Thứ Ba, ngày 1 tháng 12 năm 2020        
     
 
   Bút ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  21/10/2010  
  Gió đưa sợi khói lên trời  
 

Ngày nhỏ, trong nhà tôi, có hai món đồ của ba tôi mà không một đứa con nào dám đụng chạm,phá phách, đó là cái ống quẹt và tĩn thuốc của ông.Cái ống quẹt của ông là loại rất thông thường, có bán ở các tiệm. Loại quẹt có tiêm làm bằng bông của trái gòn khô, chế dầu lửa. Nhưng cái ống quẹt của ông tới chừng cục đá lửa sắp hết vẫn mòn đều nhau, mỏng như miếng giấy, tiêm quẹt không kéo cao, nhưng không khi nào phải quẹt đến cái thứ hai, bao giờ trong chỗ chứa gòn cũng có sẵn một viên đá lửa dự trữ.

 
 
 

            Ngày đó nhà tôi sống trong vùng giải phóng. Sự liên hệ của vùng này với thành thị lúc đưôc, lúc không do sự lên xuồng “thời tiết” của cuộc chiến.Muốn mua được thuôc xiêm mẳn Hoà An chỉ có con đường từ chợ Cà Mau đưa vào, nhưng ít khi nào ba tôi thiều nó.Là bởi, nó có thể dự trữ được rất lâu.Sau khi mua về ba tôi xởi cho thuốc tơi xốp ra rồi ém lại đầy trong tĩn,Đây là loại tĩn bằng sành dùng đựng nước mắm, tôi còn nhớ lại tĩn nước mắm này có hiệu là iên Thành. Đựng thuốc trong loại tĩn này, thuốc rất im, không bị mốc, nhưng sợi vẫn mềm dịu, không bị khô giòn. Sợi thuốc dài, nhỏ nhuyễn, màu vàng sậm, vấn bằng giấy quyến thiệt, đốt lên tàn trắng phao, có thể cháy đến nữa điếu mà tàn vẫn chưa rụng nếu đừng động đậy, không khi nào tắt nữa chừng, muốn tắt phải dụi. Ba tôi thường dụi tắt khi hút cỡ ba phần tư điếu rồi dán những cái tàn thuốc ấy lên cây cột nhà, để lúc nào thắt ngặt thì “tái sử dụng” bằng cáh gom ba tan vô một điếu. Không nhớ đã nghe được từ đâu, nhưng từ những ngày thơ dại ấy tôi đã thuộc được hai câu ca dao:

            Thuốc rê Cao Lãnh thơm nồng

            Con gái Cao Lãnh má hồng thấy mê.

            Ngày ấy chưa nghĩ tới chuyện má hồng, nhưng hai câu ca dao trên đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu nặng và vùng đất Cao Lãnh là một trong những nơi tôi thèm muốn được đặt chân tới, nếu mai kia đất nước thanh bình, con người được tự do đi lại, không còn bị ngăn trở. Thế mà phải mất hai mươi lăm năm sau giải phóng tôi mới thật sự được đặt chân đến Cao Lãnh. Nói thật sự đặt chân là vì cũng có đôi tôi đi qua con đường này từ Long Xuyên đi về Sài Gòn, nhưng chỉ ngồi xe qua ngang thôi chứ chưa được lần nào ghé lại. Mỗi lần khi đến bắc Cao Lãnh hiện ra, trong đầu tôi lại thức dậy câu cao dao cũ, nhưng cuộc bươn chải áo cơm cũng đã làm phai nhạt dần cái ước muồn xưa kia.

            Trong mùa lũ lớn năm nay tôi mới có dịp đến với Cao Lãnh. Nhưng chỉ hơn một giờ sau khi đến, tôi phải để lại sau lưng cái thị xã đầy ấn tượng vì sự thoáng sạch, trù mật, để đi tàu vào vùng rốn của Đồng Tháp Mười. Một đêm, ngồi trên cầu treo của thị trấn Tràm Chim, huyện lỵ huyện Tam Nông, nhìn xuống chiếc ghe kéo từng đàn, từng chùm có đến năm bảy chục chiếc xuồng câu lừ lừ đi ngược lên những cánh đồng nước trắng xoá phía biên giới, nhìn những đốm lửa thuốc lập loè trên những xuồng câu ấy, tôi nói với anh Huỳnh Công Trường, một bạn văn, là Phó chủ tịch của Hội Văn nghệ Đồng Tháp, người tổ chức chuyến đi cho chúng tôi, về hai câu ca dao và ước muốn của tôi ngày nhỏ, mong có một ngày được đặt chân lên đất Hoà An, nơi có loại thuốc xiem mẳn gắn bó gần một đời với ba tôi. Sau một lúc im lặng, anh Trường mới chẫm rải nòi, như bản tính hiền từ của anh:

            Bây giờ ông mà tới Hoà An chắc ông sẽ buồn mà làm thơ được. Bởi vì, thuốc rê Hoà An không còn nữa. Không riêng gì Hoà An,hầu như nghề trồng thuốc Cao Lãnh đãn bị thất truyền. Chỉ còn một vài ông già vì sợ mất giống, vì nhớ hoài đời sống ngày xưa và cũng vì không hút được loại thuốc nào khác nên mỗi năm còn trồng đôi ba chục, một trăm gốc thuốc cho đỡ nhớ nghề. Chứ trên thị trường, thuốc rê Cao Lãnh đã hoàn toàn vắng bóng.

            Trầm ngâm một lúc anh trường lại nói:

            - Nhưng tôi có thể giới thiệu với ông một người có thể làm sống lại nghề thuốc Hoà An bằng cách… kể chuyện.

            Thì ra người đó là Hữu Nhân, một nhà thơ trẻ của Đồng Tháp cùng đi trong đoàn. Thế là từ bữa đó, tôi bắt bồ với Hữu Nhân để đến đâu chúng tôi cùng được ở chung một phòng. Quả thật khi tôi vừa hỏi tới nghề thuốc Cao Lãnh thì Hữu Nhân hào hứng vào chuyện ngay:

            - Tôi cưới được vợ cũng nhờ nghề trồng thuốc Hoà An. Vợ tôi quê Hoà An. Nhưng phải đạp thuốc muốn rã chân mới làm rễ được xứ này.Tôi học trung học ở thị xã Cao Lãnh, theo bạn về Hoà An chơi rồi đâm mê làng thuốc, sau đó mê người.

            Theo Hữu Nhân, thuốc rê cao Lãnh không chỉ có Hoà An mà còn có ở các xã Tịnh Thới, tân Thuận Đông, Thân Thuận t6ay, hai xã sau là đất cù lao. Đây là những vùng đất thuộc từ bốn tới năm đời, đất màu mở, hệ thông kinh mương nối ra sông rạch đã hoàn thiện từ lâu nên không còn bị phèn chua. Đất mới không trồng thuốc được, ngẫm ra cây thuốc Cao Lãnh là loại cây rất khó tình. Hữu Nhân cho biết, năm 1989 diện tích đất trồng thuốc ở Cao Lãnh còn 17 héc ta, còn bây giờ thì… hết.

            Nghề thuốc lá là một nghề rất cực, không phải nặng nhọc nhưng rất công phu từ gieo trồng, chăm sóc tới thu hoạch, chế biến. Chỉ cần sơ sẩy trong một khâu có thể làm hư cả mùa thuốc làm cho thuốc xuống chất lượng và mất gái.

            Mùa thuốc bắt đầu từ mùa lũ. Sau khi lũ vừa rút đi, người làm thuốc bắt tay vào vụ. Đầu tiên là làm đất và ươm giống. Đất phải được cuốc lên tơi xốp, đánh thành luống, thàng giồng. Cây giống phải ươm trong bầu, ở nơi thoáng nhưng không được quá nhiều nắng. Cây giống ươm trong bầu từ một tháng cho đến một tháng rưỡi mới đem đặt tròng xuống luống. trước khi trồng, luống phải được cuốc lỗ, bón phân trước đó một, hai ngày. Sau khi trồng, cây thuốc ngày nào cũng phải tưới, chỉ gần đến thu hoạch việc tưới mới giảm xuống cách một ngày. Lượng nước tưới cũng vừa phải,không được quá nhiều và giọt tưới phải nhẹ và đều, nên phải làm bằng tay với hai thùng gánh. Người trồng thuốc cả ngày tết cũng không được nghỉ, phải dành một buổi để tưới thuốc. Khoảng tháng ba âm lịch thì bắt đầu hái thuốc. Thuốc được hái theo từng đợt và theo đó cho ra các loại thuốc có chất lượng khác nhau. Đầu tiên là lá cái. Kế đến là lá kèo với ba loại: kèo 1, kèo 2, kèo 3. Sau cùng là lá chồi, có chồi lòn, chồi đọt. Lá thuốc sau khi hái phải bó lại chất trong mát ba ngày, gọi là ủ. Công đoạn quan trong nhất là quy trình chế biến gồm có xắt, đập và phơi. Đây cũng là những ngày nhộn nhịp của cả làng thuốc. Mỗi mẻ thuốc bắt buộc phải xắt trong một đêm, nên tuỳ theo lượng thuốc thu hoạch của từng nhà mà số thợ làm nhiều hay ít. Có ba loại thợ chuyên biệt cho công đoạn chế biến này. Đầu tiên là thợ xắt, đây là loại thợ chuyên nghiệp, trong làng thuốc, chỉ đôi người làm nghề này, đôi khi nhà họ không hề trồng thuốc. Thuốc có đều, nhuyễn, đẹp hay không là do bàn tay của họ. Doa xắt lưỡi mỏng và dài, thuờng phải đặt rèn từ vùng Chợ Mới. Bàn xắt là một tấm ván chạm hình con cừu, sự tinh xảo của cái bàn cũng nói lên đẳng cấp tay nghề của người thơ. Thợ xắt hầu như chỉ có nam giới. Thuốc sau khi xắt được trải thành từng phần đều nhau trên những tấm líp đan bằng tre, ngang bốn tấc, dài mét sáu. Đấn đây là công đoạn của thợ đạp, còn gọi là thợ dậm, cũng toàn cánh trai tráng. Mỗi dậm là muồi lăm líp chồng lên nhau, cứ sau một lúc đạp thì đảo từ líp trên xuống. Bao nhiêu thợ dậm thì cũng chừng ấy thợ phơi, toàn những cô gái chưa chồng. Đây là cơ hội băng vàng để chân dậm chọn tay phơi. Họ hào hứng và công khai chọn nhau thành từng cặp. Những lúc nghỉ giải lao hay ngưng chờ thợ xắt mài dao là dịp để các cô thợ phới bày tỏ tình cảm của mình với người được chọn bằng tô chè, cháo gà,ly rượu, hay một ly trà với tán đường thốt nốt mà gia chủ đã chuẩn bị sẳn để phục vụ suốt đêm. Sau đó, ngoài ánh sáng là những cái đưa mắt, trong bóng tối là những cái năm tay, họ dắt nhau đi hết mùa thuốc từ nhà này đến nhà khác. Hoà An vào mùa này, đứng từ cầu Cái Sâu, cách gần một cây số nhìn vào cả một vùng sáng hực đèn măng xông. Những câu hò, những lời hát đối, những câu chuyện tiếu lâm ý nhị cũng từ đây sinh ra.

            Ngoài điều kiện thổ nhưỡng, giống, kỹ thuật, canh tác và chế biến như đã nói, sờ dĩ thuốc rê Cao Lãnh nổi tiếng thơm ngon còn do một yếu tố ít người biết đó là phân. Phân bón không thể dùng phân hoá học hay phân chuồng, phân hữu cơ mà chỉ bón bằng một loại phân làm từ cá linh. Thành ra năm nào trúng mùa cá linh thì mùa thuốc năm đó cũng trúng hơn, cất lượng ngon hơn.

            Thuốc đặng ngon phải phơi đủ ba nắng, ba sương. Còn anh Hữu Nhân để có được cô thợ phơi về mình phải qua mất mấy mùa thuốc. Và, nỗi niềm trong mấy mùa thuốc ấy đã biến anh thành một người… làm thơ.

            Công nghiệp thuốc điếu ngày nay với ưu thế là sự tiên dụng và giá thành hạ đã làm biến đổi thói quen của cả một thế hệ người dùng, đó chính là nguyên nhân làm cho nghề thuốc rê Cao Lãnh mai một.

            Đêm cuối cùng ngủ tại thị xả Cao Lãnh, mờ sáng đã thấy Hữu Nhân đến tiễn tôi với cái bọc trên tay. Anh nói:

            - Đêm qua, tôi kê cho một ông già trong xóm nghe chuyện có một người là ba anh, gần suốt đời chỉ hút một loại tuốc xiêm mẳn Hoà An. Ông ta đã gởi cho ba anh bánh thuốc do chính tay ông trồng. Tôi không nỡ nói là ba anh đã bỏ thuốc, đành phải cầm cho ông vui.

            - Tôi lần mở bọc. Sau lớp lá chuối xanh non là bánh thuốc xiêm mẳn vàng ươm, i ỉ trong tay như đang tươm mật. Giây phút ấy tôi như được gặp lại tuổi thơ của mình và không khỏi chạnh lòng với những người làm thuốc.

 

 
     
  Nguyễn Trọng Tín ( Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |