  TÌNH QUÊ.  
     Nói thì nghe vậy thôi chớ Huệ thấy xa lạ với mình lắm. Hồi đó giờ nghe ba má cô trò chuyện với người quen, Huệ biết, ông Tư cũng từ nơi khác đến làm ăn rồi bén rể ở đây luôn. Ông ngoại cô ban đầu không chịu, sợ anh này hết mùa lúa quất ngựa truy phong rồi để khổ cho con ông. Nhưng nói rát cổ, “tụng” hằng ngày, con gái cũng nhứt quyết thương. Có bữa, ông già hằm hằm mài cái mác vót bén ngót ghim xuống cửa, hăm:

            -Thằng đó giỏi tới đây nói chuyện với tao nè. Liệu coi cây mác đó mà nói.

 
 
 


---

            Nhà có khách, đã lâu rồi ông Tư mới vui như vậy, nói năng hoạt bát, kèm nụ cười sảng khoái quen thuộc. Huệ cùng má tất bật chuẩn bị vài món nhắm cho ba. Cũng chẳng có gì nhiều, chỉ là cá lóc nướng trui gói bánh tráng với rau sống hái trong vườn chấm nước mắm me, má còn biểu Huệ nấu nồi cháo cá bỏ tiêu hành thơm lừng ăn cho giải nhiệt theo sở thích của ông Tư.

            Khi tất cả đã xong, Huệ rón rén liếc nhìn ra bàn ngoài, khách một già một trẻ, coi bộ từ xa tới, bác ấy có vẻ thật thà, chấc phác, chắc là bạn cũ, thời ông Tư còn long đong lận đận. Còn anh thanh niên cỡ ba mươi tuổi, gương mặt chữ điền, hiền hậu, đôi mắt sáng nhìn thẳng, anh ít nói, chỉ chăm chú lắng nghe hai ông bạn già, thỉnh thoảng mới chêm một câu.

             Lạ quá, Huệ bàng hoàng, nghe trống ngực đánh thình thình, anh rất giống một người mà cô không bao giờ quên được. Cái người đã cho cô biết cảm giác xao xuyến đầu đời. Mấy năm trước, cô nhớ mình đã đứng nép vào hàng tràm ven bờ kinh lén nhìn bóng lưng anh bước xuống chiếc ghe có cà rèm cùng anh em xuôi dòng rời kinh xáng, nhớ chiếc áo xanh hơi bạc màu ướt đẫm mồ hôi trên cánh đồng ngày nào, nhớ cả bài ca vọng cổ ngọt ngào như hoài nhớ một thời xa xưa trong đêm trăng êm đềm. Giá như hồi đó ba má cho Huệ sử dụng điện thoại di động thì dễ dàng liên lạc với anh hơn. Lần nào đòi mua, ba cô cũng rầy con gái ở đồng có cần chi xài di động. Cô thả hồn trở lại mùa lúa cách đây ba năm…

***

            Hương lúa mới thơm ngọt ngào theo gió đồng mơn man lan tỏa trong không gian. Huệ yêu mùi hương này, từ nhỏ tới lớn, hễ tới mùa lúa chín là cô thích ra đồng vào sáng sớm, bước chân mát lạnh, ướt át trên đám cỏ đọng sương đêm, từng đàn chim vờn điệu múa vui. Cơn gió đồng bất chợt làm lung lay các hình nộm làm bằng rơm, đầu đội nón lá ở các thửa ruộng, đàn chim giật mình bay vù lên trời cao. Huệ cười: A, các anh lính canh làm tròn phận sự của mình rồi. Lát nữa mặt trời lên, nhìn xa như quả cầu lửa nhô lên từ cánh đồng lúa vàng rực phía chân trời, mấy đám mây lười nhác lặng lờ bay, được viền quanh bởi ánh sáng hồng lộng lẫy.

            Cũng trong một lần ra đồng sớm như vậy, Huệ vui chân bước đến bờ kinh có mấy túp lều của thợ gặt. Hai đứa bé bụ bẫm ngồi nghịch đất ngoài bờ, bà mẹ đang dọn cơm từ bếp lò dã chiến lên tấm nilon trải vội, mùi cá kho khô bỏ tiêu hành quyện với mùi cơm chín tới thật hấp dẫn, một dĩa rau đồng luộc xanh mỡn đặt bên cạnh, đảm bảo lúc đói bụng những món này còn hấp dẫn hơn nhiều cao lương mỹ vị. Má cô nói, ăn cơm ở đồng nhiều lúc vui lắm, làm cỏ lúa tới trưa, giở nồi cơm mang theo, hái nắm rau đồng rửa sạch, bữa cơm ngon nhờ có tiếng chim kêu, có gió bờ cây mát rượi, có bông tràm trắng đung đưa giỡn hớt. Bên túp lều màu xanh khác, một anh con trai đang cùng bạn chuẩn bị ra đồng, tay cầm lưỡi hái, chiếc nón tai bèo đội hờ trên đầu, miệng hát nho nhỏ. Anh bước về phía Huệ, cười  nhìn cô:

- Bộ bác Tư biểu đi kiểm tra người cắt lúa hả cô chủ? Tụi tui cắt kỹ lắm, không bỏ sót đâu.

            Huệ lúng túng:- Đâu có, em đi thăm ruộng, có kiểm tra gì đâu.

            Anh cùng các bạn cười xòa trước vẻ lúng túng của cô, ánh mắt anh đậu trên đôi má bầu bĩnh có đọng giọt mồ hôi long lanh trong nắng sớm. Huệ nghĩ thầm, thì ra cắt lúa cho nhà mình, người ta cũng biết mình nữa.Vậy mà cô chẳng hay biết gì hết. Huệ ngước nhìn, ánh mắt anh như cười, gương mặt vuông vuông sạm nắng, rắn rỏi.

            Có bữa, ngoài bờ sông, anh hát ghẹo: “Hỡi cô giặt áo bên sông, mùa xuân anh hỏi má hồng có ai?” Cô mắc cỡ không biết để đâu cho hết trong nhiều giọng cười rộ. Những lần sau gặp lại, cô trò chuyện với anh nhiều hơn. Mới biết nhà anh ở  tận phía bên kia bờ sông Hậu, đi ghe máy hai ngày mới tới đây, xa lắm, nơi Huệ chưa có dịp đặt chân đến. Anh kể, hết năm lớp chín, ba anh biểu nghỉ học theo gia đình đi cắt lúa ở các cánh đồng Tiền giang, Hậu giang, Đồng Tháp Mười. Rồi ba má lớn tuổi không đi nữa, anh lại đi cùng anh em bạn. Cuộc sống lênh đênh, cơ cực nhưng biết được nhiều nơi cũng vui. Có đêm, thả ghe xuôi theo dòng nước, nằm trên mũi ghe nhìn vầng trăng đi theo mình suốt dặm dài,  phút chốc cũng quên đi những nhọc nhằn của đời lưu lạc. Huệ buột miệng:

            - Vậy chắc anh quen nhiều người lắm, hổng biết nơi nào là anh thích nhất?

            Anh cười cười, liếc Huệ: -Hồi đó nơi nào cũng thích, bây giờ chắc thích nhứt ở đây quá. Mỗi năm lên đây lại thấy đổi khác một chút.

            Huệ hỏi: -Không biết mùa lúa tới anh có lên đây nữa không?

            -Chưa biết nữa. Biết đâu anh chuyển sang làm công việc khác. Chẳng lẽ cứ đi hoài? Mà ở đây không biết có ai nhớ anh hông mà lên?– Anh thăm dò.

            -Ai biết được, biết đâu có cô nào ở đồng bên kia nhớ thì sao. –Huệ đáp.

            -Làm gì có ai bên đó.- Anh cười ý nhị.

            Huệ thấy vui vui trong bụng:-Ở đây có ai nhớ thì anh cũng đi mất tiêu rồi.

            -Anh sẽ trở lại chớ đâu có đi luôn.

            -Chắc không? Chắc Huệ nín thở hai giây.

            Anh đáp: -Trở lại nhưng mà anh cũng phải lo làm ăn có vốn liếng cái đã, sợ người ta chê mình tương lai mờ mịt…

            Huệ thở ra, ấp úng: -Không có đâu, ai mà chê….

            Hai người làm thinh, cô bâng khuâng, mười tám năm nay đây là lần đầu tiên Huệ bắt gặp cảm giác này, giống như có cái gì đó đang khuấy động trong lòng cô, thoáng vui buồn, thoáng lo lắng xa xăm. Chỉ còn không bao lâu nữa là hết mùa. Ai cũng nói là lần lần, máy gặt đập liên hợp sẽ làm hết, không còn chỗ cho anh em gặt thuê đâu.

             Chợt anh cười xòa: -Nè, coi chừng đám cỏ xung quanh chết hết.

            Huệ đỏ bừng đôi má, dừng tay đang day day ngọn cỏ:- Sao anh lại chọc quê em. Anh cầm tay cô, bàn tay ấm nóng, tim cô đập thình thịch, cô giật tay, chạy nhanh vào nhà, bỏ lại dáng người ngồi trên bờ đê lộng gió.

                                                                        ***

            Khi có nhiều đoàn thuyền đi làm thuê đến đậu dọc bờ kinh, những túp lều đủ màu sắc dựng lên ở những chỗ đất bằng phẳng. Bà Tư, má Huệ chép miệng:

            -Tới mùa làm ăn của cô Ba bán tạp hóa rồi. Mùa lúa tới vui mà cũng hơi lộn xộn, người lạ tới, rồi khi đi cũng có người buồn.

            Huệ tròn mắt:- Người ta đến rồi đi mắc mớ gì có người buồn hả má?

            Chị Hồng hàng xóm đang lặt rau với bà Tư cười cười: -Đúng là con nít. Thì người yêu đi buồn chớ sao? Có chị còn ôm bầu đi tìm “chồng” mấy tháng trời mới gặp.

            -Sao chị biết? Huệ tròn mắt. Bà Tư tiếp:

            -Thì  cũng có người thiệt lòng, người bay bướm qua đường, con gái khôn nhờ dại chịu thôi.  

            Nói thì nghe vậy thôi chớ Huệ thấy xa lạ với mình lắm. Hồi đó giờ nghe ba má cô trò chuyện với người quen, Huệ biết, ông Tư cũng từ nơi khác đến làm ăn rồi bén rể ở đây luôn. Ông ngoại cô ban đầu không chịu, sợ anh này hết mùa lúa quất ngựa truy phong rồi để khổ cho con ông. Nhưng nói rát cổ, “tụng” hằng ngày, con gái cũng nhứt quyết thương. Có bữa, ông già hằm hằm mài cái mác vót bén ngót ghim xuống cửa, hăm:

            -Thằng đó giỏi tới đây nói chuyện với tao nè. Liệu coi cây mác đó mà nói.

            Cô con gái mười chín tuổi khóc hết nước mắt, hoảng hồn, khuyên người yêu đừng tới, coi như hết rồi. Nhưng anh gan cùng mình, một mình tới nhà nói chuyện với ông nhạc tương lai. Trước tấm chân tình của người con trai xa lạ, ông già cười hì hì, nhổ cái mác vót nói thòng một câu “ Được, tao giao nó cho mầy, nhưng mà cà chớn là chết với tao”. Gạo đã nấu thành cơm, ông già vợ “cấp” vài công đất còn nhiễm phèn để vợ chồng làm ăn, từ từ nở nồi cho tới ngày nay, bầy con bốn đứa lần lượt ra đời, Huệ là út chót, đẹp nhứt, cũng được cưng nhất nhà.

            Bà Tư nói:

            -Bây biết hông Hồng? Hồi đó, ở đây cực trần thân, nhứt là chuyện nước nôi. Mùa nắng, kinh này phèn vàng khè, còn mấy cái đìa phèn xanh dờn có con cá nào sống được đâu, tao với ổng phải bơi xuồng, chở mấy cái lu ra tuốt kinh lớn cách đây mấy cây số chở nước về xài.

            Chị Hồng nói: Má con thì than mùa nắng, móng tay móng chưn ai cũng đóng phèn vàng khè, còn uống nước phèn riết xót ruột, đau bao tử hả thím?

            Bà Tư nhớ lại: - Cái thời gian nan, phụ nữ sợ nhất là khi mới mưa xuống, kinh rạch dậy phèn quá trời, rửa mặt riết bị nắng ăn sạm da hết trọi, tóc vuốt một cái rụng cả đám nhót ruột nhót gan. Vậy mà, tao với ổng lần hồi làm ruộng, gian nan khóc lên khóc xuống, có năm lúa chết, hay là lũ lụt, phải làm mướn kiếm từng lon gạo. Ổng biết phát cỏ, cắt lúa, làm đủ thứ hết mới nuôi nổi mấy cái tàu há mồm này, biết bao nhiêu người không trụ nổi sang đất về xứ, tao với ổng dành dụm mua lại.

            -Vậy bây giờ con với chị Hồng sướng hơn hả má? Huệ hỏi.

            -Sướng nhiều, làm ruộng bây giờ cũng trúng hơn, kinh xáng thông thương, đâu có méo mặt dòm lúa chết bị dậy phèn như hồi đó. Cực khổ trần ai lắm con ơi.

             Bà Tư thích xài từ “trần ai”, có lẽ nó ứng với cuộc đời của những lớp dân cư mới định cư ở vùng đất Đồng Tháp Mười như cha, ông, rồi vợ chồng bà. Năm Huệ mười sáu, tuổi thiếu nữ ngọt ngào, má bầu hồng dậy, dáng cô thon thả, tóc mượt buông dài làm bâng khuâng những trai làng mới lớn, tới mùa lúa, bà Tư dặn:

            -Con coi chừng, đừng có la cà với mấy thanh niên cắt lúa, người ta đến rồi đi, con gái mới chịu thiệt thôi.

            Huệ tỉnh khô: -Sức mấy, má lo xa quá đi, con đâu có quen mấy người đó.

            Bây giờ, nhớ lại chuyện má dặn, cô mới biết bà già không lo xa mà lo gần kế bên hè. Cô lặng lẽ gia nhập nhóm người buồn sau khi đoàn ghe làm thuê tách bến. Đêm cuối cùng nhóm thợ gặt từ giả bà con nơi đây. Anh cùng bạn bè ngồi đàn hát dưới rặng trâm bầu trước sân nhà. Tiếng đàn tính tang lúc khoan lúc nhặt, cô nghe lòng mình có lúc chìm xuống mấy tầng nước sâu, rồi lặng lờ trôi theo dòng nước. Huệ bâng khuâng lén đứng dựa vách nhà nghe hát. Anh mặc chiếc áo sơ mi trắng, mặt hơi ửng đỏ vì mấy ly rượu mời, tay ôm cây đàn hơi cũ. Tại sao người ta không gặp mình từ giả, hay là anh quên rồi, cũng giống như những người thợ khác, đến rồi đi, bỏ lại vài kỷ niệm bên đường. Đất này hào phóng đón người đến rồi lưu luyến tiễn người đi, không biết ai có giữ lại gì không?. Cô chợt giật mình, lắng nghe :

            -Thằng Phong nay chắc bị cô nào hốt mất hồn vía rồi, mọi bữa đờn đâu có trật nhịp như bữa nay.

            Anh chống chế:- Đâu có, tại uống mấy ly hơi say vậy mà.

            Huệ nghe vui vui, cô giả bộ bước ra lu múc nước vô ấm, chỉ là để cho anh thấy mình. Trời càng khuya, giờ chia tay gần hơn. Khi mọi người về hết, Huệ lưu luyến đưa ánh mắt tiễn anh, cơn gió lạnh vô tình thổi qua, gió ở đây nhiều đến nỗi nếu giơ tay ra là hứng được cả bụm. Hồi nhỏ, cùng mấy anh đi giăng câu ngoài đồng, Huệ ngồi giữa xuồng, cúi xuống vớt bèo hay rong rêu đùa nghịch, gió lên là sóng nước lăn tăn, bèo dạt phất phơ trong nước, Huệ thích lắm. Đêm, nghe gió thổi rạt rào ngoài bụi chuối, Huệ tưởng như cây cối đang thủ thỉ thù thì nói chuyện. Còn đêm nay, gió se sắt lòng cô. Hình như anh nán lại ngoài bờ cây, cô lén lén khép cửa bước ra. Nín thở đứng kề anh. Dáng anh cao, hơi gầy, trăng rớt xuống áo vài giọt sáng, lúc này trông anh đẹp và mơ hồ như ánh trăng. Anh nói nhỏ:

            -Ngày mai anh về rồi…..Anh bỏ lửng, Huệ nhìn anh bối rối.

            -Không lẽ anh không trở lại?

            -Huệ có đợi anh không? Anh nhìn cô chờ đợi.

            -Tới chừng nào?

            -Anh chưa biết, bác Tư nói ở đây chắc năm tới không cần thợ nữa, có máy cắt nhiều rồi. Anh tìm việc làm rồi sẽ tìm em.

            -Làm sao em liên lạc với anh?

            Anh chua xót: -Bây giờ anh chỉ xài chung số của bạn anh, cũng bất tiện. Đi làm mướn đâu có nhiều tiền mà xài sang, còn lo cha mẹ với hai đứa em đi học nữa. Khi ổn định rồi anh tìm em.

            Huệ hỏi nhỏ: -Có khi nào anh quên em không?

            Anh lặng yên nhìn cô, ánh mắt chân thành. Một nụ hôn nhẹ nhàng lướt trên má cô, âm ấm, bàn tay anh vẫn nóng hôi hổi, hơi ram ráp, nhưng đầy tin cậy.

                                                                        ***

            Cô đã chờ anh hết sáu bảy mùa lúa, chỉ có tiếng máy gặt đập liên hợp chạy ầm ầm trên đồng, nổi buồn cũng dần lắng dịu. Mấy đứa bạn hàng xóm của cô đã rời quê đi làm ăn xa, lúc về trông khác lắm, đẹp hơn, cứng cỏi hơn và đôi mắt đầy lo toan. Cũng có người khó sống tha phương trở về quê làm thuê. Lắm lúc, cô muốn đi, nhưng rồi lại chần chừ, ở lại đây, chờ anh vài mùa lúa nữa.

            -Huệ à, lấy thêm cho ba nước mắm. – Huệ giật mình, vội dạ một tiếng rồi chạy đi. Bữa tiệc của ông Tư với người bạn làm thuê ngày xưa đang hồi rôm rả, dường như hai người nhắc lại cái thời sức trẻ tràn trề, tưởng có thể dời non lấp bể. Huệ nép bên Bà Tư  trên bộ ván ngựa. Bà  than:

            -Ba năm nay vắng mấy túp lều của dân cắt lúa, cũng hơi buồn.

            Ông Tư cười:- Thời hiện đại mà, cái gì mất thì phải mất, mắc gì buồn. Ông coi, bây giờ mình ở nông thôn cũng đâu có tệ. Mấy đứa cháu gần đây cũng biết lên mạng in-tẹc- nét coi người ta hướng dẫn trồng trọt, nuôi cá, nuôi tôm ngon lành ông. Đời mình cực khổ, bây giờ thấy lớp trẻ tiến bộ cũng vui.  

            Bà Tư hứ cái cóc:- Tụi nó coi mấy cái hình phụ nữ mặc áo tắm hở hang nữa nghe ông, nó nói cái chi cũng có trên mạng, có hay ho gì đâu mà mấy ông khoái !.  Thằng cháu chị Hai còn ghiền bắn chèo chéo trên máy nữa kìa. Tui không ưa.

         Ông Tư và khách cùng cười khà trước nhận xét chỏi bản họng của bà Tư. Hồi lâu, ông khách nói:

        -Thằng Phong cháu tui mấy năm trước cũng cắt lúa trên này.

            Ông Tư nhíu mày: -Phải thằng cháu tướng tá cao ráo, tui khoái nó cái vụ đờn tài tử nghen. Bây giờ nó làm gì ông?

            Huệ nín thở chờ câu trả lời: - Nó nghỉ cắt lúa, chuyển qua làm công nhân, rồi theo anh bà con đi làm nghề xây dựng ở Sài Gòn, nghe nói cũng đỡ. Cái thằng giỏi nghe ông, lo cho hai đứa em, đứa thì  vô đại học, đứa học nghề. Mà nó cũng đang học thêm nghề xây dựng nữa.  

            Bà Tư cũng tò mò: -Nó có gia đình chưa anh?

            Ông khách đang bưng ly rượu ông Tư vừa đưa, uống cạn. Người thanh niên trẻ nãy giờ lặng thinh giờ mới lên tiếng: -Dạ, chưa bác ơi, Phong nó nói khi nào ổn định kinh tế nó mới cưới vợ.

            Huệ thở phào. Câu này đúng là của anh. Nhưng cô chợt buồn. Bây giờ đâu có khó liên lạc như hồi xưa, vậy mà anh lặng thinh. Bèo dạt mây trôi là lẽ tự nhiên, chị tội cho mình, mắc cái bịnh nhớ dai. Trời đã về chiều, cô ra sân thu dọn quần áo đang phơi. Chợt anh khách trẻ bước ra, chào cô:

            - Em gái, cho anh hỏi, có phải em là Hồng Huệ không? Nãy giờ nghe bác Tư kêu anh cũng ngờ ngợ mà chưa dám hỏi?  -Huệ gật đầu, tò mò, anh nói tiếp:

            -Tháng trước thằng Phong có ghé nhà anh, nghe nói ba với anh lên đây thăm người quen, nó nhờ anh tìm Huệ gởi số điện thoại di động của nó.

            -Sao ảnh không đi tìm em?_ Huệ hơi thất vọng.

            - Hồi ở đây về, mấy năm gia đình quá khó khăn, chú thím bệnh hoài, Phong phải lo, hai đứa em thì đang tuổi ăn tuổi học, nghèo nhưng nó nhứt quyết không cho em nghỉ học nên không có điều kiện đi tìm em. Nay thì cũng ổn  rồi.

            Huệ run run cầm mảnh giấy ghi số điện thoại của anh và vài dòng thăm hỏi. Thì ra đây là nét chữ của anh, bấy lâu nay cô mới biết, cô nắm chặt như một bằng chứng về sự tồn tại, mối liên hệ của anh. Mấy năm nay cũng đã có vài đám tới hỏi mà Huệ cứ nấn ná hoài chưa nỡ quên. Bờ kinh này, cánh đồng này đã in dấu chân anh, cũng như dấu chân của ba má, của cô, những dấu chân nhọc nhằn. Huệ ngước lên, người đưa tin đã vào nhà tự bao giờ.

            Trời vẫn còn chút nắng, sao gió chiều mang hơi nước làm lung lay những ngọn cây ven bờ kinh, tiếng cành lá quẹt vào mái nhà xào xạc. Nắng đó, mưa đó, đồng trống mênh mang, những cơn bão nhỏ, gió lộng rớt xuống thường xuyên nên không ai còn lạ gì nữa. Cô bước ra hè phóng tầm mắt xa xa, mùa lúa sắp tới nữa rồi, hương lúa thơm thoang thoảng đánh thức nhiều kỷ niệm. Rồi mùa nước lên, ba cô cùng với mấy chú, các anh làm đăng, giăng lưới để thả tôm, nuôi cá trên đồng. Cảnh sống nông thôn là vậy, cần lao, miệt mài và bình yên.

            Cầm mảnh giấy anh gởi trên tay, Huệ thấy sao hôm nay từng bờ cây, ngọn cỏ, cánh đồng lúa đẹp tuyệt vời. Màu lúa vàng, lá còn hơi xanh trải dài, thỉnh thoảng lại rạt rào múa thành lượn sóng. Dưới làn nước trong xanh dưới kênh, ánh mắt cô như cười, long lanh trong nắng chiều dìu dịu.

                                                                                                        

                                                                                                                                       

           

           

 

 
     
  Thu Phương ( báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 
  • CHỊ DÂU (26/07/2013)
  • MIỀN ĐẤT LỞ. (13/10/2012)
  • Khi gió đông về (09/02/2012)
  • Hương tràm (17/01/2012)
  • Ký ức tuổi thơ (21/10/2010)
  • Dòng sông hoa tím (10/09/2010)
  • 1 


    Các bản tin Khác

    1 2 3 4 5 6 7 8 9 
     Bài mới cập nhật








  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)













  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |