Thứ Sáu, ngày 23 tháng 8 năm 2019        
     
 
   Bút ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  24/04/2019  
  Để có ngày Ba mươi tháng Tư…  
  Trong cái nắng muốn “cháy da, cháy thịt” những ngày giữa tháng tư, tôi có chuyến đi về biên giới Tân Hồng. Từ thành phố Cao Lãnh, để “trốn” bớt cái nắng chói chang, chúng tôi đi về xã Tân Nghĩa hướng Khu di tích sinh thái Gáo Giồng, cách Cao Lãnh chừng 17 cây số, men theo đường tắt ven bờ kinh ra thẳng Tam Nông, rồi từ đây tới thị trấn Sa Rài để qua xã Tân Thành B của huyện Tân Hồng.  Đường về các huyện biên giới giờ đây thật rộng rãi, bằng phẳng toàn đường beton tráng nhựa đi còn “ngon” hơn rất nhiều đoạn đường tỉnh lộ dài hơn chục cây số từ thị trấn Thanh Bình tới An Phong. Mừng cho bà con cô bác huyện đầu nguồn của tỉnh vì nhiều xã đã đạt chuẩn nông thôn mới với các tiêu chí: ĐIỆN - ĐƯỜNG - TRƯỜNG - TRẠM hoàn chỉnh. Xã Tân Thành B được thành lập một phần từ các xã Tân Thành cũ, Tân Công Chí và xã Thông Bình của huyện biên giới Tân Hồng. Từ trụ sở xã Tân Thành B được Bí thư Đảng ủy xã Nguyễn Ngọc Dũng giao cho cô bé phụ trách thương binh xã hội Phạm Thị Thủy Tiên dẫn đường, chúng tôi tới ấp 3 của xã cũng phải 6 đến 7 cây số đường dal để gặp Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Nghiệp.  
 
 


                                                                                                                       


Bà Mẹ VNAH Nguyễn Thị Nghiệp.jpg            

Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Nghiệp

Bà quê ở xã Tân Thành, quận Hồng Ngự, tỉnh Châu Đốc, nay là xã Tân Thành B, huyện Tân Hồng. Bà con ở đây thường gọi là bà Năm Duyên theo thứ và tên người chồng đã hy sinh mấy chục năm rồi. Năm nay bà đã bước vào tuổi 92. Bà ở chung với hai người con gái đều có gia đình riêng, nhà cửa khá khang trang. Bà Năm kể cho chúng tôi nghe chuyện “ngày hôm qua” mà hơn phân nửa gia đình bà người đã hy sinh, người mất một phần cơ thể rồi cũng ra đi bởi những vết thương gần như “chí mạng”, vì cuộc chiến giành độc lập, tự do cho dân tộc mình.

            Ông ấy thoát ly gia đình đi kháng chiến từ thời chống Pháp, làm ở bộ phận Kinh tài thuộc huyện Hồng Ngự, chung đơn vị với ông Phái, ông này sau cũng hy sinh, giọng bà lặng đi. Là du kích xã Tân Thành, dắt theo mấy đứa nhỏ làm bình phong, tôi theo dấu chân ông làm giao liên đưa thư từ nơi ông ở tới các anh em trong huyện. Rồi dẫn con đi rải truyền đơn, tiếp tế thuốc men và lương thực cho du kích… Đi đêm lắm cũng có ngày gặp … xui. Tụi lính Dinh Điền về Tân Thành điều tra bởi có điệp gián, mẹ con tôi bị chúng đưa lên đồn tra khảo, đánh đập, đem tôi ra giữa sông ngâm nước tới lỗ mũi muốn ngộp thở. Tôi chỉ nói đi nói lại một câu: Tôi là đàn bà có biết gì đâu! Biết ai mà nói bây giờ. Khai bậy, khai bạ mang tội chết, tôi không “gánh” nổi đâu. Tôi mạnh miệng la làng: Các ông không tin cứ đem bắn bỏ mẹ con tôi… Hai ngày không điều tra được gì có lẽ chúng cũng nghĩ chắc bị báo lầm nên tụi nó thả mẹ con tôi, bắt phải ở gần đồn. Chúng còn cho gia đình mấy chục lít gạo nhằm mỵ dân. Nhà tôi ăn vừa hết gạo là khăn gói xuống xuồng trốn luôn giữa đêm khuya. Sau nghe bà con nói chúng tức tối tìm ráo riết và hăm he nếu bắt được, chúng sẽ mổ bụng thả trôi sông mấy mẹ con luôn…

Rồi một ngày tháng 4 năm 1967 ông bị tụi lính trên xe zeep bắn chết trên đường đi công tác ở Vòng Cả Mũi, kẻ địch lôi xác ông về chợ để hăm dọa bà con cô bác đi theo cách mạng, ủng hộ cho cách mạng, làm nhụt ý chí của những người kháng chiến. Căm thù giặc, trừ thằng Út còn nhỏ và ba đứa con gái không đi được ở nhà với mẹ, còn lại mấy thằng con trai: thằng Hai Lợi, thằng Ba Thắng, thằng Tư Chiến, thằng Năm Thói… lần lượt đòi đi để trả thù cho cha và tôi cho chúng đi  cách mạng hết. Nhưng nói thật, trong tâm tôi, từ khi ông rồi lần lượt bốn thằng con trai vào trong đồng tham gia kháng chiến, tôi luôn phải sống trong cảnh “nước mắt chan cơm”. Lúc nào cũng hoảng sợ, giật mình thon thót khi có người muốn tìm gặp để báo tin chồng, tin con. Hồi ấy nói thật chúng tôi nhiều người chưa hiểu rõ ràng hai từ yêu nước là gì đâu. Ai nói không sợ chiến tranh, còn tôi thì nói thật tôi rất sợ những đứa con của tôi lại như cha nó, chết không toàn thây, ra đi không có một lời trăng trối, dặn dò bởi chúng là núm ruột tôi sinh ra, nuôi chúng lớn khôn từng ngày. Bà quệt vội hai dòng nước mắt chợt chảy ra từ khóe mắt ....Có người nói “hồi ức chiến tranh” không sai đâu. Lúc ấy và cả những năm sau giải phóng, nó luôn “ùa” về trong tôi, có lúc muốn bóp nghẹt tim mình khi nhớ lại. Ăn cũng nghĩ, ngủ cũng nghĩ, đi làm cũng nghĩ. Có lúc tôi nằm mơ thấy ông nhà tôi máu me bê bết cầm súng lăm lăm chạy, rồi nhảy xuống hầm bí mật, tôi la làng mà không hiểu sao lúc ấy tiếng nói không thể nào bật ra được. Ú ớ, chới với. Giật mình tỉnh dậy nước mắt đầm đìa, con cái lay gọi sợ tôi chết….

 Ông chết đi “giao” lại cho tôi cả tám đứa con “trứng gà, trứng vịt”, năm thằng con trai và ba đứa con gái. Với tấm thân ốm nhách, chắc chỉ bốn mươi kí, gần bốn mươi tuổi, tôi đã làm đủ nghề để kiếm gạo lo hai bữa ăn cho chúng, từ làm thuê, làm mướn, cắt lúa, làm bánh bò đội trên đầu chạy đi bán khắp nơi... Khi chúng “tròng trọng” một chút, không đứa nào nói với đứa nào, lại lần lượt đi theo giải phóng, đi theo mấy ảnh hết.

            Lo và sợ thật nhưng tôi nhớ tôi chỉ khuyên thằng Hai ở nhà sau khi bị thương nặng, còn lại bốn thằng con tôi không cản được đứa nào đi hoạt động, vào bộ đội, vào du kích, bởi ở cái xứ này lúc ấy không theo cách mạng thì cũng không được, chỉ có nước đi lính ngụy. Mà đi lính, nói thật nó nhục nhã, bị khinh bỉ lắm. Đi đâu gặp bà con chỉ có nước cúi gằm mặt nhìn xuống đất, không dám ngước nhìn ai đâu bởi Tân Thành nơi tôi ở hồi ấy ban ngày của địch, ban đêm là của Việt cộng mình.

Thằng Hai trong một trận chiến đấu khi đi công tác bị một mảnh đạn xuyên từ mắt xuống vỡ hàm, mắt mờ, gẫy 5 cái răng rồi miểng đạn chui tuột xuống bụng phá lung tung. Khi quân y trị mới hơi lành vết thương, ở nhà ít ngày nó lại đòi về đơn vị. Tôi khuyên nó: Thôi ở nhà để má lo lành hẳn, con đi lại vất vả thêm cho anh em. Nó không chịu đòi đi cho bằng được tiếp mấy anh và tôi phải chịu “thua” nó. Về đơn vị một thời gian, vết thương tái phát, mắt bị mù hẳn, nó được đưa ra Hà Nội trị bịnh và hạnh phúc đã “mỉm cười” với nó. Con tôi được đơn vị giới thiệu, cưới cho cô vợ người Ninh Bình. Vợ chồng sống với nhau khi đứa con lớn mười bảy tuổi thì vết thương tái phát, lần này thì nó ra đi theo ông ấy luôn để lại cô vợ trẻ và 3 đứa con thơ hiện giờ chúng đã trưởng thành, sống ở Vũng Tàu. Sau thằng Hai bị thương nặng, năm 1974 tôi nhận hung tin thằng Tư Thắng bộ đội huyện Hồng Ngự lại hy sinh trên Miên ở tuổi 22, tới nay vẫn chưa tìm được xác. Đau quá. Tôi như không còn nước mắt để khóc nữa chị à….

Cùng các con đi đón ngày độc lập của đất nước mình, trong lòng tôi vừa mừng vừa ngậm ngùi. Giá như….

Mẹ thật thà. Nghĩ sao nói vậy. Tôi hiểu câu mẹ nói nửa chùng. Nhìn mẹ, thương mẹ quá. Tôi nghĩ mất mát vì chiến tranh nhiều vô vàn song có lẽ sự mất mát của những bà mẹ là vết thương lòng không bao giờ lành dù Tổ quốc đã vinh danh Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Những người chồng, người con đã mất, một phần máu thịt của họ lần lượt ra đi vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước. Sự mất mát đeo đẳng những người phụ nữ ấy suốt cả cuộc đời. Trong chặng đường cách mạng dân tộc, họ đã nuốt trọn gần như tất cả những mất mát đau thương vào lòng.

Cả đất nước này luôn nghiêng mình trước các Mẹ.

Hoà bình đã trở về với đất nước Việt Nam, niềm vui đã trở lại nhưng nỗi đau thì vẫn còn đầy. Nhìn mẹ tuy bà vẫn nói cười vui vẻ, khoe mỗi tháng nhà nước phát cho gần 8 triệu đồng, xài sao hết, bà cho con cho cháu chứ để làm gì!?

Tôi ứa nước mắt. Số tiền đó như một nguồn an ủi nhỏ nhoi dành cho mẹ thôi, bởi các mẹ đã góp phần không nhỏ làm nên niềm kiêu hãnh, tự hào cho dân tộc chúng ta hôm nay.

                                                                                Phạm Thị Toán

 
     
  Cộng tác viên ( Báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |