Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Truyện ngắn
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  20/10/2014  
  BÔNG KHOAI LANG TÍM ĐỎ  
   
 
 

Bệnh tình của ba Thôi trầm trọng. Hơi thở thoi thóp, mắt trắng vờ gần đứng tròng, miệng lưỡi ú ớ, hai tay quờ quạng trong hư không. Bị bác sỹ chê nên anh em trong gia đình bàn bạc thống nhất chở ông ấy về, để được thanh thản nhắm mắt xuôi tay tại quê nhà. Nhưng thật lạ, từ khi được nằm ở bộ ngựa gõ trước bàn thờ gia tiên, đám mây đục ngầu bay mất tiêu, nên bầu trời trong mắt ba Thôi sáng quắc trở lại, mạch nhịp đều hoà. Hai tay run run, bắt ấn tý đặt lên trên ngực, miệng ba Thôi lầm rầm không rõ tiếng, nhưng có thể đoán là đang niệm: “Nam mô a di đà phật”. Lâu lâu có đôi giọt lệ rỉ ra, chảy xuống ướt đầm áo gối. Hai bàn chân bắt đầu bị cái lạnh rởn của tử thần xâm chiếm, từ từ lướt dài lên khắp cơ thể. Mấy lão nông trong xóm có kinh nghiệm về cái chết bàn tán:

- Với những gì đang diễn ra thì ông ấy một tuần nữa cũng chưa chắc tắt thở.

- Ổng đang hồi sinh đó. Trường hợp này gặp hoài. Dựng rạp, chở hòm chuẩn bị làm đám, nhưng rồi người bệnh tỉnh queo, sống thêm bảy tám năm luôn.

- Tuổi cỡ đó ra đi là vừa. Ăn uống tiểu tiện còn không xong. Bệnh tật triền miên, ở lại làm chi để hành hạ con cháu.

- Kiếp người sao khổ quá. Muốn chết mà có được đâu.

Tình hình này rất căng. Bởi ba ngày tới, đám khoai lang Nhựt hơn chục công đất đằng sau hè phải dỡ lấy củ. Trên năm trăm tạ khoai đang nằm chờ dưới lòng đất chứ ít gì. Thôi đã hợp đồng miệng với người ta, nếu bẻ kèo tụi lái ẹo tới ẹo lui để kiếm thêm. Lâu lâu mới có đợt trúng mùa và trúng giá, Thôi đã đổ toàn bộ vốn liếng, còn vay mượn thêm bên vợ trút xuống vụ này. Bụng anh lo âu, thắc thỏm với trăm thứ công việc, tím héo như bông khoai lang bị người ta cuốn dây, cắt ngọn chuẩn bị thu hoạch.

            Ba Thôi được nhà sư đến, cúng tụng siêu thoát để được ra đi thật nhẹ nhàng. Đứng cạnh bàn thờ, miệng lão niệm liên tu bất tận mấy bài kinh kệ, tay trái để trước ngực, tay phải gõ nhịp mõ đều đều. Mồ hôi ướt đầm chiếc áo cà sa, quyện với nhang khói bay lãng đãng, phảng phất thứ mùi vừa linh thiêng lẫn trần tục trùm phủ khắp căn nhà. Anh em, con cháu ruột rà quỳ lạy đặc sệt dưới chân ông, ngả rạp xuống sau mỗi tiếng chuông ngân. Tâm niệm họ đang tập trung cộng hưởng, tạo trợ lực vô hình, đẩy linh hồn người hấp hối mau thoát khỏi thể xác già nua, bệnh tật, bay thẳng đến cõi tiên bồng. Thay gì, nó cứ dật dờ dật dưỡng tấp vô đọt cây, ngọn cỏ rồi làm những chuyện dân gian hay gọi là thứ ma quỷ hại người: “Thôi mà, buông xả nghen ba. Ba đi sớm vậy mà sướng tấm thân. Níu kéo càng lâu, càng khổ. Ba ơi…”. Hông phải muốn dứt là dứt được đâu. Cũng như ngày xưa, đặt tên cho anh là Thôi, ý muốn dừng lại. Vậy mà ba má  còn cho ra đời thêm thằng Nữa với Út Rồi. Gia đình bên vợ cũng chẳng kém. Anh vợ là út trai mang tên Quy Hợp, tưởng đâu kết thúc. Ai dè có thêm những Châu Chị, Châu Em, Châu Út. Hàng xóm cắc cớ, uốn lưỡi bảo nhà có thêm ba con “Trâu” cái. Nhờ kiểu sanh đẻ sạch trứng của thế hệ trước mà Thôi mới có cơ hội rước “Trâu Em” về cùng với mình mần ruộng làm rẫy.

* *

- Tụi bây nhìn kỹ đi - Lão Tư lớn tuổi, uy tín nhất trong xóm vừa nói vừa lấy tay chỉ - ba thằng Thôi bây giờ đâu có khác gì con bò bị người ta đập đầu, giãy đành đạch chờ chết. Ngày xưa, quả báo thì lâu, ngày nay câu trước, câu sau mấy hồi.

Một bác ngồi chung bàn xen vào:

- Thôi mà, người ta đã biết hối hận rồi, nên trước khi chết, cái tâm đang hướng về trời phật đó. Khi còn sống, ngoài mấy căn bệnh mãn tính, ổng còn mắc thêm chứng mắt mờ, lãng tai, lại có tật nói chuyện lớn đến cả làng đều nghe, coi như là trả quả còn gì.

- Nói ở đây là để nhắc nhở con cháu. Cũng như người ta tụng kinh, niệm phật là để giáo dục cho những người đang còn sống, sống tốt hơn. Chớ chết rồi có nghe được đâu - lão Tư lên gân, thẳng thắn tranh luận.

            Nhìn kỹ ba Thôi đang nằm thoi thóp trên bộ ngựa gõ, mới thấy họ nói có lý. Hai tay co quắp lên, run run như đôi chân trước con bò sắp chết, nước mắt chảy trào thành vệt thâm đen, lưỡi bắt đầu le dài ra do cố phát âm thành lời khi đọc kinh phật. Trước khi con bò bị đập đầu nó thường khóc và rống nhiều hồi thảm thiết, ghê rợn.

            Sau ngày thống nhất đất nước, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh chủ trương cho người dân về lại quê nhà sinh sống hoặc đi khai phá vùng kinh tế mới. Ba Thôi trước giải phóng mang danh là dân ở Chánh Hưng chuyên đập đầu và xẻ thịt bò. Là người miền Tây nói chung, dân Sài Gòn ai mà không biết địa danh “nổi tiếng” này. Điều kì diệu nhất là nơi đây bên cạnh những lò giết mổ, đằng đằng khí sắc sát sanh, đối diện nó lại có rất nhiều ngôi chùa, am tự mọc lên cặp hai bên dòng sông, bóng cây che mát thanh bình. Vốn là dân gốc ở vùng sâu trong Tháp Mười, ba Thôi có về lại bên ấy, nhưng cuộc sống đổi thay, dòng họ li tán, không quen trồng lúa nhiều vụ nên vướng nợ hoài. Nghe Tân Phú là vùng kinh tế mới, ông đã kéo toàn bộ gia đình qua đây. Lúc đầu trồng cây khóm rửa phèn. Sau ông chuyên canh trồng toàn khoai lang. Với ông, khoai lang làm thay đổi gia đình hiện tại, mà còn gắn với những kỷ niệm đẹp thời trai trẻ của mình.

            Tổ chức quyết định chọn ba Thôi gài vô hoạt động thành. Thấy tướng tá thật bặm trợn, râu quai nón, mũi to, tóc quắn, da ngăm thích hợp với nghề đâm, giết nên đưa vào lò heo Chánh Hưng làm tên đồ tể nhằm che mắt chính quyền Mỹ - Nguỵ. Thuở ấy, ông nghĩ đơn giản, ra chiến trận cũng phải đối mặt với kẻ thù. Đằng nào cũng bắn, giết để giành lại quê hương đất nước. Nhưng giết mổ loài vật dù sao cũng đỡ hơn. Do vậy những năm tháng đầu ông hăng say, chú tâm mải miết làm việc, nắm tin tức báo cho tổ chức khi có yêu cầu. Đồng thời, đó còn là nghề nghiệp chính để ông kiếm tiền trang trải cuộc sống gia đình. Dần bình tâm lại, ba Thôi cảm thấy con vật cũng có linh hồn không khác gì con người. Con bò trước khi bị người ta đập đầu (sau này mới chích điện) cũng biết rơi nước mắt, biết lấy hơi dài rống lên thảm thiết như tiếng kèn ma đưa linh hồn người chết về miền hư ảo. Có con líu ríu đứng lên rồi sụm xuống, cứt đái tè vãi ra tung toé. Mùi máu, mùi ô quế, mùi đau thương chết chóc xồng xộc xông vào mắt, mũi, vào trái tim còn có răng biết cắn rứt của ông. Chiến tranh không biết bao giờ kết thúc. Nhưng cuộc chiến của người cộng sản như ba Thôi với lương tâm mình đang bùng nổ dữ dội, át liệt.

            Đêm khuya. Chuẩn bị lên ca giết mổ. Không gian tĩnh lặng đến nỗi ba Thôi nghe được tiếng mõ tụng kinh của nhà sư, tiếng chuông vọng u minh của mấy ngôi chùa bên kia sông. Trời, đất thành phố cũng có chùa chiền nữa à. Nó đã hiện hữu từ lâu nơi xứ này, mà giờ mình mới phát hiện. Gần tháng rồi, ông ấy không thiết tha gì đến ăn uống, nhớ đến thịt, huyết ứ, mùi phèo phổi, màu nhơn nhớt toát ra từ thân thể con vật sắp bị hành hình là nước dãi cứ cuộn trào ra, nôn thốc nôn tháo sạch ráo bao tử, cơ thể gầy sọm, hai mắt lõm sâu thăm thẳm. Mọi khi, lấy búa nện xuống đầu cây đe đặt ở trung tâm sọ não hai phát là con bò giẫy đành đạch, còn gần đây, ba Thôi phải nện nhiều cái. Tụi cùng hội chọc: “Ác vừa vừa thôi cha, cho chết từ từ để hành hạ sự đau đớn của nó à?”. Đang miên man suy nghĩ, chợt có một mùi thơm, rất thơm vừa lạ vừa quen xộc vào mũi: “Mùi này là mùi gì, nhớ quen quen ta. Ừ, lâu lắm. Mùi khoai lang nướng…”.

- Khoai lang, có phải khoai lang nướng không?

- Đúng rồi. Anh muốn mua mấy củ?

- Mua hết. Bao nhiêu cũng mua.

- Khoai lang Sài Gòn mắc lắm đó nghen.

- Mua luôn người bán anh cũng mua được, chứ huống hồ gì mấy củ khoai lang này.

- Có nuôi nổi người ta không mà đòi mua luôn người bán.(…)

            Khoai lang đã giúp ba Thôi gượng đứng lên sau những cú sốc trong cuộc đời tham gia cách mạng của mình. Đặc biệt là hôm đám tang ông ấy, Thôi có thêm một đứa em trai từ Sài Gòn xuống đi cùng với má nó. Nó còn kéo thêm giàn “nhạc sống” nổi tiếng nhất, chuyên hát đám ma ở thành phố có ảo thuật, xiếc múa, đánh phá quàn trước khi hạ huyệt. Nó cầm micro đứng trước quan tài, xúc động hát bài Tình cha, Ngọc Sơn chưa chắc hát hay bằng. Giọng ca ngọt ngào, da diết như tiếng rao: “Khoai lang nướng hôn…” của cô gái bán khoai giữa đêm trường thanh vắng ở đất Sài thành thuở nào, khiến ai cũng không cầm được nước mắt. Lòng Thôi trơ ra chẳng vui, không rầu còn thầm cám ơn vì có thêm người anh em cùng mình tiếp khách.

            Bây nhờ Thôi mới rõ tại sao ba mình trồng và tiêu thụ khoai lang giỏi nhất trong vùng này. Có thời, bà con trong xóm trồng nó chỉ bán được vòng vòng ở chợ, hoặc chở xa xa ra ngoài Nha Mân hay Cái Tàu, ế phải đổ cho heo, gà, vịt, cá ăn. Còn ba anh có đường dây tiêu thụ hẳn hoi ở nơi khác lại. Mỗi mùa thu hoạch Thôi cùng ba chở từng ghe lớn xuống chợ Mỹ Thuận, có xe tải chờ sẵn dưới đó. Anh chỉ biết là xe đi từ hướng Sài Gòn. Ai hỏi, ba Thôi cũng không nói. Bí mật. Như cuộc đời ông vậy. Sau những trận đánh chiếm Sài Gòn của quân giải phóng miền Nam Việt Nam có sự hỗ trợ của các đội biệt động cảm tử giải phóng quân, bị địch phản công, lực lượng nội thành phần tiêu hao, phần bị mất liên lạc do một số cán bộ chủ chốt hy sinh, ba Thôi vẫn bám trụ vị trí phân công. Đến ngày hoà bình ông âm thầm về quê sống một cuộc đời vui thú ruộng đồng, nhưng vẫn mang tiếng là kẻ đâm lợn, mổ bò. Thời chiến, giết chết kẻ thù được xem là anh hùng, nhưng thời bình, sát sinh cũng đồng nghĩa với tội ác.

* *

            Sáng ngày thứ hai từ khi được chở về nhà, ba Thôi vẫn chắp tay niệm phật không ra tiếng, thầy sư và con cháu vẫn cúng, cầu nguyện siêu thoát. Quan sát kỹ mới thấy bụng ông ấy bắt đầu trương to. Gã lái khoai lẻn vào nhà ngắm nghía, rồi bước ra chỗ vắng người, móc điện thoại gọi cho Thôi:

- A lô. Anh Thôi tính sao tính nghen. Nếu ngày mai không dỡ khoai là coi như bẻ hợp đồng. Anh hoàn toàn chịu trách nhiệm đó.

- Trời ơi. Anh thông cảm dùm. Náng đợi một hai ngày nữa đi. Ba em còn đang hấp hối, sao em đành đoạn tính chuyện thu hoạch khoai.

- Mới hồi nãy tui vô coi thử rồi. Thấy vậy chứ bác nhà còn lâu lắm. Mà mỗi ngày giá khoai cứ sụt ào ào. Tui thông cảm cho anh, rồi ai thông cảm cho tui. Anh biết đó, hiện nay thị trường Trung Quốc rất khó. Mà đám khoai lang tím Nhựt của anh không xuất được, chỉ có nước đổ bỏ.

            Bên đầu cuộc gọi im lặng. Thôi đừ người lo đủ thứ chuyện nên rối trí không biết phải phân trần, giải thích cách nào cho anh ta vừa lòng.

- Hay là anh cứ cho người cắt dây, giựt giồng, giũ củ đi. Tui tăng cường thêm một số anh em xuống hỗ trợ, nhưng tính thêm tiền công cho họ à nghen - Gã lái khoai kỳ kèo.

- Hỏng được rồi. Thế sao phải. Vả lại em đã hồi nhân công hết rồi.

- Anh làm vậy sao được, số lượng khoai nhà anh rất lớn. Tui đã hứa với mấy lái ở Sài Gòn. Họ xuống thì tui ăn nói với người ta sao đây. Nếu vài ngày tới coi chừng giá còn phân nửa. Chịu không.

- Nếu vậy thì tui trả tiền cọc lại. Khoai tui còn của tui. Anh không mua thì tui bán lái khác.

- Được. Thằng này đút vô đám khoai ở xứ này rồi. Đố hòng ai dám xen vô. Để giành đổ cho heo ăn đi em. Cho suy nghĩ lại rồi quyết định, một tiếng đồng hồ sau điện lại cho tui.

            Cúp máy.

            Tay mân mê chiếc điện thoại, Thôi thẫn thờ ngồi trên chiếc ghế đẩu đặt khuất trong bụi tre tầm vông. Đầu anh còn ong ong lời hăm dọa của thằng lái khoai: “Mấy trăm tấn khoai chờ đổ cho heo ăn đi”. Mua bán mà, họ cũng chẳng qua kiếm đồng lời để nuôi sống bản thân và gia đình nên quá vô cảm. Bà con trong xóm này không có họ cũng khó tiêu thụ được nông sản làm ra. Càng nghĩ lại càng tức, nhưng Thôi không biết hận ai. Thôi loáng thoáng linh cảm có một sức mạnh vô hình nào đó hơn cả thần chết đang làm điêu đứng người nông dân, gã lái khoai, thị trường mua bán khoai. Không biết giận ai nên anh quay lại trách chính mình: Nghe người ta đồn khoai tím Nhựt được thị trường Trung Quốc ưa chuộng nên cắm đầu cắm cổ nhảy vô làm, cả xóm cũng bỏ lúa, cây màu khác đùng đùng trồng khoai; sử dụng không biết bao nhiêu phân bón, thuốc, hóa chất để củ khoai mau lớn, bóng bẩy; lúc khoai sốt giá cũng kỳ kèo với lái, tráo khoai qua mắt người mua, lấy đất trét vào chỗ hư để củ được đẹp, đúng chuẩn…Đối với anh, chỉ biết nghĩ vậy thôi chứ dám trách ai nữa bây giờ?

            Sao Thôi không trách ba mình không chịu hướng dẫn nơi tiêu thụ khoai. Thiệt ra gần mười năm nay, ba anh đã mắc căn bệnh lạ, sức khỏe xuống cấp trầm trọng, nên mọi việc trong nhà đều giao cho vợ chồng anh hết. Chứng mất ngủ, đãng trí đi liền sau những giấc mơ kỳ quái cứ ám ảnh, mỗi khi ông ấy chợp mắt. Hàng trăm đầu bò lượn lờ, bay thẳng vào ông, cười sang sảng, khóc re ré, thút thít đòi trả lại mạng sống cho nó. Ông lấy gậy, tưởng đang cầm búa dứ dứ chống cự. Chúng còn thè thêm những cái lưỡi dài lở loét, máu me chảy lòng thòng khiêu khích, liếm láp, gây ra sự đau đớn từ thể xác đến tinh thần. Lúc đầu là về đêm, sau đó là buổi trưa đứng bóng, chúng đều xuất hiện. Đến bao nhiêu bệnh viện, trị bao nhiêu thầy thuốc, thầy bùa cũng không hết. Lúc còn đi được, ba Thôi thường xách đèn, chống gậy ra ruộng khoai hì hục tỉa ngọn, chiết dây, khui nước, bắt sâu… cho thời gian trôi qua mau. Khi bước không vững, mỗi chiều, Thôi thường dìu ba ra phía sau hè, nhìn những bông khoai lang tím nở xòe, giương tròn chuẩn bị đón sương đêm, lòng ông ấy cảm thấy rạo rực, bao nhiêu thứ bệnh tật gần như tan biến.

            Bí quyết trồng khoai đạt năng suất cao rất đơn giản, nhưng ai biết yêu quý, trân trọng nó như ba Thôi mới phát hiện ra điều đó. Nhìn số lượng, độ tím tươi, thời gian bông khoai tàn sớm hay trễ mà xác định được củ khoai nhiều hay ít. Khi bón phân, xịt thuốc, bơm hóa chất phải chọn lúc nó khép lại, đang mơ màng, gáy ngủ. Những thứ đó, cái đẹp của hoa khoai chẳng cần, nên để cho lá, dây hút lấy mà bồi bổ cho củ rễ đang ẩn mình nằm chờ viện trợ dưới lòng đất sâu. Có lần, chở khoai nửa đường thì mắc cạn, ghe phải đậu lại dưới nhánh bằng lăng gie ra sông, bông nở tím biếc, những cánh hoa tàn rơi phủ kín dòng nước chảy xiết đục ngầu. Ba Thôi vừa lấy tay chỉ vào chúng, rồi nói: “Màu tím tượng trưng cho lòng chung thuỷ, nhưng sự thuỷ chung đều có mức độ riêng của nó. Màu tím thẫm của hoa bằng lăng, lục bình rất đẹp nhưng chóng tàn, bởi chúng thích lộ thiên, trơ ra khoe sắc, thách thức chống chọi với cái nắng, gió của đồng quê Tháp Mười. Bông khoai lang có màu tím nhạt nhưng được chở che bởi những tàn lá xanh non, tươi tốt trông rất dịu dàng kín đáo, khiêm nhường. Chúng thay phiên nhau nở hoa suốt mùa vụ, trừ phi người ta cắt dây, bứt ngọn để tạo giống, lấy củ. Không phải ai cũng nhận ra được điều đó nghen con. Mà cần phải có sự tinh tế và cảm thông trong cái nhìn của người đời”. Vẻ đẹp dung dị của bông khoai lang tuy bình thường mà sâu sắc. Ba Thôi đã chứa trong lòng nhiều nỗi oan ức, bao nỗi buồn thầm kín, dấu nhẹm vào tim mà không một lời biện minh, giải thích. Đến khi lưỡi hái tử thần cướp đi mạng sống, ông vẫn thuỷ chung với cách sống đó của mình.

            Gần mười hai giờ trưa, ba Thôi qua đời. Trước khi ra đi, ông nắm chặt tay anh, ráng gượng nói được tiếng: “Kh..o..a..i…”, mắt trợn trắng, gồng mình lên mấy cái rồi tắt thở trong tiếng khóc gào thảm thiết của con cháu. Chưa khi nào Thôi bình tĩnh đến lạnh lùng như lúc này. Anh nghe rõ những tiếng bàn tán của mọi người xung quanh:

- Trước khi mất chắc tụi bây hỏng cho ba bây ăn khoai, ổng thèm chứ gì. Sau này mỗi ngày, trên bàn thờ cúng gì cũng nhớ kèm mấy củ khoai lang nghen.

- Bệnh mà ăn cái nỗi gì. Ba thằng Thôi muốn được chôn ở ngoài ruộng khoai, hồi còn sống, nghe nói ổng rất thích vẻ đẹp tim tím của loài hoa này.

            Chỉ có Thôi mới hiểu ba mình muốn trăn trối gì trước lúc đi vào cõi vĩnh hằng: “Khoai lang bán được chưa vậy con”.

* *

            Trời chạng vạng. Thôi không chịu được sự u buồn, lạnh lẽo đến rợn người trong ngôi nhà mà mấy hôm rày ồn ào, nhộn nhịp. Mùi nhang khói đặc sệt, uốn éo bay dật dờ một vệt dài, tiếng “Nam mô a di đà phật” từ cái máy cassettse nhỏ xíu đặt trên bàn thờ vang vang. Đến lúc này, Thôi mới nhận ra sự trống vắng hình bóng ba mình. Nhìn di ảnh nỗi nhớ càng trào dâng. Anh lặng lẽ ra phía sau hè, gục lên mộ ba còn chưa ráo đất oà khóc nức nở. Khóc như đứa trẻ con thuở nào theo ba rời Sài Gòn, về Tháp Mười giăng câu, thả lưới, bị mụn nhọt hành hạ, ba Thôi thoa nước miếng thúi hoài mà không hết. Ba anh rờ nhẹ nhẹ cho đã ngứa rồi bất ngờ bóp mạnh, mủ máu hòa với nước mắt cứ thế mà trào tuôn. Khóc như những đêm ba anh giao cho mấy tay lưới đi bủa ngoài đồng, anh chống xuồng vô lộn gò mả lạng, xanh mặt điếng hồn nên không tìm được đường ra, sợ đến tè ướt cả quần. Trên đường về lại tiếp tục bị lạc vô mấy bụi tre gai, trời tối thui, đuốc cháy sạch, anh tưởng mình bị ma bắt nên quỳ lạy van xin, lấy cây sào đập đánh loạn xạ. Mệt lả người, anh ngủ luôn ở đó tới sáng. Báo hại, ba anh cũng mếu máo, thức trắng đêm để tìm kiếm trong vô vọng và cầu nguyện cho thằng con trai mau quay về. Ngày đầu rời thành phố trở lại xứ nước nổi gặp ngay trận mưa bão lớn, anh và ba bơi nhanh vô đám điên điển nhưng không kịp. Hên là gặp đống rơm nổi lềnh bềnh, tạt vào trú tạm, không dám giương cà rèm lên, sẽ bị gió cuốn lật úp xuồng. Hai cha con ôm nhau chịu trận, mưa trộn nước mắt chảy thành dòng xuống đầu lưỡi cay sè, miệng đánh bò cạp, chân tay run lẩy bẩy, kiệt sức.

            Ngẩng mặt lên nhìn ra xa, trong đôi mắt nhoè lệ của Thôi ngút ngàn hoa khoai đang cố ngoi lên, xoe tròn, đón giọt sương long lanh đậu mềm trên cánh. Hình như bông khoai lang cũng đang khóc. Chúng khóc cho người nằm sâu dưới ba tấc đất hay khóc cho đồng loại cũng héo tàn nằm hiu quạnh trên bờ đê vì bị người ta cuốn dây, xây mộ cho người đã khuất. Thôi uể oải đứng lên, lầm lũi gom mấy củ khoai trong lúc đào huyệt bị moi lên vứt lăn lóc trông thật tội nghiệp. Linh hồn sau khi thoát khỏi mảnh đất của xác phàm không biết rồi về đâu. Hay chết có nghĩa là kết thúc. Nhưng với củ khoai lang, rời đất mẹ chỉ mới là giai đoạn bắt đầu cho cuộc đấu tranh sinh tồn khác.

Mùa mùa, bông khoai lang vẫn nở trên mảnh đất phía sau hè của Thôi. Điều lạ là xung quanh nơi phần mộ của ba anh, chúng lại có màu tím đỏ, vươn dài, tươi sắc, lung linh trong mưa nắng bão bùng.
                                                                                                                                           Hồ Văn
 
     
  Cộng tác viên ( báo VN)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

1 2 3 4 5 6 7 8 9 
 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |