Thứ Năm, ngày 22 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Truyện ngắn
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  31/03/2014  
  Mùa cúm núm thay lông  
 

Tôi gặp lão Tư cũng là nhờ cái duyên trong nghề nghiệp, rồi kết nhau làm bạn vong niên. Mấy chục năm trước, tôi từng dạy học ở xứ Gãy Cờ Đen này, nơi giao nhau của bốn dòng sông chảy vào lòng Đồng Tháp Mười để rửa phèn, thoát lũ; nuôi nấng từng cây lúa, hoa sen và mang tôm, kéo cá về đây, giúp người dân có điều kiện bám đất, giữ làng, rồi phát triển vươn lên cho đến bây giờ. Thời ấy, chuyện học sinh bỏ học như cơm bữa, nhất là vào mùa vụ thu hoạch. Ra ngoài đồng ruộng, đếm đầu học trò có khi còn nhiều hơn ở trong trường học. Nhưng theo chủ quan, nguyên nhân nghỉ học của đứa học trò ruột của mình- thằng Tủm kêu lão Tư bằng ông nội- thật hết sức kì cục. Tôi đang say sưa giảng bài thì có một lão già chạy giật một, giật hai, hổn hển đứng ngoài cửa lớp hỏi vọng vào:


 
 
 

Truyện ngắn:                                    

                                                                                                      Tác giả: Hồ Văn

            - Có phải lớp của thằng Tủm đang học không thầy?

- Tủm nào? Tôi ngạc nhiên hỏi, vì lớp tôi đang dạy và chủ nhiệm không có ai tên lạ như vậy.

- Í quên. Nó tên Nguyễn Trường Xuân.

            Hôm đám giỗ của lão Tư Gà Nước, thằng Tủm có mời tôi. Nó đem ra khoe di ảnh thờ của ông nội nó. Công nhận là thời buổi công nghệ hiện đại có khác, mọi thứ đều có thể làm theo ý thích của con người. Cái miệng méo xệch một bên, cười mà như mếu do bị liệt dây thần kinh số bảy ngoại biên của lão Tư được chỉnh lại trông thật móm duyên. Cái đầu niểng qua bên phải, cứ giật giật, rươn rướn cổ khi nói chuyện được sửa lại ngay ngắn. Trông lão ở trong hình có thần sắc lắm, giống ảnh mấy anh hùng quân đội, đôi mắt sáng ngời, đầy vẻ tự tin, chứ không khắc khổ như ở ngoài đời. Lưng của lão khom khom, hai bả vai gù gù nhô lên như hai cánh của con chim cánh cụt. Nhớ ngày đầu tiên gặp lão, tôi không khỏi ngạc nhiên, giật mình thầm nói: “Sao tướng của ông này quá giống con cúm núm, chỉ khác là thiếu cái mỏ dài và nhọn”.

Tôi gặp lão Tư cũng là nhờ cái duyên trong nghề nghiệp, rồi kết nhau làm bạn vong niên. Mấy chục năm trước, tôi từng dạy học ở xứ Gãy Cờ Đen này, nơi giao nhau của bốn dòng sông chảy vào lòng Đồng Tháp Mười để rửa phèn, thoát lũ; nuôi nấng từng cây lúa, hoa sen và mang tôm, kéo cá về đây, giúp người dân có điều kiện bám đất, giữ làng, rồi phát triển vươn lên cho đến bây giờ. Thời ấy, chuyện học sinh bỏ học như cơm bữa, nhất là vào mùa vụ thu hoạch. Ra ngoài đồng ruộng, đếm đầu học trò có khi còn nhiều hơn ở trong trường học. Nhưng theo chủ quan, nguyên nhân nghỉ học của đứa học trò ruột của mình- thằng Tủm kêu lão Tư bằng ông nội- thật hết sức kì cục. Tôi đang say sưa giảng bài thì có một lão già chạy giật một, giật hai, hổn hển đứng ngoài cửa lớp hỏi vọng vào:

- Có phải lớp của thằng Tủm đang học không thầy?

- Tủm nào? Tôi ngạc nhiên hỏi, vì lớp tôi đang dạy và chủ nhiệm không có ai tên lạ như vậy.

- Í quên. Nó tên Nguyễn Trường Xuân.

- Dạ đúng ạ.

- Nhờ thầy cho nó nghỉ vài bữa nghen. Bà nội nó bệnh nặng, hấp hối rồi. Tủm mau về con, chuẩn bị đồ lên Sài Gòn gấp.

- Hả, trời. Bạn Tủm…T..ủ..m..u..m…

Cả lớp làm một cái rần. Một vài đứa còn nhanh miệng lao nhao, xầm xì: “Thằng Xuân ở nhà tên Tủm nghe mắc cười quá. Ông nội nó đó hả bây. Sao nhìn thấy ớn quá…”. Tôi nghiêm giọng để chấn chỉnh thái độ không nghiêm túc của mấy đứa học trò. Thằng Tủm đỏ mặt, cuốn nhanh tập vở, vội vàng ra khỏi lớp đi một nước một. Hơn tuần sau không thấy nó quay lại học. Chắc tại nó mắc cỡ vì cái tên cúng cơm xấu xí, hay là mặc cảm với hình dạng dị hợm người không ra người, chim không ra chim của ông nội nó.

Nhờ đứa học trò trong lớp rành đường chống xuồng đưa tôi ra nơi ở của lão Tư. Nó nằm choi loi giữa đồng nước bao la. Nhìn từ xa giống như một lô cốt được bao bọc bởi những rặng trâm bầu, gáo, tre, sậy, đế... Bấy giờ đang mùa nước nổi nên có những giề lục bình tấp vào rồi sinh sôi nẩy nở, trổ hoa tím biếc, dập dềnh theo sóng nước, trông rất mộng mơ. Đứa học trò này từng giăng câu, lưới, đặt lợp ở gần đây nên biết rõ ngõ vào. Chứ còn tôi thì cứ chống vòng vòng đến chiều cũng không có đường vô, mà nếu ra cũng không ra được. Thấy thầy của nó trầm tư, say sưa ngắm nhìn cảnh vật, đứa học trò nói chêm vào như mấy hướng viên du lịch: “Mùa nước, ở chỗ này là thế; còn mùa khô thì mọc đầy những dây leo, nở đầy hoa dại. Nó còn tạo ra những dãy rào thực vật bao quanh khu vườn của ông Tư, huyền bí vô cùng”. Chỗ ở của lão Tư nhà không thể gọi là nhà, chòi thì lớn và kiên cố hơn chòi, trên một gò đất chỉ cao lấp xấp so với mặt nước lũ. Nhưng được cái là mát mẻ, rợp bóng cây che, rộn ràng những tiếng chim đặc trưng ở Tháp Mười kêu the thé.

Xuồng đã chống rướn lên bờ đất nhưng không thấy lão Tư đâu cả. Nghe tiếng  động và hơi người lạ, vài ba con cúm núm đang đứng ở mấy giề cỏ lặn xuống nước mất hút; bầy cò trắng trên cành cây dáo dác, bay tán loạn đi tìm chỗ đậu mới. Đứa học trò nhảy lên bờ, lấy dây cột xuồng, gọi khe khẽ:

- Ông Tư ơi, có thầy đến tìm, để vận động thằng Tủm đi học lại nè. Ông Tư ơi..ơ..i…

- Kêu thầy về đi. Tui cho thằng Tủm nghỉ học luôn rồi. Nhà tui nghèo lắm. Hỏng có tiền cho nó đi học đâu. Nó học yếu xìu hà. Ở nhà giúp tôi giăng lưới, giăng câu, giữ chim cò còn có nghĩa hơn đi học.

            Trời đất. Lão Tư đang nằm thừ lừ trên chiếc võng, mặc độc cái quần đái nem ngả màu phèn, hai ống quần xoăn bên cao, bên thấp để lộ khúc ống quyển dài thượt, lưng quần cột thêm mấy cọng dây đế. Ông trả lời bằng cái giọng rầu rầu tỏ ý không thèm tiếp chúng tôi. Vốn quá quen với tình cảnh này, lại được trang bị kiến thức bài bản, tôi ngồi trên sạp tre cứ “ca” mãi về chủ trương, lợi ích của việc học, về cái tình, cái nghĩa của thầy cô, bè bạn trong lớp đối với từng đứa học trò, đặc biệt là thằng Tủm vừa học giỏi lại ngoan hiền. Lão chịu không thấu nên bật dậy vớ lấy cái khăn rằn chít lên đầu, kêu đứa học trò ra bắt mấy con cá lóc đang “rộng” lên nướng trui để lai rai với thầy.

            Từ đầu câu chuyện, không thấy lão nhắc đến thằng Tủm, mà cũng chẳng thấy nó ở đây. Rượu vào ba mớ, tôi hỏi lão:

- Cháu nội ông đi đâu rồi sao không thấy?

- Nó bỏ tui đi luôn rồi thầy ơi.

            Tiếng “ơi” của lão Tư kéo dài kèm trong tiếng nấc. Lão khóc hu hu. Lần đầu tiên tôi thấy lão khóc. Lão khóc mà như cười. Lão khóc có nhiều nếp nhăn hơn, cái đầu càng niểng, cái miệng càng méo, cái cổ rướn ra, đôi vai run rút lại. Tôi thấy lão khóc như mấy thằng hề trên sân khấu, cố biểu lộ cử chỉ điệu bộ cho khán giả được một trận cười bể bụng, chỉ có khác là nước mắt, nước mũi của lão cứ trào ra lênh láng như nước lũ miền Tây. Chắc có sự tình gì đây nên lão mới như thế. Gặng hỏi mãi, lão mới lấy khăn lau nước mắt, nhắc lại cuộc đời của thằng Tủm.

            Thằng Tủm chỉ là cháu nuôi của lão Tư. Sau giải phóng, người dân xứ này đã thấy lão sống cô độc trong một mảnh ruộng vườn rộng lớn nằm hiu quạnh, lẻ loi giữa đồng trống bao la. Năm ấy là năm Thìn, mùa nước nổi, có đôi vợ chồng trẻ chống xuồng đi ngang qua nơi lão Tư ở, do không rành đường nên bị lọt vào mạch nước chảy xiết. Bỗng trời đất nổi gió mưa giông, mây đen ùn ùn kéo đến, nước trút ào ào, chiếc xuồng của đôi vợ chồng trẻ chao đảo xoay tròn theo cơn lũ cuốn. Người vợ đang ôm đứa con mới sáu bảy tháng tuổi vớ lấy cây dầm để chèo chống tiếp chồng. Tự dưng thấy trong dạ bồn chồn, lão Tư lấy tấm ni lông che lên đầu, chống xuồng ra chỗ dòng nước chảy xiết. Lão nghe một cái “tủm” kèm theo tiếng kêu thất thanh, gào thét trong gió mưa: “Trời ơi, con mình rớt xuống nước rồi. Trời ơi. Con ơi..ơ.i…”. Lão quăng sào, bay xuống lặn vớt được thằng nhỏ giục đại lên chiếc xuồng của mình. Chưa kịp lấy hơi, lão quay tìm đôi vợ chồng trẻ thì chỉ còn thấy một bàn tay giơ lên yếu ớt, dần dần chìm rồi mất hẳn ở cuối dòng lũ. Dự định tiếp tục vớt tìm họ nhưng đứa bé khóc dữ quá, kìm nén nỗi xót xa, một tay ôm đứa bé vào lòng, một tay lão chống xuồng nhanh về đốt lửa sưởi ấm cho thằng nhỏ.

            Mưa tạnh. Cơn lũ dịu. Lão chống xuồng tìm xác đôi vợ chồng trẻ. Rồi xốc nọc cắm chéo, quấn thi hài họ trong mấy lớp ni lông treo lơ lửng trong rặng cây trâm bầu ở  vườn nhà lão. Chờ hết mùa nước nổi mới chôn xuống đất được. Thằng nhỏ đêm nào cũng khóc, nhất là lúc nó khát thèm sữa. Lão đốt đuốc, chống xuồng đưa nó ra nơi xác ba mẹ nó thì im ru. Đêm tĩnh mịt, mấy tiếng kêu của con cúm núm không át nổi tiếng rơi của những giọt ép từ xác người xuống mặt nước. Bầy cá nghe mùi tanh quẩy đuôi bâu lại rần rần. “Tủm…tỏn…tụt…tụt…tủm…tủm…”. Thấy thằng nhỏ khoái âm thanh này một cách kì lạ, nên lão Tư đặt đại cho nó một cái tên cúng cơm: “Tủm”.

            Thằng Tủm lớn lên trong sự nuôi nấng thương yêu của lão Tư. Đến tuổi đi học, gia đình ruột thịt của nó ở Sài Gòn mới tìm xuống để nhận hài cốt ba mẹ nó mang về chôn cất ở quê nhà. Thấy cuộc sống nơi đây vất vả, thiếu thốn, nhà cửa, trường lớp tạm bợ, họ năn nỉ lão Tư xin cho thằng Tủm về thành phố để được sống và học tập đàng hoàng. Lão Tư nén lòng chấp nhận nhưng thằng Tủm nhất quyết sống với ông nội nuôi của nó.

- Nghĩa tử là nghĩa tận, hôm hay tin bà nội ruột của nó hấp hối và qua đời, tôi tức tốc đưa nó về trển, rồi bị bà con dòng họ bắt ở lại. Tôi biết làm sao đây?

- Lão yên chí đi. Rồi nó cũng về với lão cho mà coi. Cái xứ này có sức hút kỳ diệu lắm.  

Tôi cố an ủi và chia tay lão Tư khi mặt trời chỉ còn cách mặt nước mùa lũ khoảng một sào. Ánh nắng chiều chếch choáng, ngả màu giống như sắc đỏ ngầu trên gương mặt của những người chưa từng biết đến mùi rượu nhưng bị ép uống vài ly. Xa xa tiếng con cúm núm vọng vang để gọi bạn, tìm bầy.

                                                                      ***

            Trời đất sinh ra mỗi loài vốn bình đẳng nhau, đều có sức hút và vẻ đẹp riêng, luôn khát khao được sinh tồn và mơ ước tự do, để được vẫy vùng cho thỏa một kiếp đời. Thế nhưng, đối với lão Tư lại khác. Gọi lão là Tư Gà Nước thì ổng thích thú, tự hào, huyên thuyên bắt chuyện. Nhưng nếu ai kêu Tư Cúm Núm là lão im re, mặt đanh lại. Gặp mấy đứa con nít ở trong xóm là đụng thứ gì ổng phang thứ ấy, có dầm phang dầm, có sào phang sào, có củi phang củi. Còn kẹt kẹt ổng móc mấy cục đất sình dẻo nhẹo liệng túi bụi, làm tụi nó chạy vắt chân lên cổ. Con Gà Nước với Cúm Núm tuy hai mà là một, thuộc lớp chim sống lưỡng cư. Chỉ khác nhau cái danh xưng để gọi tên thôi mà.

            Từ ngày quen thân với lão Tư, chưa bao giờ lão đãi tôi ăn thịt cúm núm, hay nhã ý biếu tặng nhân dịp tết nhứt hay lễ lộc. Nơi ở của lão, cúm núm nhiều hơn các loài chim khác. Tụi nó thích thì sống, còn không thì cứ bay đi. Vào mùa thay lông, sau kỳ sinh đẻ đau đớn, ở trong khu vườn của lão, tụi nó cảm thấy an toàn nhất. Theo cách suy nghĩ chất phác của lão Tư, “cúm núm” gợi cho người ta sự cô độc, lẻ loi. Nó có một chút gì đó rụt rè, mặc cảm. Ai mà nhắc đến hai tiếng đó giống như họ đang chê bai, chế giễu về lão và khiến cho lão nhớ lại một đời đau khổ, ẩn chứa nhiều uẩn khúc của mình. Lão thương yêu thằng Tủm vô hạn, bởi ngoài nó ra lão không còn ai thân quen, nhưng điều quan trọng hơn là hoàn cảnh của nó cũng côi cút, run rút như mấy con cúm núm ở cái xứ heo hút này.

             Gần với lão Tư, lúc đầu tôi thấy tánh tình của lão hơi kỳ kỳ, có chút dị hợm khác thường. Đang ngồi nói chuyện vui vẻ, nghe ngoài đồng tiếng con cúm núm kêu, tự dưng lão nổi quạu, chửi khơi khơi:

- Má nó. Chúng nó ác lắm. Ác còn hơn mấy thằng giặc Mỹ nữa. Tao nói với mấy con chim rồi mà có đứa nào nghe đâu, không chịu sống ở đây. Bị tụi nó dụ. Giỏi thằng nào vô vườn tao bắt đi. Tao đánh má nó nhận không ra, chống xuồng không kịp.

            Nhưng có lúc tôi thấy lão Tư có nhiều điều hay lắm. Lão chỉ nghe tiếng kêu của con cúm núm là biết nó đang gặp nạn, hay đang vui sướng kêu gọi bạn tình. Có đêm gần như tôi thức trắng với lão, nghe tiếng chim quê mà lòng ngập tràn bao nỗi nhớ cố hương. Những khi ấy lão say sưa giảng giải: “Hai tiếng kêu của tụi gà nước mới vọng lại là được phát ra từ máy thu âm; còn tiếng kêu ở xéo xéo vườn nhà mình là tiếng chim mồi của mấy thằng gác chim. Thầy nghe kỹ đi, nó khác hoàn toàn so với tiếng kêu của mấy con gà nước ở trong vườn…”. Tôi gần như thiền định, tập trung tinh thần để phân biệt âm vang trong từng tiếng kêu của chúng nhưng đành bất lực và bỏ cuộc giữa chừng. Con người còn thế, huống hồ chúng nó cũng chỉ là loài chim.

Lão Tư ghét cay ghét đắng và thề không đội trời chung với tụi săn, bẫy cúm núm. Ngoài chuyện họ bắt mấy con chim tự đấu đá nhau để mình được hưởng lợi, bọn nó còn độc ác ở chỗ phát hiện ra những điểm yếu của loài chim này để tận diệt một cách không thương tiếc:

- Má nó. Chưa có ai nham hiểm như bọn chúng. Lựa lúc con gà nước thay lông mà rình bắt cho bằng được. Ác độc lắm thầy ạ!

            Lão Tư đang sừng sộ, nổi gân cổ chửi rủa, rồi hạ giọng trò chuyện với tôi về loài chim cúm núm này. Sau kỳ sinh nở, nó bắt đầy thay lông và trên cánh đồng vắng lặng tiếng kêu của chúng. Chắc nó biết nếu lúc này mà cất tiếng kêu vang thì người ta phát hiện, nó không thể bay xa, không thể lặn sâu và lâu. Bởi thân thể nó trụi lủi trụi lẳn và qua một thời gian đau đớn, hành xác, sức khỏe đã giảm sút đi nhiều. Giai đoạn này lại trùng khít với mùa nước nổi. Tụi săn bắt sau khi phát hiện bầy ổ cúm núm chỉ cần lấy cây sào gõ mạnh vào mạn xuồng. Tiếng “cụp, cụp,…” vang lên, bầy cúm núm chia nhau ba bốn hướng lặn trốn. Nhưng lặn tới đâu lên tim mẳn tới đó; cào cào, châu chấu trên mặt nước bay tán loạn. Nhìn cảnh tượng đó chẳng khác gì mấy so với cảnh bọn giặc Mỹ lùng sục, bắt bớ nhân dân vào mùa nước nổi của những năm chiến tranh leo thang ác liệt. Lặn cách khoảng năm sáu mét chúng tìm gốc cỏ, đế, sậy, bám vào. Chừng ba bốn phút sau, chịu không nổi, chúng phụt lên mặt nước, người bắt chim chỉ chờ sẵn vớt lên xuồng. Có con vì quá sợ hãi cố bám víu rồi bị mắc kẹt, chết ngộp ở dưới đó luôn, trông thảm thiết vô cùng.

            Tụi bẫy chim đứa nào cũng ghét lão Tư. Tới mùa cúm núm thay lông, lão bơi xuồng vòng vòng khu vườn của mình, khỏe thì chống xa hơn. Thấy chúng nó, lão chửi mắng, xua đuổi đi chỗ khác. Bằng không lão cứ ở đó la inh ỏi, lấy sào đập nước trắng xóa làm đàn cá tôm chạy rần rần, đầu sào còn lại cột cái khăn rằn dứ dứ lên trời như ra tín hiệu cho ai đó. Lão tìm được con cúm núm nào thì vớt lên xuồng mang về nhà. Càng ngày, tôi thấy bầy cúm núm trong khu vườn nhà lão càng đông đúc và rất khôn ngoan. Hình như nó đã hiểu được tâm ý và việc làm cao cả của lão. Khi màn đêm buông xuống, cạm bẫy chực chờ tầng tầng, lớp lớp, bao phủ khu vườn của lão Tư, nhưng tôi ít thấy con nào bay từ hướng vườn ra. Tụi bẫy chim từ xa nhận ra dáng lão Tư đã vội vàng “cuốn gói”, chống sào bỏ đi vì không thể làm ăn gì được, rồi lầm rầm chửi rủa: “Lão già này bị chạm mạch rồi. Vừa xấu xí vừa ba lơn, ăn không ngồi rồi mà lo chuyện thiên hạ. Cầu cho ông trúng gió chết phứt cho xong”.

              Tôi ít thấy lão Tư bệnh dù hình dạng bên ngoài như người bệnh. Những năm lũ lụt triền miên, mưa bão dữ dội, nước ngày một dâng cao. Chỗ ở của lão bị nhấn chìm, phải dời lên bụi trâm bầu to nhất trong vườn. Thằng Tủm đi học phải ở nhờ khu tập thể giáo viên cùng chỗ tôi. Lão sống thui thủi một mình. Ủy ban xã cử đoàn ra vận động, để di dời vào gò đất cao ráo gần cụm dân trong làng nhưng lão nhất quyết không đi. Lão tâm sự với tôi rằng:

- Đi rồi ai lo cho tụi gà nước. Mà thầy thấy đó, sức khỏe của tôi tràn trề. Tụi nó đừng xem thường tôi. Mấy đứa trẻ con sống sau hòa bình, chưa hiểu thằng Tư này nhiều đâu.

            Lão Tư đang nói lại chĩa sang mấy anh cán bộ xã. Từ ngày mà họ chối từ không chịu làm giấy khai sanh cho thằng Tủm vì cho rằng lí lịch không rõ ràng, lão hay nói bóng nói gió như vậy. Gần nửa tháng sau ngày bà nội thằng Tủm mất, gia đình nó phải đưa thằng Tủm xuống để sống với lão Tư. Ở trển nó cứ khóc hoài, ngày đêm giựt một, giựt hai đòi về lại Tháp Mười. Sẵn tiện họ đã làm xong giấy khai sanh cho thằng nhỏ.

            Thằng Tủm có tên họ đàng hoàng, nhưng tôi vẫn cứ thích kêu nó bằng cái tên mà ông nội nuôi của nó thường gọi. Bởi tôi quý nó như con của mình. Nó thừa hưởng cái gen di truyền của người thành phố và ảnh hưởng cái tính khí ngang ngạnh, nghĩa hiệp nhưng cần cù chất phác của lão Tư nên học giỏi một cách kì lạ. Cả cái xứ Gãy này ngạc nhiên, vui mừng và hãnh diện khi nghe nó đậu đại học. Mà đậu ở trường xịn, chất lượng: Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh. Hôm báo tin cho lão Tư biết, lão ôm chầm tôi khóc nức nở. Lần thứ hai tôi thấy lão khóc. Nhưng lão khóc lần này vừa thể hiện niềm vui sướng, cũng vừa chứa đựng nỗi buồn vì biết là phải rời xa thằng Tủm một lần nữa.

Buổi tiễn đưa thằng Tủm lên Sài Gòn học, miệng thì cười nhưng cớ sao nước mắt của hai ông cháu và tôi cứ chảy mãi. Không phải vì lo sợ nó học không nổi, không có khả năng lo cho nó học hành đầy đủ (gia đình ruột thịt của nó ở thành phố), mà bởi vì nó dự cảm một cuộc chia ly vô thường của kiếp người. Thằng Tủm cứ nắm tay tôi dặn dò đủ thứ, nhờ tôi ở quê nhà thường xuyên đến thăm và coi sóc dùm ông nội, thấy ổng vậy đó chứ lúc này hay bệnh rề rề hoài hà. Nhưng nó đi rồi, tôi cũng thuyên chuyển công tác về quê. Mùa đông năm ấy lạnh lắm, lão Tư già bệnh lại sống có một mình nên chết cóng lúc nào không rõ. Hai ba ngày sau, tụi bẫy chim không thấy dáng lão, nghe mùi thui thúi trong gió thoảng nên đánh liều vô đại mới phát hiện. Bà con xứ Gãy chôn cất lão Tư gấp vì thân thể đã trương sình. Thằng Tủm hổng kịp về để nhìn mặt ông nội nó lần cuối.

***

            Thằng Tủm đưa di ảnh của lão Tư cho tôi xem rồi hỏi:

- Thầy thấy ông nội em trong hình như thế nào?

- Tụi Phô-tô-sốp bây giờ quá hay. Nhưng hình như đây không phải là người đã từng cứu vớt, nuôi nấng thương yêu, lo cho em ăn học thành tài mà thầy đã biết.

- Thầy nói đúng thiệt. Khi mang cái hình này về treo lên bàn thờ. Đêm đó em nằm mơ thấy ông nội hiện hồn về hỏi: “Mày treo cái ảnh của thằng nào lên bàn thờ tao vậy? Hay là tao vô lộn nhà người ta”. Em sợ quá, sáng hôm sau mang xuống cất vô tủ nên còn mới tinh như vầy.

- Linh dữ vậy sao?

- Thiệt đó. Trước đây khoảng một tuần, em tiếp tục vía thấy nội hỏi: “ Sao mày không tìm và mời thầy về tiệc tùng cho vui. Giỗ quảy tới nơi rồi con”. Mà thiệt, kiếm gặp thầy khó quá trời. Còn thầy cũng không một lần trở lại đây. Em nhờ mấy anh bạn làm ăn chung, tụi nó quan hệ rộng mới bắt được liên lạc với thầy.

- Thầy xin lỗi. Cuộc sống cứ hút vào đó, khiến cho con người ta trở nên vô cảm. Có lần gặp thằng bạn cũ từng dạy học ở đây nhưng chuyển về quê sau thầy, nó nói lão Tư chết rồi. Chết thảm lắm. Chết khúm núm, cô độc có một mình. Thầy muốn về lắm, nhưng lúc ấy đường xá, phương tiện khó khăn; công việc chất chồng, không rứt ra được. Hẳn rồi quên luôn.

- Ông nội và thầy trách em cũng không đúng. Khi mất ổng có để lại tấm hình nào đâu. Em nhớ sao, kêu tụi nó vẽ vậy, chỉnh sửa cho sáng sủa thêm.

- Sao hổng có. Đây nè!

            Thằng Tủm xúc động, tay run run nhận tấm ảnh thật và kỷ vật còn xót lại của lão Tư mà tôi còn lưu giữ được.

            Nhận được tin thằng Tủm mời đám giỗ, đêm đó tôi trằn trọc mãi. Lòng dạ bồn chồn, ray rứt không yên. Bao nhiêu kỷ niệm của những ngày dạy học ở Gãy cứ trỗi về. Tiếng cúm núm kêu đêm âm âm trong tiềm thức. Tôi sực nhớ, lục lạo và tìm lại được quyển sổ nhỏ mà lão Tư trao cho tôi trong lần cuối cùng ở Gãy, đêm cuối cùng rồi chia xa vĩnh viễn. Tôi nhét đại vào rương sách, giáo án rồi quên mất tiêu. Nét chữ của lão ngoằn ngoèo, uốn éo, ghi chép vắn tắt những tâm sự và cuộc đời đầy trắc ẩn của mình, trong đó có kẹp một tấm ảnh chụp đờ-mi trắng đen, tuy đã ngả vàng nhưng vẫn còn rõ nét.

            Sau trận bom hôm ấy và những lần hành hạ, khảo tra, đánh đập dã man của địch ở trong tù làm cho thân thể lão Tư trở nên biến dạng. Gốc lão ở miền Trung, theo dòng họ vào Tháp Mười lập nghiệp từ thời chống Pháp, rồi tham gia hoạt động cách mạng. Những năm đầu của thập niên 60, chiến dịch tìm diệt của Mỹ-Ngụy ác liệt. Tổ chức chỉ đạo bằng mọi giá phải ém quân, bám vào dân, tiếp tục duy trì công cuộc chống giặc. Đây là giai đoạn điều lắng, củng cố lực lượng, chờ đợi thời cơ và sự chỉ đạo của tổ chức, không được tự ý đánh phá riêng lẻ, bởi lực lượng ta còn mỏng mà địch đang mạnh. Hôm ấy, giặc bất ngờ mở cuộc càng quét với ba bốn chiếc tàu bay, máy bay vào vùng mà chúng cho là bất hợp pháp. Lão Tư cùng ông Sáu với đứa con khoảng tám chín tuổi đang đi đồng nên không kịp ẩn trốn. Chúng phát hiện nên rà soát lại. Ông Sáu quăng đứa con của mình qua xuồng lão Tư bảo chống nhanh vào rặng trâm bầu, còn mình chống ngược lại để đánh lạc hướng, trong giờ phút nguy hiểm còn ráng dặn đồng đội: “không được tự ý nổ súng nghe không”. Thấy đám cỏ mồm rất lớn ở phía trước, ông xô xuồng rồi trầm mình ẩn nấp.

            Quan sát thấy xuồng, biết thế nào cũng có người, tụi nó rải ba bốn trái bom xung quanh. Thằng nhỏ sợ quá khóc rú lên. Lão Tư choáng váng, biết thế nào đồng đội mình cũng bị dính đạn. Thấy tụi nó bâu lại, máu trong người sôi lên, móc hai quả lựu đạn ném vào chúng. Khẩu AK bắn không còn một viên nào nhưng cũng chẳng nhằm nhò gì. Chúng muốn bắt sống lão và đứa nhỏ nên chơi trò mèo vờn chuột. Khi bị trói đẩy lên tàu bay, chạy qua chỗ ông Sáu đang lặn nấp, lão Tư đau đớn khi thấy xác đồng đội chết cứng trong tư thế co quắp lại, hai tay còn quấn chặt cọng cỏ mồm. Hình ảnh đó ám ảnh lão Tư, làm ông liên tưởng đến những con cúm núm đang mùa thay lông bị tụi săn bắt chim làm cho chết ngợp luôn dưới nước. Giặc đánh đập dã man nhưng lão Tư nhất quyết không khai báo thứ gì. Chúng đày lão ra nhà tù Côn Đảo. Lão vượt ngục trở về với thân thể bị biến dạng. Lão không bắt liên lạc lại với tổ chức, bởi  cảm thấy mình có lỗi với người bạn đã hy sinh, với đồng đội và Tổ quốc. Họ hàng thân thuộc vì chiến tranh ác liệt, cộng thêm vùng đất này phèn chua, nắng cháy nên cũng chuyển đi nơi khác lập nghiệp. Buồn tình, lão chọn cách sống bí hiểm, ngày đêm làm bạn với tụi cúm núm đồng quê.

***

            Công ty của thằng Tủm ăn nên làm ra, lại mở thêm dịch vụ thu mua lúa trực tiếp từ dân, không thông qua bất cứ trung gian nào. Để thể hiện lòng biết ơn của mình đối với người không có công sinh thành, mà có công dưỡng dục, nó tổ chức đám giỗ lão Tư thật linh đình. Có khách huyện, tỉnh trong và ngoài địa phương tham dự, vừa để chúc mừng, vừa học hỏi kinh nghiệm để nhân rộng mô hình.

            Tuy là cháu nuôi nhưng tánh tình thằng Tủm giống hệt ông nội nó. Sau khi tốt nghiệp ra trường ngành Bảo vệ thực vật, họ hàng ruột thịt bảo đổi nghề rồi sống hẳn ở trển luôn. Nó nhất quyết về lại nơi mà nó lớn lên để lập nghiệp, để còn nhang khói mồ mả cho lão Tư. Những năm đầu, thằng Tủm làm việc cho nhà nước, nhưng máu hào phóng, trượng nghĩa trong người của nó cứ sục sôi mãi. Hôm đi công tác xuống địa phương, thấy dân than là mỗi mùa vụ nào cũng đều bị tụi máy móc lợi dụng thời cơ khan hiếm người làm, vòi vĩnh tăng thêm tiền; chê đất lởm chởm, đất xa sông, đường khó đi hao nhiên liệu, lúa sập, ngập nước. Nếu không cho thêm tiền, chúng chở máy về, mặc cho người làm ruộng kêu trời trách đất vì không xuống vụ hay thu hoạch được, mà giống muốn ra cây, thời hạn trả lãi ngân hàng đã tới. Lúa thóc làm xong phải thông qua mấy thằng “cò” mới bán được, đến nỗi thả vịt vô ruộng cho ăn cũng phải có “cò”. Thằng Tủm nổi xung thiên, thẩy cái cặp xuống bờ ruộng, giơ tay lên trời giống như mấy anh hùng trong truyện kiếm hiệp ăn thề, dõng dạc nói: “Tao là cháu nội ông Tư Gà Nước nè. “Cò” tụi bây gặp “Cúm núm” rồi”.

            Nói xong nó về nộp đơn xin nghỉ làm nhà nước. Nhờ bạn bè thân quen những ngày học ở thành phố tư vấn lập dự án mở công ty riêng. Lúc đầu khó khăn thì liên kết tổ hợp tác, sau vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô. Máy cày, máy gặt đập liên hợp dần dần tăng lên bốn năm chục cái. Nhân công của công ty lên đến bốn năm trăm người lúc mùa thu hoạch rộ. Nó còn thành lập nghiệp đoàn, thuyền “căn tin” di động phục vụ trực tiếp cho đoàn viên và người làm ruộng, cứ ăn uống thoải mái, hết mùa lãnh lương mới tính “sổ”.

            Bữa đám giỗ lão Tư có một vị khách về hưu trạc tuổi tôi, nghe giới thiệu là thời trẻ từng kinh qua những chức vụ lớn trong nhà nước ở Long An sang dự. Nhìn lên bàn thờ ông nội của thằng Tủm thấy di ảnh của lão Tư, ông ta sung sướng la làng:

- Trời ơi, đây là người bạn chiến đấu của ba tôi mà. Sau khi bị giặc bắt rồi bác ấy mất tung tích luôn.

- Nói vậy, anh là đứa bé bị bắt cùng với bác Tư trong trận càn năm ấy-Tôi hỏi.

- Sao thầy biết hay vậy. Chúng bắt tôi cùng với bác ấy lên tàu bay rồi chở về ấp chiến lược gọi má tôi ra ngoài đồng vớt xác chồng về. Má tôi lúc đó chỉ biết ôm mặt khóc, chạy như người điên nhờ bà con đầu trên xóm dưới giúp đỡ. Tụi nó thấy tôi còn nhỏ nên thả. Tôi lớn lên rồi thoát ly tham gia cách mạng. Sau ngày hòa bình, tôi có trở lại đây mấy lần, nhưng nghe nói toàn bộ gia đình của bác ấy đã chuyển đi nơi khác. Rồi xứ Gãy này một phần phân ra tỉnh Long An, phần còn lại thuộc tỉnh Đồng Tháp. Do hết chuyển công tác này, sang làm công tác khác nên tôi không tiếp tục tìm kiếm. À, mà ba tôi được công nhận liệt sỹ rồi, còn bác ấy ra sao?

            Thằng Tủm ngồi chung im lặng lắng nghe. Nó liếc sang tôi bằng ánh nhìn rươm rướm lệ, ngầm khẩn cầu tôi kể về cuộc đời của ông nội nuôi của nó. Kể xong. Tôi nhận định một câu:

- Lão Tư sống mà có thanh thản được đâu. Sống run rút trong sự dằn vặt lương tâm và những ám ảnh về cái chết của đồng đội. Sống còn thua chết…

- Chiến tranh là thế đó thầy ạ. Nhưng cũng còn tùy thuộc vào góc nhìn. Đất nước mình đã hòa bình từ lâu, cần phải có những cái nhìn cảm thông nhau. Nếu là tôi, trong hoàn cảnh đó, tôi cũng phải làm như thế. Thôi được rồi, ngày mai thầy nán lại cùng tôi, liên hệ với địa phương để làm hồ sơ, phục hồi lại những gì mà bác ấy đáng nhận.

            Liếc nhìn lên bàn thờ của lão Tư, tôi không khỏi giật mình: Di ảnh của lão Tư được phục hồi  qua trí nhớ của thằng Tủm không khác gì mấy so với tấm ảnh nhỏ của lão gởi cho tôi cất giữ.

            Màn đêm vừa buông xuống, chợ quê chìm trong tĩnh lặng. Mờ mờ trong sương khói, lù lù chiếc cầu bê-tông đang bắc qua sông như con tàu lướt trên sóng lúa bạt ngàn. Lâu lắm rồi mới về lại xứ Gãy nên tôi không thể ngủ được, thằng Tủm cũng thức theo. Nhớ lại ngày nào, mùa nước nổi, nó sống cùng tôi trong căn nhà ọp ẹp, cất tạm bằng mấy cây tràm với mái lá đơn sơ, mà giờ đây tóc tôi đã bạc màu sương tuyết, còn nó cũng gần bốn chục tuổi rồi. Bất chợt tôi hỏi:

- Em bây giờ đã lớn, lại làm giám đốc công ty, chắc mai mốt thầy sẽ không gọi tên em là Tủm nữa.

- Sao được thầy. À, nhớ lúc làm bia mộ cho ông nội, quên mở ngoặc, đóng ngoặc chú thích thêm tên của ổng phía dưới: Tư Gà Nước, em nằm mơ thấy nội về trách móc hoài. Đổi tấm bia khác mới yên ổn.

- Em nói chuyện tâm linh nghe phát ớn.

- Thiệt đó. Thầy tin hay không tin thì thôi. Thay đổi để phát triển. Nhưng thay đổi không đồng nghĩa với quên đi nguồn cội.

            Tôi mừng vui vì thấy đứa học trò của mình đã thật sự lớn khôn trong từng suy nghĩ lẫn việc làm. Cũng như tôi đã từng tâm sự với lão Tư: Cúm núm thay lông để trưởng thành, để sinh sôi nẩy nở, dù biết rằng đây là thời kì đau khổ, mất mát và hiểm nguy nhất. Nhưng đó là cuộc sống, là quy luật của tự nhiên.

            Từ xa vọng lại nhiều tiếng kêu của con cúm núm. Cho đến giờ tôi cũng chưa học được cách nhận biết sự khác nhau trong từng âm thanh của loài chim này như lão Tư, nhưng tôi có thể khẳng định rằng: tiếng kêu của mấy con cúm núm kia là giả. Bởi vì bây giờ đang độ: mùa cúm núm thay lông./.

                                                                                         Tháp Mười, tháng 9/2013

                                                                                           

               

 

 

 

 
     
  Cộng tác viên ( báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

1 2 3 4 5 6 7 8 9 
 Bài mới cập nhật



  • TRANG THƠ VNĐT (16/11/2018)




  • SỐNG VỚI ĐAM MÊ (16/11/2018)











  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)



  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |