Thứ Hai, ngày 19 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Truyện ngắn
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  11/09/2016  
  TIẾNG VỌNG CỦA ĐỒNG BƯNG- Truyện ngắn của Hồ văn  
 

Tân sai thằng con lên quán bà Câm lấy cá nấu canh chua gần chạng vạng vẫn chưa thấy về. Anh xếp laptop lại, lầm rầm tới lui trong nhà. Nghe tiếng khua mở cổng, đoán chắc là nó, Tân chạy nhanh ra cửa, vồn vã hỏi:

- Cá đâu con, sao lâu vậy?

            Mặt mày tái xanh, nó hổn hển trả lời:

- Ba ơi bà Câm biết nói, bà Câm biết nói ba ơi…

- Xạo nhiều tập nghen con. Bả Câm mà biết nói cái nỗi gì.

- Thiệt mà. Thấy bà ta đang đội nón gục đầu chăm chú lựa cá, con bước lại gần ra hiệu như lần trước ba dạy. Bà Câm với tay lấy bọc cá đưa con, rồi giở nón, rặn từng tiếng dài: Á…í…á…í… Con sợ quá, chưa kịp trả tiền, chạy ra đường vọt về đây nước một. Về tới cổng, con chợt nhớ tới bọc cá. Hỏng biết nó rớt ở đâu.

 
 
 
che cho.jpg

                Tân tội nghiệp và không nhịn được cười khi thấy đứa con vừa kể vừa lấy tay nhá nhá, mắt trờn trợn, liếc ngang liếc xéo, nổi gân cổ, phùng mang, cái đầu nghiêng nghiêng…ra bộ giống bà Câm. Rồi chợt nghĩ ra điều gì đó, anh kêu thằng nhỏ: “Con giữ nhà, chừng nào má về nói ba đi công chuyện gấp. Đói bụng trụng mì ăn đỡ, đừng chờ ba”. Dọc đường đi, Tân vừa chạy xe vừa suy nghĩ miên man: Bà Câm biết nói, vậy từ bấy lâu nay, bà ấy giả câm để gạt người. Cũng có thể đứa con mình vô lộn quán bán cá khác cũng giông giống như quán bà Câm. Cuộc sống bây giờ, giả giả thật thật khiến cho người lớn còn chưa nhận ra, huống hồ gì tụi con nít, con nôi. Nhưng nhìn kỹ thần sắc của nó là thiệt. Nhớ hồi nhỏ, má kêu anh đi sớm ra chợ Mỹ An mua cá linh vừa rẻ, vừa tươi về nấu canh chua bông điên điển. Trời tờ mờ sáng, chợ thưa người, thấy chị bán cá đang gục gật đầu, Tân tiến gần hỏi: “Cá nhiêu kí vậy chị?” Người bán cá ngước lên, nhe răng, mắt trợn trắng, hai dây chằng ở cần cổ thẳng băng trả lời: “Á ai àn ột í…hihi..” (Cá hai ngàn một kí). Tiếng “í” kéo dài kèm theo giọng cười xã giao làm anh té ngửa, sợ quýnh vì tưởng ma hiện hồn hù nhát mình. Sau này mới biết chị ấy bị dị tật bẩm sinh từ nhỏ.

            Dừng xe lại, Tân không vội vô quán như mọi khi, mà đứng từ xa quan sát. Trời đã tối, vẫn còn vài khách đi đường tấp lại mua đồ. Mỗi lần bà Câm cất tiếng: “Á…í…”, hai tay nhá nhá để báo giá là con chó đứng cạnh sủa gâu gâu. Chắc nó không quen với hình ảnh, hành động được cho là mới của bà chủ. Chú Sáu, chồng bà Câm, lụi hụi nấu ăn trong chái bếp, chạy ra cầm khúc củi, vừa đuổi vừi chửi con chó. Nó cụp đuôi vọt lẹ trốn vô lùm cây. Chiếc xe của người khách cuối cùng rú ga chạy khuất, bỏ lại một làn khói bụi và không gian yên tĩnh đến lạ lùng. Tân nghe rõ tiếng táp bụp bụp của con cá lóc, tiếng quẩy đuôi tách tách của bầy cá sặc dưới đìa. Mùi cá đồng kho sền sệt có rắc tiêu hòa với mùi rau tầng bốc lên từ nồi canh chua của chú Sáu, làm cho bụng của anh đang đói lại thêm cồn cào. Bỗng có hai bóng người núp trong bụi chuối gần quán, chạy xẹt ra hai hướng, rồi khuất dần, mất hút trong đêm. Giá mà con chó của bà Câm đừng mãi chú ý hành động lạ của gia chủ, thì thế nào cũng phát hiện mấy kẻ lại mặt kia rồi. Hóa ra, nghe tin bà ấy biết nói, không chỉ có mình Tân quan tâm, mà còn nhiều người khác cũng tò mò đến nữa.

* * *

            Tân quen biết vợ chồng bà Câm từ hôm huyện cử theo đoàn của tỉnh về chuẩn bị khảo sát, quy hoạch lại khu Gò Tháp. Trong đoàn, có một vị lãnh đạo nghe nói là đã từng chiến đấu, hành quân qua vùng đất này, rất thèm món cá lóc nướng trui gói lá sen non. Về Tháp Mười mà không ăn món đó thật tiếc. Mà cá lóc phải là cá lóc vùng vẫy tự nhiên dưới sông rạch mới đúng giá trị của nó. Hồi ấy, buổi đầu khu di tích còn hoang sơ, nhưng bất tử, kiếm cá đồng đâu có dễ. Ban quản lý nghĩ cách kiếm cá không ra. Chợt có anh chung đoàn là dân địa phương nói: “Dễ ợt, ngoài kia có chú Sáu, chồng bà Câm, chỉ cần xách cần câu đi nữa tiếng đồng hồ là có vài ký cá lóc, cá rô liền hà”. Cá vừa nướng xong, cạo vẩy cháy khét, vàng tươi, thơm phức. Vị lãnh đạo lấy đũa chẻ con cá ra làm hai, liếc sơ bộ ruột, rồi gắp vô chén nước mắm dầm dầm, miệng tấm tắc khen: “Đúng là cá đồng, hàng độc, hàng độc. Mời…”. Trong buổi tiệc, ông còn nhắc đến việc dự án phải chú ý đến bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt là cứ kể mãi những câu chuyện xưa của những năm tháng “nếm mật nằm gai” với vùng đất này: cá mắm nhiều dữ lắm. Về sau, mỗi lần khu di tích tiếp khách quý là mỗi lần ông Sáu được dịp trổ tài kiếm cá, nấu nướng. Để tiện, Ban quản lý Gò Tháp mời chú Sáu về trông coi khu di tích, đồng thời hỗ trợ việc bếp núc, ăn uống cho cơ quan.

            Với số tiền dành dụm được từ lúc đi làm, Tân đấu giá được cái nền nhà sinh lợi ở cụm dân cư thuộc khu Gò Tháp. Bàn tính xong với vợ, anh vay thêm ngân hàng trả dần rồi cất luôn ngôi nhà cất bốn. Hôm động thổ, chú Sáu lù lù đến bắt tay, hỏi han chúc mừng. Tân mừng quýnh như gặp lại người thân. Thì ra, thấy chú ấy làm việc nhiệt tình, không câu nệ khó khăn; bà Câm thui thủi trong cái chòi không mấy lành lặn, nên lãnh đạo quản lý khu di tích đề nghị huyện cấp nhà thuộc diện hộ nghèo trong khu dân nầy. Ngày nhà vừa cất xong, chạng vạng, Tân qua chú Sáu mời hôm sau dùng buổi tiệc coi như ra mắt bà con chòm xóm. Thấy nhà trước chỉ thắp đèn dầu, phía trong tối om. Còn chú Sáu ngồi tư lự, vấn điếu thuốc rê, đầu đội nón lá, mình mẩy ướt nhẹp. Tân ngạc nhiên hỏi:

- Trời, sao chú không bật đèn.

- Tại bà ấy khoái vậy.

- Chắc tui phải chuyển đi nơi khác quá - Chú Sáu giọng buồn buồn nói tiếp.

- Sao kì vậy? Ở đây tốt lắm, điện nước đầy đủ. Chú cháu mình gần gũi có nhau.

            Chú Sáu thở dài thậm thượt, không nói gì thêm.

            Tân đem chuyện chú Sáu có ý định không muốn ở trong cụm dân cư kể cho bà xã nghe. Vợ anh làm một lèo: Dời là phải rồi. Cái xóm bên nhà chú ấy có nhiều người vô công rỗi nghề, suốt ngày bài bạc, số đề, lô tô ì xèo. Mấy đứa choai choai vừa mở mắt ra là bàn bạc ba cái chuyện nuôi gà, đá gà. Hôm nào thắng độ thì nhậu nhẹt om sòm, còn khi thua độ là coi chừng có người ở khu dân cư này bị mất trộm.

            Tân trố mắt nhìn vợ hỏi:

- Em giỏi thiệt nghen, mới về hơn tháng mà biết nhiều chuyện vậy? Nhưng nghe nói, chú Sáu ban ngày thường ít có ở nhà lắm. Còn vợ chú ấy vừa câm, vừa điếc, tối ngày ru rú ở trong buồng, biết gì?

- Nhắc bà ấy em mới nói. Bà con ở đây đồn rần là bà Câm có bùa mê thuốc lú hay sau mà chú Sáu mê tít, thương yêu chăm sóc hết mình. Bỏ vợ, bỏ con ở quê, dắt díu vô đây lập nghiệp. Ghê chưa.

            Tân thoáng giật mình vì những điều vợ anh vừa nói. Anh thường triết lý với bạn bè: Ta không có quyền lựa chọn nơi mình sinh ra, nhưng có quyền lựa chọn nơi mình sinh sống, môi trường ảnh hưởng đến hình thành nhân cách con người. Nói thì dễ, nhưng làm thật khó. Bởi chính anh, sáng nào cũng xách xe ra huyện, chiều về tới nhà đã gần tối. Những khi thứ bảy, chủ nhật còn bận công tác đột xuất, nên rất ít gần gũi với mọi người xung quanh. Ngẫm lại, Tân thấy vợ mình cũng có lí: Người ta và cả vợ chồng anh gọi chú Sáu bằng “chú” nhưng gọi vợ chú ấy bằng “bà Câm”. Bên cạnh sự tật nguyền, bà ta còn có ngoại hình xấu xí, tóc tai rũ rượi, muối nhiều hơn tiêu. Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, mà đối với người câm điếc, nó còn dùng để giao tiếp. Do vậy, những nếp trên vầng trán bà Câm càng nhăn nheo hơn. Như thể lúc nào bà cũng huy động mọi dây thần kinh thị giác, ký ức của mình để cố gắng hiểu ra những cử chỉ, điệu bộ của người đối diện. Người ta không thể đoán tuổi của bà Câm qua vết chân chim nơi khóe mắt.

            Chuyện của vợ chồng bà Câm bỏ cụm dân cư ra ngoài sinh sống tưởng đơn giản nhưng cực kỳ phức tạp. Xã Hòa Kiều đang trong tiến độ hoàn thành các tiêu chí để công nhận xã nông thôn mới. Vì vậy, không phải ai muốn ở là ở, muốn đi là đi. Nó tạo tiền lệ cho những hộ khác làm theo. Thực chất, cụm dân cư mới thành lập, điện nước có nhưng chưa hoàn thiện, nhất là hệ thống cống rãnh và xử lý rác thải còn chậm, dẫn đến ô nhiễm môi trường. Như Tân có đồng lương ổn định thì không nói gì. Còn nhiều gia đình khác, thời gian bám ruộng, bám đồng nhiều hơn sống trong những khu mà nhà nước cấp. Ngặt một điều khác nữa, vợ chồng bà Câm lại cuốn đồ đạc ra ngoài mương lộ, rồi cất tạm một mái lá đơn sơ ven đường. Điện không có, đêm đêm phải thắp ngọn đèn dầu le lói. Trông thật thảm sầu. Có người nói vợ chồng họ không chỉ câm và điếc, mà đầu óc còn có vấn đề. Người khác thương tình bàn cách dĩ hòa di quý là vừa ở trong khu dân cư, vừa ở ngoài mương lộ. Chú Sáu dứt khoát không chịu: “Mình không ở thì để nhà nước lấy lại, xét cấp cho người khác”.

Ủy ban xã nhiều lần xuống làm việc, đưa ra giải pháp: Nếu vợ chồng bà Câm không chịu ở cụm tuyến dân cư thì rời khỏi địa phương, chứ không thể có một mái nhà tạm bợ nằm chình ình ngoài mặt tiền coi sao được. Rồi chú Sáu lại bị mất việc trong khu di tích do thái độ không hợp tác với chính quyền. Độ khoảng vài tháng sau, Tân ghé qua thăm chú Sáu và vô cùng kinh ngạc. Mấy cái ao hoang tàn ven mương lộ giờ đây ngút ngàn những đóa sen, bông súng, rau muống đồng,.. xanh mướt, ngát hương thơm. Mái lá đơn sơ ven đường biến thành cái quán: Quán của bà Câm.

* * *

            Quán bà Câm ngày càng thu hút khách hàng. Những mùa du lịch, người tứ phương ghé mua sen tươi, sen khô, đặc biệt là cá đồng. Nhiều không có, chứ dăm ba ký là chuyện thường, chủ yếu là cá tươi sống ăn trong ngày. Nếu khách muốn nấu canh chua, quán tặng thêm mớ rau muống, bông súng hay ngó sen. Ớt có sẵn trên bờ, rau tầng, rau thơm mọc chen chúc trên giàn, tốt tươi khỏi phân bón, chỉ trồng trên đất sình móc dưới đáy ao lên. Tiếng lành đồn xa, người thành phố về thăm quê cũng tạt xe đợi chờ để mua bằng được, mang về trên ấy làm quà biếu, còn dân địa phương phải đặt hàng trước, ưu tiên những ai đãi khách. Có người thắc mắc: Bán đắt kiểu đó nhưng chỉ với hai vợ chồng bà Câm làm sao cho xuể. Dễ ẹt, chú Sáu có cả hệ thống dụng cụ để đánh bắt. Theo xuồng với chú ấy, chống một vòng là có cá mang về. Nếu thích, có thể cởi đồ, lội xuống ao, để đổ lợp, dở đó, giăng câu, móc ngó sen, hái súng… Nhân viên hỗ trợ quán bà Câm cũng chính là khách mua hàng.

            Người tật nguyền nếu đem cái tật nguyền của họ ra bàn tán là một sự nhẫn tâm. Nhẫn tâm trên nỗi đau của đồng loại. Và càng vô tâm hơn khi không thấu hiểu nỗi khổ ấy. Tờ giấy trắng bị loang một vết mực, ta cứ mãi chăm chăm vào đó. Mà không nghĩ rằng: những khoảng trắng còn lại của tờ giấy càng tinh tươm hơn là nhờ vết đen ấy. Bà Câm bị điếc, nên dù có ai đó nói xấu bao nhiêu cũng chẳng thèm nghe. Có điều, từ khi bán quán đến giờ, chưa có ai dị ứng hay khó chịu với bệnh câm của bà chủ. Ngược lại còn lấy cái tật nguyền ấy làm thương hiệu cho cái quán lá đơn sơ ven đường.

Quán bà Câm ăn nên làm ra, nhiều quán khác lần lượt mọc lên theo. Mười mấy cái quán dọc hai bên đường liên tỉnh, hướng vô Gò Tháp cất y chang, bán các mặt hàng giống hệt các món đồng quê theo phiên bản gốc của quán bà Câm. Khách đi đường, người tham quan, du lịch Gò Tháp thấy quán là tấp vô mua đồ, đâu có rảnh để phân biệt quán nào là gốc, quán nào chỉ là phiên bản. Điều vi diệu là chỉ một thời gian sau, quán bà Câm vẫn trở lại đông khách, còn các chỗ khác ế ẩm, bỏ hoang xơ xác. Nhiều đại gia ở vùng đất này không chấp nhận điều đó: không thể thua một kẻ tật nguyền, nông dân rặt, từ đâu về đây sinh sống, không có cục đất chọi chim, chỉ mướn lại ao hồ của người khác. Họ quyết định đổ vốn đầu tư, cử cả chuyên gia nghiên cứu và phát hiện: Quán của họ thiếu bà Câm. Vậy là không biết cơ man nào là người câm tứ xứ về đây để được tuyển chọn. Nếu cử chỉ, điệu bộ, ngoại hình chưa giống bà Câm vợ chú Sáu thì phải hóa trang, tập luyện trở thành câm đến thuần thục, mới cho ra bán hàng.

Với người phương xa rất khó để nhận ra đâu là câm thiệt hay giả, riêng với Tân chuyện đó thật hết sức bình thường. Chiều hôm ấy, sau khi ở huyện về, anh đến quán bà Câm mua đồ, chú Sáu mời ở lại lai rai với món cá sặc rằn nấu canh chua bông súng, chấm muối cục đâm ớt hiểm. Trong lúc lứa sứa, chú Sáu bất giác hỏi:

- Con học hành, đọc sách nhiều, từ nhỏ sống ở Tháp Mười, vậy chớ biết rành về cá hông?     

            Tân gãi gãi đầu, ấp úng trả lời:

- Dạ, chút đỉnh. Tại lớn lên là con xa quê ra thị trấn, lên tỉnh đi học rồi.

- Hồi nhỏ con có hay đi nhấp cá không?

- Có chứ. Nhưng không sát thủ bằng mấy thằng bạn. Tụi nó không cần lấy vịt con làm mồi nhử. Chỉ lấy vỏ dừa rồi máng lưỡi câu, rê rê, nhấp nhấp vô bầy ròng ròng vài cái là tụi cá táp bụp bụp liền.

- Đố con thường thường khi nhấp cá, con cá đực hay con cá cái bị dính câu trước.

            Câu hỏi chú Sáu khiến Tân không khỏi giật mình. Tưởng đơn giả nhưng thật hóc búa. Hồi nào tới giờ từng ăn cá lóc nhấp, từng đi nhấp nhưng có để ý đến điều này đâu. Tân có thể trả lời thí đại vì xác suất có thể đúng năm mươi phần trăm. Nhưng với thái độ nghiêm túc của người ra câu đố không cho phép anh nói mà không cần suy nghĩ. Tân huy động mọi ký ức, quay về với kỷ niệm thời thơ ấu, những tháng ngày bươn chảy kiếm thức ăn, kết hợp với suy luận, kinh nghiệm của mình. Anh vừa toan cất lời thì chú Sáu nói:

- Chắc con sẽ cho là cá cái dính câu trước chớ gì?

- Trời đất. Sao chú hay vậy. Tình mẹ bao la như biển Thái Bình, con cúm núm, vịt trời, le le… để cứu bầy con nhỏ dại, con cái thường giả bộ què lếch, sụi cánh cho người ta rượt theo nó, đến khi quay lại thì không nhớ tổ của chúng ở chỗ nào.

- Trật lất. Mỗi loài mỗi khác con à. Bầy con ròng ròng thường tụ theo cá lóc mẹ, còn cá lóc cha bơi xung quanh, khi gặp kẻ nào quấy rối, nó nhào vô táp trước. Có lần chú nhấp được con cá lóc đực, má của chú mang đi mần, mới chặt đuôi thì nó quẫy mạnh, rớt xuống sàn nước. Ngày hôm sao chú nhấp lại, vẫn dính con cá lóc cụt đuôi đó trước.

- Cá lóc đực tuy nhỏ mà hung dữ quá.

- Đâu phải. Nó hy sinh chịu chết trước, để con cá mẹ được sống mà nuôi đàn con còn nhỏ. Ừ, mà con người cũng vậy đó.

            Nói đến câu “Con người cũng vậy đó” giọng của chú Sáu chùng xuống. Chú lấy đũa gắp con cá sặc trong nồi canh chua, thịt bung ra, lồ lộ bộ xương trắng do biết nấu đúng cách, vào chén của Tân. Hình như chú gắp thức ăn cho anh mà tâm hồn đang thả đâu đâu ấy. Màn đêm buông xuống. Con đường liên tỉnh vắng bóng người. Sương rơi lành lạnh. Vài ngọn gió hiu hiu len qua vách lá, tạt xuống mặt ao luồn lên sạp tre làm Tân rùng mình mấy cái. Bà Câm lụi hụi thắp ngọn đèn dầu, đốt nhang xá hai ba xá rồi cắm lên bàn thờ. Nhìn hành động đó, Tân cảm thấy chú Sáu thật hạnh phúc, tuy nhỏ nhoi bình dị nhưng không phải ai cũng nhận ra. Nhiều lúc có được người vợ không biết nói, chẳng biết nghe lại hay. Liếc thấy di ảnh, Tân quay sang hỏi chú Tư:

- Ủa, hình của ai trên bàn thờ vậy chú?

- Đó là người mà chú sắp kể cho con nghe nè.

            Nhấp cạn ly rượu đế, chú Sáu dằn ly xuống vạt tre nghe cái “cọc” khô khốc, khà một hơi dài, nhất giọng kể cho Tân nghe câu chuyện có liên quan đến người đàn ông trong di ảnh. Mùi hương khói quyện vào gió sương lành lạnh làm cho câu chuyện trở nên linh thiêng hơn:

            Chú tham gia cách mạng thuộc lính trung đoàn 207. Lực lượng đa số tăng cường từ miền Bắc vào, sinh viên trẻ khỏe, nhiệt tình nhưng không hiểu rành địa hình, vùng đất này. Chỉ có chú là dân miền Tây thứ thiệt nên được anh em quý trọng lắm. Nhất là việc dò đường, lội nước; mò cá, bắt tôm, hái rau cải thiện bữa ăn hằng ngày. Mỗi đợt hàng quân, bên cạnh khẩu súng, ba lô là một chùm cần câu với tay lưới kè kè bên cạnh. Ông tiểu đội trưởng khoái chú lắm, hay nói: “Giá như mày mà chưa cưới vợ, tao bắt làm thằng rể của tao”. Những đêm buồn không ngủ, ổng tâm sự:

- Mong cho chiến tranh qua mau, già như tao cũng chỉ muốn về đào ao, nuôi cá. Mỗi lần tạt vội ghé thăm đứa con gái mà không xách theo mấy con cá là mặt mày nó buồn rười rượi, chẳng chịu nói năng gì. Ừ, mà bình thường nó cũng đâu có chịu nói. Nếu ở lâu, tao còn chống xuồng chở nó đi chài, giăng câu, dỡ chà cá.

- Tưởng gì, mấy món đó con làm cũng được.

- Phải rồi, dìa lần sau, tao dẫn mày theo, chắc con gái tao vui lắm.

- Nhà của tiểu đội trưởng ở đâu?

- Dễ lắm, chỉ sơ là mày biết liền hà.

Nhưng khoảng đầu tháng chín âm lịch, mùa nước nổi năm 1973, trung đoàn được lệnh tăng cường lực lượng cho trận đánh lớn ở Đồng Tháp. Từ biên giới Việt Nam - Campuchia, trung đoàn chia nhỏ từng tiểu đội hướng thẳng về Long An. Suốt đêm hành quân bí mật, mệt mỏi, gần đến nơi tập kết tạm thời, tiểu đội trưởng kêu chú đi kiếm cá về chuẩn bị bữa ăn sáng. Chú mải miết thả câu, say mê gỡ cá thì nghe tiếng máy bay cùng với xe tăng lội nước của địch rầm rú, bất ngờ bắn phá tàn khốc vào khu ém quân của trung đoàn. Hỏa lực và sức mạnh của địch ác liệt, khiến cả tiểu đội của chú không còn ai sống sót, rất nhiều chiến sĩ hy sinh. Còn chú thì bị lạc giữa Đồng Tháp Mười mênh mông sông nước với trạng thái nửa tỉnh, nửa mơ. Nhờ rau dại, lúa trời và cá tôm, chú sống dật dưỡng qua ngày, đoạn tháng.

            Ngày trở lại quê nhà, trên bàn thờ nghi ngút khói nhang có trưng bức ảnh của chú. Thì ra mọi người tưởng chú đã hy sinh mất xác trong trận đánh đó. Đau đớn hơn, chú còn được tin là đứa bạn thân thời chăn trâu có quan hệ trên mức bình thường với cô vợ của mình. Lúc đầu, chú định làm cho ra lẽ, nhưng khi suy nghĩ cặn kẽ, chú chấp nhận một cái chết. Dẫu sao vợ của chú giờ đây cũng có bờ vai của người đàn ông để dựa, con của chú cũng có người cha để gọi, dù đó chỉ là ba dượng. Chú âm thầm lặng lẽ ra đi. Đi đâu. Theo tiềm thức, chú tìm đến được quê hương của tiểu đội trưởng. Ngôi nhà nhện bám giăng tơ, không một bóng người. Nhìn lên bàn thờ không chút khói nhang có di ảnh của tiểu đội trưởng. Hỏi thăm bà con xung quanh, có người chắc lưỡi nói:

- Nhà đó không còn ai cả. Chỉ còn đứa con gái sinh sống. Ba nó hy sinh trước giải phóng, nó sống với bà ngoại. Cách hơn tháng, ngoại nó cũng qua đời, người thân bên ngoại mang về thờ. Chắc do những cú sốc từ phía gia đình, gần đây, nó thơ thơ, thẩn thẩn bỏ nhà đi biệt.

- Làm sao mà biết được cô gái ấy. không một tấm hình lưu lại. Chú đau xót hỏi.

- Hồi nhỏ tới giờ chỉ sống ở đồng bưng, nó có đi đâu mà chụp ảnh với hình. Cũng dễ mà, nó bị câm và điếc bẩm sinh do ảnh hưởng chất độc da cam từ ba nó. À, con nhỏ mê bắt cá, hái sen, bông súng đồng. Thấy bông là sà xuống hái rồi cài lên mái tóc.

            Chú tức tốc đi tìm. Chẳng biết tìm ở đâu. Cứ đi và hỏi thăm. Trời xui đất khiến. Chú gặp cô gái ấy đang lội xuống ao hái sen ở Đồng Tháp Mười.

            Chú Sáu trầm ngâm một lúc rồi tiếp:

- Lúc ở khu dân cư, chú mà dời ra đây trễ một vài ngày, chắc bà ấy sẽ lên cơn điên dại như ngày trước.  

            Giọng của chú Sáu đã ngừng hẳn từ lâu, nhưng Tân vẫn còn nghe tiếng đồng âm khác trổi lên từ ao sen, quán lá đơn sơ của bà Câm, từ lòng đất, trong không trung vòng vọng lại. Đó là thứ thanh âm rất quen mà cũng rất lạ. Nó bất ngờ quá khiến Tân không nhận ra đó là tiếng gì.

* * *

             Tân được huyện cử tháp tùng theo đoàn dự lễ khởi công Đài tưởng niệm liệt sỹ trung đoàn 207 tại Đá Biên, Long An, sẵn chuyến ghé Tháp Mười tham quan Gò Tháp. Huyện cũng nhờ Tân thiết kế cả tua du lịch, vì anh được xem như là “thổ địa” nơi nầy. Anh quyết định chọn quán bà Câm để khách phương xa được trải nghiệm thực tế: chống xuồng, giăng lưới, đổ lợp, hái sen, ngắt bông súng…mang về cho chú Sáu nấu các món ăn dân dã, đồng quê. Mới vừa gặp chú ấy, chỉ cái bắt tay đầu tiên, một vị trong đoàn sung sướng reo to:

- Ôi giời ơi, anh Sáu, Sáu “cá” phải không? Cả trung đoàn 207 ai mà không biết tài nghệ của chú.

- Hình như anh là…Chú Sáu giọng run run, ngập ngừng hỏi.

- Tuấn “sốt rét” nè. Sinh viên Đại học xây dựng miền Bắc nhớ chưa?

- Hồi đó, chú mầy mới vô một hai ngày, cứ lên cơn sốt rét hoài nên đơn vị chuyển về hậu cần trị bệnh.

- Em biết chứ. Chiều ấy em đi thì tối hôm đó đơn vị hành quân về Đồng Tháp Mười, có nhiều đồng chí nằm vĩnh viễn ở rừng tràm, còn linh hồn bay theo mùi hoa sữa xa xôi.

            Người đồng đội năm xưa của chú Sáu giờ đây ăn nên làm ra, nghe nói làm đến chức gì đó lớn lớn trong ngành du lịch. Chuyến này về lại chiến khu xưa, ngoài hỗ trợ làm đài tưởng niệm, ông ấy còn khảo sát thực tế để có thể đầu tư, phát triển ngành du lịch tỉnh nhà trong thời gian tới. Thấy mô hình quán bà Câm quá hay, ông ta có ý định mở rộng quy mô. Đồng thời, gián tiếp giúp đỡ người bạn chiến trường phát triển kinh tế, làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương này. Chú Sáu lắc đầu nói:

- Không được đâu Tuấn à. Hồi nào tới giờ, anh chỉ biết bắt cá, hái sen cho bà vợ vừa câm, vừa điếc bán buôn kiếm chút đỉnh sống qua ngày. Chứ chưa bao giờ anh nghĩ đến việc làm ăn, tranh cạnh, hơn thua với ai cả.

- Đừng nghĩ làm du lịch là cái gì đó cao xa, dữ dội, phải đầu tư trang thiết bị hiện đại để thu hút khách. Mỗi người dân ở vùng đất này là một nhân viên du lịch. Anh bình dị với những công việc hằng ngày của mình, chính là anh đang làm du lịch rồi đấy. 

            Đúng ra là sau khi thăm Gò Tháp, cả đoàn chạy về nghỉ ngơi ở thành phố Tân An. Nhưng không hiểu lí do gì, người đồng đội của chú Sáu yêu cầu mọi người cùng trọ lại qua đêm ở Gò Tháp. Ăn uống, đi đứng thì có thể dã chiến, nhưng ngủ nghỉ ít nhất phải có một mái nhà dù là tạm bợ. Tân nhanh trí liên hệ với các quán còn lại. Không ngờ, anh  được họ giúp đỡ nhiệt tình, có người còn cho mượn không tính phí. Rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi đó, với Tân, anh có sự lí giải rất riêng: có thể các chủ quán nhận ra được ý nghĩa những thanh âm phát ra từ trong tiếng nói thẳm sâu của bà Câm: “Á…í…ái…ái…”. “Ái” có nghĩa là yêu thương: yêu công việc của mình, yêu người thân bên cạnh, yêu quý khách hàng, yêu cây cỏ, con cá, bờ hoa…Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của quán bà Câm.

            Sau một đêm thao thức với đoàn khách, Tân còn nhận ra thêm là tại sao người ta có thể chối bỏ những nơi có đầy đủ vật chất tiện nghi để về với nơi hoang sơ, hẻo lánh Gò Tháp? Vùng đất đạn bơm khói lửa, lắng đọng trầm tích văn hóa, được tích tụ qua mấy nghìn năm lịch sử. Ở nơi này có những con người yêu người khác hơn chính mình, hiểu thiên nhiên đất trời hơn hiểu chính bản thân mình. Và về đây để được sống thật, được lắng nghe: Tiếng vọng của đồng bưng.   

                                          Tháp Mười, 8/2016

                                                                                                   

             

             

              

             

 

           

 

 

                 

             

             

 
     
  Cộng tác viên ( Hồ Văn (Báo Văn nghệ Đồng Tháp))  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

1 2 3 4 5 6 7 8 9 
 Bài mới cập nhật









  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)












  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |