Thứ Ba, ngày 25 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Truyện ngắn
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  17/07/2014  
  BÒ KHÓC  
  Thiệt ra, còn một nguyên nhân nữa khiến thằng Ngà bỏ nghiệp giáo. Không biết nghe ai xúi giục, mấy đứa học trò cá biệt ở trong trường hễ gặp nó là bè nhau: “Thầy giáo cho bằng, thầy giáo cho bằng…”. Lúc đầu, nó nghĩ từ khi mình dạy học đến giờ có đối xử không công bằng với ai đâu mà sao tụi học trò nói vậy. Chăn bò mà giờ trở thành thầy giáo là một sự thành công mỹ mãn, đáng tự hào. Nhưng không hiểu sao đối với thằng Ngà lúc ấy xem như là một sự sỉ nhục. Vả lại, thầy giáo cũng là một nghệ sỹ trên bục giảng. Chắc thằng Ngà muốn biểu diễn ở sân khấu rộng lớn hơn. Lúc tiễn nó lên Sài Gòn, lão Tư tự dưng xếp đàn, không thèm hát, kể cho nó nghe một câu chuyện: Ở xóm trên, con Thuý cháu bà Sáu Móm, đi nước ngoài dìa bày đặt toàn nói “tiếng Anh, tiếng chị” với mọi người. Hôm đó nó mặc bộ đồ màu đỏ, mang giày cao gót ẹo qua ẹo lại ngang xóm mình. Hỏng biết có con bò của ai xổng chuồng, khịt khịt mũi, giương sừng, xông lên định chém. Con nhỏ quýnh quáng la làng: “Trời ơi, bò rượt tui kìa. Bà con ơi cứu, cứu, cứu…!”. Sao hông giỏi lúc đó nó nói “tiếng em, tiếng Anh” gì đó đi. Rồi lão quay sang thằng Ngà nhắc khéo: Đừng chối bỏ quá khứ, cội nguồn. Đó là nơi nuôi nấng dìu dắt ta nên người, giúp ta vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.  
 
 

Truyện ngắn:


                                                                                                              Hồ Văn

 

            - Đồ khốn nạn. Cái thứ phản chủ. Tao không thèm nhìn mặt mầy nữa đâu. Mầy có biết là mầy đã làm một việc động trời gì không? Đến đứa em gái của tao mầy cũng không từ. Ngu nè, sung nè. Chết đi, chết đi,… cút đi…i...i…

            Mỗi tiếng “chết đi” của thằng Ngà kèm theo một nắm đấm vào mặt của con bò. Nó đau đớn lắm nhưng không hề chống cự lại, nước miếng nước mũi chảy lòng thòng, ngốc đầu lên trời rồi gục xuống chịu đựng tiếp những cú đánh càng lúc càng mạnh của cậu chủ. Thằng Ngà giận quá mất khôn, chửi con bò là đồ ngu mà quên câu nói của ông bà: “Ngu như bò”, còn đánh đập, xua đuổi dã man. Nhưng nó làm sao bỏ đi cho được. Bởi có nhiều điều…, mà kẹt một nỗi là thằng Ngà đã nắm chặt dây mũi con bò, lôi đâu thì nó phải đi theo đó. Lấy dây dàm quăng lên cháng ba nhánh cây ô môi kế bên gò mả, treo xốc ngược mũi con bò lên trời, bỏ đói tới chiều luôn, thằng Ngà ngã phịch xuống đám cỏ một lúc thì bật ngồi dậy, hai tay bó gối, gục đầu khóc hu hu. Bụng nó sôi lên òng ọc nhưng không dám vô nhà ăn cơm, lòng lo sợ không biết con Ngọc, đứa em ruột của mình bây giờ ra sao, đã tỉnh lại hay chưa. Chết mất còn gì? Trước đây, trong xóm này nhiều người bị bò đá mất thở, bị bò đạp đến nỗi ruột gan phèo phổi lòi ra ngoài một đống, kinh khủng không thể nào diễn tả được. Thằng Ngà hoang mang, hết lo sợ chuyện này đến nghĩ ngợi chuyện khác. Trong khi đó con bò dường như biết mình có lỗi nên cứ đứng ngước mặt lên trời chịu trận, cổ họng ư ứ không rõ muốn nói gì. Ban đầu nó còn điều khiển cái đuôi xua mấy con ruồi, muỗi, mồng…lợi dụng cơ hội bâu vào hút máu, nhưng càng về sau thì sụi lơ cán cuốc.

***

            Nhắc đến con bò, thằng Ngà tức anh ách về cái chuyện cách đây mấy hôm. Ở trên xã người ta tổ chức thi tiếng hát hay vọng cổ vòng loại địa phương để lựa chọn nhân tài vào đội tài tử tham gia cấp tỉnh, nếu đạt sẽ ra tới tận thủ đô Hà Nội biểu diễn. Tưởng gì chớ chuyện hát ca thì bà con xóm này tin tưởng thằng Ngà lắm. Nó có khiếu trời cho từ trong bụng của má nó. Bà ấy không biết chữ nhưng mấy bản vắn dài gì đó thì thuộc làu làu, chỉ cần nghe một lần là nhớ suốt đời. Hồi nhỏ, ai ru gì nó cũng khóc, nhưng nếu làm một lớp Phụng hoàng trong vở Nửa đời hương phấn; hoặc lớp Tứ đại oán trong Lan và Điệp là nó ngủ khì. Lớn lên không cần đút đầu vô lu khạp luyện thanh như mấy nghệ sỹ chuyên nghiệp, vậy mà nó cất tiếng ca là cả làng đều nghe. Riết rồi quen, mỗi lần nó hứng lên hát vài câu vọng cổ, mọi hoạt động trong cái xóm nhỏ này như dừng chậm lại. Năng khiếu là một chuyện, nhưng năng khiếu mà không được sinh ra trong một môi trường thích hợp sẽ không phát triển thành tài năng. Giọng ca thằng Ngà mùi mẫn thâm kim, chinh phục được nhiều người phần lớn còn nhờ những năm tháng được ngồi trên lưng bò. Những lúc cưỡi bò cho ăn, giữa trời đất, đồng ruộng bao la, nó nổi hứng hát hết bài này tới bài khác. Hát không biết mệt. Con bò vừa gặm cỏ rào rào, vừa vểnh tai nghe, khoái đến nỗi bụng phình to, no nê hồi nào hỏng biết.

Vậy mà đêm đó, mới vừa xuống “cống” câu một, chờ hết mười sáu nhịp hát tiếp, nó nghe tiếng xì xầm bàn tán:

- Thằng này ở xóm nào mà hát hay quá vậy ta. Có triển vọng lắm nghen.

- Thằng giữ bò ở xéo xéo đồng mình đó.

- Nó hát hay hơn bò rống nhiều.

- Nói đủ vốn.

- Chăn bò sắp thành nghệ sỹ rồi. Mai mốt mượn nó khúc dây vàm tháo nhỏ ra thả diều chơi tụi bây hén.

- Chăn vịt, giữ bò gì ở chỗ này? Mấy thằng bay hát có bằng người ta không mà chọc ghẹo hoài. Im lặng cho nó còn biểu với diễn nữa chớ.

Vô mấy câu vọng cổ còn lại, thằng Ngà bị rớt ba bốn nhịp. Về xóm, bác Tư Đờn Cò chửi nó quá trời. Thằng Ngà gãi gãi đầu cười trừ. Chợt nhớ đến mấy lời chọc ghẹo của tụi trai xóm bên hồi tối, không biết đổ lỗi cho ai, tự dưng nó chuyển sang ghét cay ghét đắng con bò.

            Độ gần đây, con bò nhà thằng Ngà trở chứng, có biểu hiện ngang ngạch, bất thường. Đang gặm cỏ ngon lành, nghe tiếng “Ủm..bò…” ở đồng bên, nó ghì mạnh dây vàm cho trốc gốc mấy bụi sậy đế, nhổ gọn hơ cây nọc buộc bò rồi vừa chạy xồng xộc vừa “Ủm..bò…” vang vọng cả cánh đồng. Hôm đó, thằng Ngà vô nhà ăn cơm, để chắc ăn, nó buộc bò vào gốc gáo. Mới và hai ba đũa, gắp con cá bống kho tiêu chưa kịp đưa vào miệng thì bác Tư đi từ ngoài ruộng vô, tay chỉ ra đồng nói: “Mày buộc bò làm sao mà tao thấy nó chạy còng còng sang xóm bên kia rồi?”. Thằng Ngà vác cái bụng chứa ba bốn hột cơm, giữa trời nắng chang chang, đầu trần chưa kịp lấy nón đội, thất thần chạy kiếm con Vàng (lông con bò màu vàng). Bụng sôi lên ọt ọt, đầu nóng hầm hầm vì nắng và giận, nó nghiến răng ken két: “Vàng ơi là Vàng, mày ác vừa phải thôi chớ. Lần này về mày chết với tao!”.  Lâu lâu mới có được giây phút tự do, con Vàng vừa chạy vừa nhởn nhơ ngắm cảnh. Cách hơn ba chục mét nữa mới tới đích thì con bò bị thằng Ngà tóm được khúc vàm, đứt còn cỡ năm mét. Thằng Ngà quấn một vòng vào tay trái, còn tay phải trợ nắm vào dây giật, giật liên hồi cho con bò dừng lại. Nó quên đi nỗi đau đớn, kéo sền sệt cậu chủ của mình tiến gần đến sát con bò đực ở đồng bên. Thằng Ngà thấy con Vàng dùng mũi ngửi ngửi vào đùm dái của con bò phía trước, môi giật giật làm lộ nguyên hàm răng dưới, mắt lim dim, nước miếng chảy dãi ra. “Thằng nhỏ” của nó dưới bụng hăng hăng đỏ hói, ló dài khoảng hai tấc, sịt sịt ra một thứ nước hơi đục, có mùi tanh tanh. Hình như bị cụt hứng, cái đuôi con Vàng đang dảnh dảnh bỗng xịu xuống, rồi quay cái mặt ngu ngu, lấm la lấm lét về phía thằng Ngà. Trong lúc đó, con bò kia bất ngờ quay sừng lại húc mạnh vào cổ con Vàng. Nó giật mình, đau đớn nên nhảy cẫng lên, chạy hoảng, tiếp tục lôi cậu chủ của mình hơn trăm mét rồi mới ngoan ngoãn đứng yên.

            Dẫn con Vàng vô bóng mát. Thằng Ngà quên đi cái bụng đang đói meo, tay trái đau điếng, sưng tấy vì bị xiết bởi sợi dây vàm. Nó lấy bàn tay còn lại xoa xoa vào vết thương bị chém của con bò mà trong lòng đau xót lắm. Cũng gần đây thôi, thằng Ngà đang cỡi con Vàng cho ăn lúc chiều tối. Buồn buồn, nó rao lớp Nam ai trích trong vở Máu nhuộm sân chùa: “Sư phụ ơi, hơn hai mươi năm trời dạy dỗ, con đã phụ lòng thầy trong một phút, một giây. Áo nhà chùa con không còn giữ được thì…ui da. Trời ơi là trời…”, con bò nhảy cẩng lên, hất văng thằng Ngà xuống bờ đê. Nó chạy đuổi theo con bò của ông già mới dắt ngang qua, lấy mũi hĩnh hĩnh vào “cái hoa” thâm đen, thừ lừ đã nở to. Con Vàng định nhảy lên lấy hai chân trước ôm eo đã căng tròn của con bò cái thì thằng Ngà chạy kịp đến giật vàm ngăn cản.

- Thằng nhóc kia, giữ bò kiểu gì kì vậy mậy. Con cái của tao bị hư thai là mầy coi chừng đó.

            Thằng Ngà một tay cầm dây vàm, tay còn lại xoa xoa vào cái mông còn ê ẩm, mặt nhăn nhăn nói:

- Dạ cho con xin lỗi.

- Hỏng lỗi phải gì hết mầy. À, con bò này nhìn tướng tá sơ qua thấy tốt giống lắm. Còn mày mặt mũi sáng sủa coi cũng được, con nhà ai, có học hành đàng hoàng hông?

            Cũng tại con Vàng mà mình bị chửi, thằng Ngà đứng thinh, không thèm trả lời trả vốn nữa. Đi một đoạn lão ngoái lại, vừa nói lớn vừa lấy tay chỉ hướng:

- Giọng ca của mày mới hồi nãy nghe cũng có lý lắm. Rảnh rảnh nhớ dắt bò sang tao cho ăn rồi đàn hát chơi. Đó, nhà tao xéo xéo ở đó đó.

Sáng nay, ba thằng Ngà mới đánh mấy đường cày thì thả con Vàng cho ăn ở đám cỏ hoang cạnh chòm mả để đi đám giỗ ở xóm dưới. Ổng dặn kỹ má nó: “Trưa thằng Ngà về kêu nó dẫn bò vô mát để chiều còn cày tiếp nghen”. Nhưng thằng Ngà sau khi học xong không chịu về mà còn tấp vào nhà bác Tư để dượt lại mấy bài vọng cổ. Đợt rồi bị rớt một cách lãng xẹt nên nó tức lắm. Trời đã đứng bóng. Mẹ thằng Ngà thấy vậy kêu con Ngọc ra dắt bò. Bác Tám, anh ruột ba thằng Ngà, làm ruộng kế bên thấy con bò hôm nay sao là lạ. Nó nhúng hai chân trước lấy đà, nhảy cầng cẫng đi bằng hai chân sau ra vẻ sung sức lắm. Sau đó, nó chạy khoảng trên trăm mét so với chỗ cột bò đứng ngẩn ngơ, ngân dài: “Ủm…bò..ò..ò..” giống như thằng Ngà đang say sưa lên vọng cổ khi bắt chước lấy hơi Minh Cảnh. Mới thấy bóng con Ngọc đi ra giờ đã mất tiêu, biết có chuyện chẳng lành, bác chạy lại thì thấy nó nằm bất tỉnh dưới mương lạng: “Ôi, cháu tui, giúp với. Con Ngọc bị bò đạp chết giấc rồi…Trời ơi…cứu..cứu…”. Bà con ngoài đồng, trong xóm ùn ùn kéo lại. Từ trong nhà hổn hển chạy ra, má thằng Ngà thấy thân thể con Ngọc tím ngắt, mềm nhũn như bún thiu, vừa lay lay gọi dậy, than khóc thảm thiết: “Ba hồn chín vía con Ngọc về ăn cơm, ăn cá. Ba hồn chín vía mầy về ăn cá, ăn cơm Ngọc ơi…”. Tiếng gọi hồn tìm vía bay qua đồng cỏ hoang, xuyên ngang gò mả, tạt vào trong đục gặp rừng cây, âm thanh dội dội trở lại nghe rùng rợn, sởn gai óc. Gọi nhiều đến nỗi khi con Ngọc mới vừa mở mắt nhìn dáo dác thì tới lượt má thằng Ngà ngất lịm.

            Thằng Ngà rất nhiều phen muốn giận con bò của mình lắm. Nhưng càng nghĩ càng thương, rồi tha thứ cho nó. Con Vàng cũng giống như bao đứa con trai “bẻ gãy sừng bò” khác: có những lúc bất thường, nông nổi, buồn giận vu vơ.

            Ánh nắng chiều xuyên qua lỗ tai, cộng với hơi nóng bốc lên từ những giọt nước mắt, nước dãi ướt đầm chảy dài từ đầu gối cho tới háng làm thằng Ngà tỉnh giấc. Bụng đói, lòng miên man lo nghĩ nên nó thiếp đi trong tư thế ngồi hằng mấy tiếng đồng hồ. Còn trong trạng thái ngái ngủ, thằng Ngà liếc nhìn con Vàng, lấy tay dụi dụi mắt, không tin được dù đó là sự thật: từ khóe của đôi mắt to đen, lông mi dài mơ màng của con bò có hai dòng nước chảy tràn xuống cần cổ. Trời, con bò cũng biết khóc như con người. Lần đầu tiên trong đời thằng Ngà phát hiện ra điều đó. Nó liền bật dậy, dù lúc này thân thể đã rã rời, vội vàng tháo dây hạ mũi con bò. Con Vàng ư ứ, bốn chân ngã quỵ, nằm phịch xuống đất, đôi mắt nhắm nghiền, sùi bọt mép, làm một cái khì như kẻ bị tức thở ngất đi nhờ hô hấp nhân tạo mà tỉnh tuồng lại.

***

            Sau khi hoàn hồn, tỉnh vía, con Ngọc nói sang sảng khiến mọi người lo lắng. Bác Tám ẵm nó từ ngoài đồng vô nhà, nó cứ leo lẻo: “Bác ráng lo cho con đi. Mai mốt bác có em bé, con thương yêu, nuôi giữ nó như em ruột của mình vậy, nghen, nghen…nghen…”. Con Ngọc nói trúng phốc nỗi lòng khao khát của bác Tám, nhưng tiếng “nghen” được lặp đi lặp lại nhiều lần chứng tỏ tâm thần của nó đã có vấn đề.

            Bác Tám con Ngọc lập gia đình sớm, nhưng gần hai mươi năm chưa có được mụn con nào. Bà nội thằng Ngà đi xem bói bảo tại ngủ ở cái phòng đó bị “bà tổ cô” trong dòng họ quở, cần phải dời chỗ khác. Nội thằng Ngà ngẫm lại lời thầy phán thiệt đúng. Bà Ba em ruột ông nội thằng Ngà mới cưới nhau, ở trong căn phòng này, mấy bữa sau phải tiễn chồng đi tập kết ra Bắc. Bà ấy ở nhà sống âm thầm, lặng lẽ: tiết kiệm tiền bạc, dấu truyền đơn trong mấy ống tre của giàn trầu, chờ đợi chồng mỏi mòn mà bặt vô âm tín. Bà Ba mất đi trong nỗi cô đơn vì không có đứa con, cháu ruột nào trực ở quan tài. Trầu rụi, giàn sập người ta mới biết bà ấy đã từng tham gia hoạt động cách mạng. Rồi bà Sáu thằng Ngà, em út của ông nội nó, sanh mụ vườn nên bị băng huyết, hai mẹ con họ chỉ gặp nhau ở miền âm cảnh. Khủng khiếp nhất là cô Sáu, chị ruột ba thằng Ngà, đứa con đầu lòng chưa đầy tháng tuổi, không biết nghe ai xúi giục, cho uống thuốc xổ ruột. Thằng bé xanh xao vàng vọt, nổi mụt đỏ khắp mình rồi chết yểu. Bị gia đình rầy có vài câu, cô Sáu nó cảm thấy hối hận, quẫn trí, suốt ngày ôm gối, đưa võng hát ru; đêm đêm rên khóc trong phòng. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, cô ấy mất khi tuổi đời còn rất trẻ, mộ chôn phía sau hè.

            Đang đi làm ở Sài Gòn, ba thằng Ngà bắt về lấy vợ. Đêm động phòng hai vợ chồng gần như thức trắng. Nó mới vừa chợp mắt thì con vợ lay dậy:

- Anh ơi, hình như phòng này có ma. Em đang thiu thiu ngủ thì thấy bóng một người đàn bà ở trên vách, khi bật dậy lại không gặp ai.

- Làm gì có. Thời buổi này cũng có ma cỏ à? Ngủ đi em!

- Anh ơi, ma thiệt anh ơi. Em trở mình sang bên này, mới nhắm mắt, lại thấy bà ấy đang nhe răng cười, còn lấy hai tay nhá nhá vô em nữa. Nhưng bật đèn sáng thì mất tiêu.

            Thằng Ngà bắt đầu sởn gai ốc, nhưng ngoài mặt tỉnh bơ:

- Tại em mệt mỏi, vả lại chỗ lạ nên đầu óc chập chờn. Chứ có gì đâu mà sợ.

            Nói xong nó hôn vợ một cái “chụt”. Giả bộ ngáy khò khò nhưng đầu óc thằng Ngà bắt đầu nghĩ ngợi lung tung. Vợ nó nằm bên co rúm lại trong mền, hết trở mình bên này, lại chuyển bên khác. Căn phòng đèn mở sáng trưng.

            Sáng hôm sau, thằng Ngà viện cớ công việc bề bề, rồi kéo con vợ đi cùng để sống luôn ở thành phố. Ba thằng Ngà gương mặt đăm đăm không thèm nói năng chi. Má nó chỉ biết thở dài, nhắn nhủ vài lời: “Chừng nào vợ bây có bầu, về đây sanh. Tao nuôi giúp cho”. Lúc vợ chồng nó cụ bị khăn gói lên đường, mấy đứa em nó đã đi chơi ở hàng xóm, con Ngọc cũng mất tiêu. Thằng Ngà lặng lẽ ra đi, đâu biết rằng khi nó vừa quay lưng thì có bóng một người con gái thụt ló ở hàng rào me nước đang dõi mắt theo vợ chồng nó.

            Nghe lời má dặn, thằng Ngà đưa vợ về quê sanh con. Nhiều đêm liền vợ nó không sao ngủ được nên tinh thần bị suy nhược, thân thể ốm nhom ốm nhách, đứa bé phải uống sữa bình. Đang mê man, vợ nó thấy bóng người phụ nữ tóc xoả dài, che khuất nửa mặt, đứng kế bên giường nhìn chằm chằm vào thằng bé. Bật thức dậy thì không thấy ai. Có đêm, vía vợ nó còn thấy người đàn bà ấy với tay ôm đứa con thằng Ngà làm nó bật khóc: “Oa…oa…oa…”. Cái xóm nhỏ eo óc bị khuấy động bởi tiếng khóc đêm của đứa trẻ. Má thằng Ngà thức dậy thắp nhang quỳ trước bàn thờ tổ tiên, trong làn khói bay nghi ngút, lầm rầm khất vái: “…cầu nguyện bà tổ cô và cửu huyền thất tổ ông bà, phù hộ độ trì cho vợ con thằng Ngà được yên ổn, ngon giấc, ngày mai gia đình làm mâm cơm, hoa quả cúng trả lễ”.

- Không cầu. Không cúng gì cả nghe không. Sống chưa giúp ích gì cho gia đình này, chết còn quấy rối con cháu, dòng họ. Tao cho không siêu thoát được luôn.

            Nói rồi, ba thằng Ngà xách đèn xuống chái bếp, lục lạo tìm kiếm cái răng bừa mà ông còn giữ lại làm kỉ niệm khi con bò đã bán đi. Ổng không ngờ rằng có ngày mình sử dụng lại nó. Ba thằng Ngà một mình giữa đêm tanh vắng, ngọn đèn chỉ đủ soi sáng lối ông đi ra sau hè để đóng cái nọc bằng răng bừa lên chính giữa ngôi mộ đất lụp xụp của người chị thứ Sáu. Đầu búa thầu va vào nọc kêu khô khốc, lạnh lùng :“cộc…cộc…cốc..cốc…”; chắc nịch như tiếng mõ nhà sư đang gõ tụng bài kinh xua đuổi ma tà. Cánh con chim cú mèo bay hoảng, va đập loạn xạ vào lá cây, vọt đi nhưng còn để lại tiếng “Cú…ú...ú..” ngân dài rùng rợn. Mỗi nhát búa, ba thằng Ngà lầm bầm điều gì đó trong cổ họng. Tiếng khóc của đứa bé bỗng im bặt. Má thằng Ngà đứng như trời trồng bên cạnh mái hiên, tay bụp miệng, tay ôm ngực, nước mắt giàn dụa, nấc nghẹn. Trước khi ba thằng Ngà ra sau nhà, có một bóng đen bay vụt ngang phần mộ của cô Sáu nó.

***

            Sau sự cố của con Ngọc, ba thằng Ngà cấm không cho nó hát hò gì ráo trọi. Thằng Ngà làm hồ sơ thi vào trường Sân khấu 2, mong ước trở thành một nghệ sỹ cải lương thực thụ, được bộc lộ năng khiếu trời cho của mình với công chúng cả nước, chứ không phải nơi cái xóm nhỏ bé này. Nhưng ba nó bảo: “Cái nghề gì mà người ta ngủ thì họ lại thức, người ta thức thì họ lại ngủ, cho nên lộn xộn, lăng nhăng không giống ai. Vả lại con là anh cả, như cánh chim đầu đàn, “bay” có định hướng thì mấy đứa em mầy sau này mới noi theo. Tao quyết rồi. Mầy phải thi vô sư phạm”. Nghe lời ba, nó học và ra làm thầy giáo trường làng, dạy đâu khoảng vài tháng gì đó thì bỏ nghề lên thành phố. Thằng Ngà quyết chí vừa làm vừa đeo đuổi theo nghiệp ca cầm.

Thiệt ra, còn một nguyên nhân nữa khiến thằng Ngà bỏ nghiệp giáo. Không biết nghe ai xúi giục, mấy đứa học trò cá biệt ở trong trường hễ gặp nó là bè nhau: “Thầy giáo cho bằng, thầy giáo cho bằng…”. Lúc đầu, nó nghĩ từ khi mình dạy học đến giờ có đối xử không công bằng với ai đâu mà sao tụi học trò nói vậy. Chăn bò mà giờ trở thành thầy giáo là một sự thành công mỹ mãn, đáng tự hào. Nhưng không hiểu sao đối với thằng Ngà lúc ấy xem như là một sự sỉ nhục. Vả lại, thầy giáo cũng là một nghệ sỹ trên bục giảng. Chắc thằng Ngà muốn biểu diễn ở sân khấu rộng lớn hơn. Lúc tiễn nó lên Sài Gòn, lão Tư tự dưng xếp đàn, không thèm hát, kể cho nó nghe một câu chuyện: Ở xóm trên, con Thuý cháu bà Sáu Móm, đi nước ngoài dìa bày đặt toàn nói “tiếng Anh, tiếng chị” với mọi người. Hôm đó nó mặc bộ đồ màu đỏ, mang giày cao gót ẹo qua ẹo lại ngang xóm mình. Hỏng biết có con bò của ai xổng chuồng, khịt khịt mũi, giương sừng, xông lên định chém. Con nhỏ quýnh quáng la làng: “Trời ơi, bò rượt tui kìa. Bà con ơi cứu, cứu, cứu…!”. Sao hông giỏi lúc đó nó nói “tiếng em, tiếng Anh” gì đó đi. Rồi lão quay sang thằng Ngà nhắc khéo: Đừng chối bỏ quá khứ, cội nguồn. Đó là nơi nuôi nấng dìu dắt ta nên người, giúp ta vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.

            Biết nguyên nhân bỏ dạy của thằng Ngà, ba nó chửi xối xả: “Đồ cái thứ thả mồi bắt bóng. Nếu không có con bò thì gia đình mình có được như ngày hôm nay không? Biết vậy, hồi đó tao giữ con bò lại còn có ích hơn nuôi mày”. Nó im ru, không thể giải thích lời nào. Thằng Ngà ngẫm lại: đúng là con Vàng đến rồi đi qua gia đình nó trong sự lam lũ, cô đơn và bẽ bàng số kiếp nhưng nó vẫn âm thầm hy sinh, không hề than trách. Người ta cày ruộng có bạn, có đôi, bên con “dí”, bên con “thá”, còn ba thằng Ngà “dí thá” cũng chỉ mình con Vàng. Mặt dù là xứ Nam bộ, nhưng đất vùng này manh mún, nên công việc cày bừa theo kiểu ba nó gặp thuận tiện, nói hơi quá là rất đắt hàng. Con Vàng ngày nào cũng quần quật, có khi làm cả ban đêm vậy mà cứ phơi phới. Bởi vì chiều nào nó cũng được cậu chủ cỡi cho ăn, hát vọng cổ cho nó nghe. Bao nhiêu vất vả, mệt nhọc đều tan biến.

            Con Vàng của thằng Ngà bao lần quên đi nỗi đau đớn từ sợi dây xỏ mũi; sự chì chiết, mắng mỏ của cậu chủ; sự tủi nhục vì thân phận mình chỉ là kiếp bò đã bứt đứt sợi vàm trói buộc để đi tìm hạnh phúc riêng tư, nhưng bao lần đều lỗi nhịp. Lần đầu, con Vàng bị con bò đực xóm bên chém để lại vết thương nhớ đời trên cổ. Lần thứ hai gặp con bò cái đã có bầu. Và hết chỗ nói, lần cuối cùng, thằng Ngà suy đoán được là nó đã bộc lộ tình cảm với chính đứa em của mình. Con Ngọc cách thằng Ngà hai tuổi. Cơ thể nó chớm dậy thì, ngực mới nổi trái tràm. Thời ấy, tuổi teen khác bây giờ xa lắc, chẳng biết ăn dọn gì, mà con gái nông thôn biết gì làm đẹp, đầu tắt mặt tối ngoài đồng ruộng, về còn phải phụ giúp việc nhà. Da dẻ của con Ngọc mốc cời, lấm tấm vài đốm trắng bách. Đó không phải trắng do phấn kem mà bị mấy đám lang ben, lác biến hoành hành (hồi xưa trai gái thôn quê đến tuổi dậy thì thường bị bệnh ấy, qua giai đoạn tự động hết). Nhưng được cái, con Ngọc có được mái tóc xoã bờ vai hệt mẹ thằng Ngà, đôi mắt to, đen tròn ngơ ngác, lông mi dài chả thua gì mắt bò. Bọn con trai chơi chung trong xóm bắt đầu giữ ý tứ khi gần gũi với nó. Hôm con Ngọc ra dẫn bò vô mát, mới tháo sợi dàm thì con Vàng rống lên, nhảy cẫng cẫng giống như lần nó biểu hiện với con bò cái đã có thai. Con Ngọc hoảng sợ bỏ chạy nhưng quên buông sợi dây vàm. Thành thử, nó chạy hướng nào, con Vàng thích thú theo hướng đó. Nó vấp bờ đê, té xuống mương lạng, con bò buộc phải nhảy qua mương, chân trước khẽ chạm hờ để lại vết bầm trên ngực con Ngọc. Nếu cố tình, sức nặng như bò của con Vàng đã đạp banh phổi, nát ruột nó rồi.

            Ba thằng Ngà bán bò nhưng cứ tiếc hùi hụi. Không phải vì kiếm cớ trở chứng để làm thịt hoặc tống khứ con vật ra khỏi nhà như nhiều gia chủ khác, ông ấy cần một số tiền để lo cho thằng Ngà đi học sư phạm. Vả lại, thời hoàng kim của việc cày bừa bằng trâu bò đã qua, nhường chỗ cho tụi Ku-bo-ta (máy xới) đang xìn xịt lên hương. Dân xứ cồn bấy giờ trúng đậm liên tiếp mấy mùa mía nên tổ chức đám tiệc thường mua trâu bò về xẻ thịt. Không hiểu gì cái gì mà con Vàng không muốn dời chân, nó cứ khì khì trì lại, gương sừng định chém mấy thằng lái bò. Ba thằng Ngà dùng cái roi điều khiển cày bừa đập liên tục vào mông con bò, rồi phùng mang đỏ mắt la hét, nhưng nó vẫn đứng trân. Thằng Ngà thấy vậy, chạy lại cầm vàm, rủ rỉ điều gì đó vào lỗ tai con bò, leo lên lưng đưa tiễn nó đến bến đò. Con Vàng buồn bã rống dài thê thảm mấy tiếng, rồi lặng lẽ bước đi. Thằng Ngà bất chợt ngoái lại, thấy con Ngọc đứng bên hiên nhà, đôi mắt vô hồn dõi theo dáng con Vàng lần cuối.

            Sông Tiền vào mùa nước đổ, ngầu ngầu quánh đặc, cuồn cuộn đưa phù sa từ miền xa xôi nào đó về vùng đất này. Nếu không ai tiếp nhận, mặc tình, nó tiếp tục xuôi dòng trôi ra biển cả. Thằng Ngà đứng trên bờ, nhìn con đò ngang chở con Vàng từ từ rời bến. Nó cố nén bao niềm xúc cảm trong lòng, nhưng con bò rống dài mấy tiếng, khoé mắt tuôn trào, xối xả hai dòng lệ rơi. Thằng Ngà quấn cái nón đội đầu, rồi lấy đà quăng mạnh ra sông. Chiếc nón nhỏ bé kia phút chốc bị dòng nước cuốn phăng. Hai cánh tay huynh huynh, cái đầu niểng niểng lên trời, thằng Ngà oà khóc. Nó khóc không phải bị tụi trai làng bên ức hiếp hay ba nó đánh, mà khóc vì bởi cái vô thường của cuộc đời đang bắt nạt nó.

***

            Tuy bị bò đạp không nặng như một số người ở trong xóm này, nhưng con Ngọc thỉnh thoảng hay lên cơn bất thường. Mấy ngày đầu, đang ngủ, nó bật dậy la hét dữ dội, cào xé, bứt tung quần áo, xé toạc mùng mền. Giữa trời nắng chang chang, người ta đang nghỉ ngơi, nó lội ra đồng, leo lên chòm mả ngồi ngắm cảnh. Đêm khuya, nó bật dậy, vén mùng, lang thang ra sau hè, đứng cạnh mộ cô Sáu thằng Ngà nói lầm rầm, chấp tay xá xá, rồi ngồi bịch xuống đó khóc hu hu. Má thằng Ngà ra kêu vô, nó vùng chạy vào trong đục, bỏ lại tiếng cười sặc sụa đằng sau lưng. Cả nhà phải chia nhau đốt đuốc đi tìm. Sau ngày bán con bò, con Ngọc phiêu phiêu càng nhiều trong thế giới riêng của nó. Tiền bán con Vàng lo cho thằng Ngà học sư phạm thì ít, mà chạy thuốc men cho con Ngọc thì nhiều. Mấy ông bác sỹ bảo là do nó bị sốc quá nặng nên chấn động thần kinh; con bé bị bệnh tâm thần theo mùa vụ, từ từ sau này có chồng, có con sẽ đỡ.

            Rồi con Ngọc cũng lấy chồng, một anh chàng quê đâu tận Bến Tre lên đây lập nghiệp yêu thương nó ngay buổi đầu gặp gỡ, như đã gặp nhau từ kiếp trước. Gia đình cho vợ chồng nó ra riêng, cất một mái nhà lá nho nhỏ ở sau hè, cạnh mộ cô Sáu thằng Ngà. Bệnh tình con Ngọc ngày tháng cũng giảm dần nhưng cuộc sống bấp bênh bởi nghề nghiệp không ổn định. Vợ chồng nó được địa phương xét cho nuôi một cặp bò của chương trình xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ những gia đình gặp khó khăn. Bò nuôi nếu con nái đẻ con đực thì giữ lại nuôi tiếp, đến khi nào có con cái thì giao lại cho hộ gia đình khác. Vậy mà không hiểu sao, cặp bò hệt như đôi vợ chồng nó: lâu lắm rồi mà chưa có tí “cứt chuột” nào. Con Ngọc mê trẻ con lắm. Nó cứ trách bác Tám sao hỏng chịu có em bé cho nó ẵm bồng. Ngày vợ chồng thằng Ngà về đây sanh con, thằng nhỏ chưa đầy tháng mà con Ngọc cứ len lén ôm trên tay, hôn nó chùn chụt, miệng băm băm, bi bô theo đứa trẻ. Cả nhà sợ cái bệnh bất thường của nó nổi lên nên hay la rầy. Nó giận lẫy bỏ đi nước một. Rồi mấy ngày sau không kìm nổi sự thèm muốn của mình, nó đứng xa xa, len lén trắc lưỡi, cười giỡn với thằng bé. Hôm vợ thằng Ngà đem đứa bé ra tắm nắng sáng, bác sỹ bảo trẻ nhỏ hay khóc đêm thường là do thiếu vi-ta-min D và can-xi, con Ngọc rề rề lại xin bồng. Nhìn thấy bóng con Ngọc ôm con của mình, tóc bung xoã che nửa mặt chảy dài dưới mặt đất, vợ thằng Ngà há hốc miệng. Nó định thốt ra điều gì đó nhưng kịp lấy tay bụm lại. Tối đêm ấy. Rõ chuyện. Ba thằng Ngà một mình âm thầm, rị mọ nhổ cái răng bừa cắm sâu trên nấm mộ chị Sáu của mình. Ông ấy gói nó lại cẩn thận, rồi đem lên bàn thờ người chị ruột thắp nhang cầu nguyện, chưng cúng cho tới bây giờ.

Thằng Ngà chở cả gia đình lên thành phố khám bệnh. Riêng hai vợ chồng con Ngọc sang bệnh viện chuyên khoa vô sinh, nhưng mới đến cửa thì con Ngọc nhất quyết không vào. Chồng nó thấy vậy cũng không khám. Nó bảo:

- Thà không biết. Chứ biết rồi còn chi hạnh phúc. Nếu cả hai vợ chồng đều không thể sinh con thì dễ thông cảm nhau, nhưng do một trong hai người thì đau khổ lắm.

            Con Ngọc nói hay như người bình thường, khiến mọi người ngạc nhiên. Ba thằng Ngà hằng ngày kiệm lời cũng xen vào pha trò:

- Tuỳ. Ừ, hỏng biết hồi nhỏ chồng con Ngọc có bị ai quở không, chứ bác Tám bây thời có à. Nghe kể lại, lúc bé bác của bây “xổ sữa” trông dể cưng lắm. Bà Bảy gần bên ôm hun hoài không thấy đã, lấy tay ngắt nhẹ vào “thằng nhỏ” nói: “Tưng…tưng…nè. Mau lớn nha con. Cái này để đái, cái này để chơi nè. Tưng…tưng…nè…”. Bà ấy quên mất là cái ấy còn để sanh con, duy trì nòi giống.

- Không trị thuốc Tây thì trị thuốc ta, mai mốt về dưới tao cho vợ chồng bây ăn cháo đỉa mệt xỉu luôn. Phải dai như đỉa thì mới mau sanh con chớ - Má con Ngọc xen vào. Con Ngọc cự lại:

- Dai và dài cỡ con bò nhà mình ngày xưa và của vợ chồng con bây giờ hông. Nuôi muốn chết mà có chịu đẻ đâu.

Riêng thằng Ngà suy đoán là cặp bò con Ngọc chưa có con vì tụi bò bây giờ sống sung sướng, chỉ biết ăn, ợ rồi ngủ nên mất gốc. Từ lâu, con bò sinh ra và phát triển gắn liền với thiên nhiên rừng núi; với những năm tháng lao động nhọc nhằn, vất vả cùng người nông dân trên đồng ruộng. Một số nơi, người ta nhốt bò vào trại tập trung, cho nó ăn bất cứ thứ gì có thể, kể cả những thứ giả tạo giống như cỏ để mau lớn bán lấy thịt. Con bò tối ngày cứ nhơi nhơi, gương mặt vô thần sắc, không nghĩ suy, biếng biểu lộ cảm xúc qua tiếng: “Ủm bò” dậy trời đất như con Vàng của ngày xưa. Có một sợi dây vô hình đang trói buộc con bò hơn cả sợi dây xỏ vào mũi của nó. Nghĩ vậy, thằng Ngà bỏ công ăn chuyện làm ở thành phố vài hôm, để về quê làm lại công việc chăn bò như ngày xưa. Chiều hôm đó, thằng Ngà mặc bộ đồ đi mần của ba nó, đội chiếc nón lá cũ kỹ, bệ vệ đi trước, hai con bò lững thững theo sau, thẳng tiến ra ngoài đồng trong sự ngạc nhiên của bà con hàng xóm. Lạ quá, hai con bò cứ đứng nhơi nhơi ở bờ đê, không thèm gặm mấy bụi cỏ vừa nhú non ngon lành. Nó còn lúng túng gấp bội. Đồng ruộng bây giờ đâu còn cỏ như ngày xưa mà thả cho bò ăn. Cái chòm mả hoang vu được gọt tém sạch sẽ, hẹp về diện tích nhưng mọc thêm nhiều nấm mộ, trong đó có sự góp mặt của lão Tư Đờn Cò. Thằng Ngà nắm sợi dàm kéo đôi bò ra gò mả, lên ngồi trên mộ đá của lão Tư. Nó lại nhớ tới con Vàng. Nó hối hận vì mình đi lừa gạt con bò. Sau khi bán con Vàng, nhiều người hỏi nó: “Mầy nói điều gì mà con bò chịu đi theo mầy qua sông cho người ta làm thịt vậy?”. Thằng Ngà dấu nhẹm vào trong ruột gan câu mà mình từng với con bò: “Vàng ơi, mầy đi đi. Bên kia, nghe nói là có rất nhiều bò cái”.

            “Tuy rượu quán nghèo nhưng nồng nàn hương vị. Xin kính cẩn tay nâng mời tri kỷ mượn chén rượu ngày xưa cho tròn vẹn thâm… tình. Rượu lạt trạng nguyên thì đệ chỉ xin dám uống một mình. Đâu dám rót làm bẩn môi người nghĩa khí xin gởi vào đây bằng hương vị của ngày xưa. Cởi áo mão cân đai gởi cho quân hầu cận mặc nguyên áo cơ hàn để mừng bạn tương tri. Vậy rượu tương phùng đại huynh hãy uống đi, uống chén rượu hôm nay mà nhớ ngày đưa tiễn”. Thằng Ngà rưng rưng hát lại câu vọng cổ trong tuồng Bên cầu dệt lụa mà lão Tư hay hát dành cho những người bạn tri kỷ, tri âm. Mục đích là để tặng cho người nằm dưới ba tấc đất. Nhưng nó không ngờ, vừa dứt giọng, con bò đực rống lên mấy tiếng “Ủm bò”, rồi nhảy cẫng lên ôm eo con bò cái. Lấy tay dụi dụi mắt, thằng Ngà ngỡ ngàng, thấy trong khoé mắt con bò cái trào ra hai dòng lệ chảy.

            Hơn chín tháng sau, gia đình con Ngọc có song hỉ. Trong nhà vang tiếng khóc “Oa..oa…oa…”, ngoài chuồng bò rền tiếng rống “Nghé…ọ…ọ…”. Ngẫm kỹ ra, thằng Ngà chưa từng có cơ hội làm một diễn viên trên sân khấu cải lương, nhưng ở sân khấu của cuộc đời, nó đã trở thành một nghệ sỹ thực thụ.

                                                                                                                            Tháng 03/2014

                                                                                                                                      H.V

           

             

 
     
  Cộng tác viên ( bao VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

1 2 3 4 5 6 7 8 9 
 Bài mới cập nhật








  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)






  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |