Thứ Sáu, ngày 23 tháng 8 năm 2019        
     
 
   Bút ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  13/05/2019  
  Bút ký BA MƯƠI NĂM – MỘT CHẶNG ĐƯỜNG  
 

1.

Vào Tân Hồng à? Đi đường nào vậy? Thích đi đường nào thì đi. Nghe người bạn đồng hành với tôi hỏi vậy, tự dưng lòng mình cám thấy nao nao đến lạ thường. Chợt nhớ, năm 1989 thành lập huyện thì năm sau tôi đã có dịp ngồi tắc ráng từ Hồng Ngự vào Sa Rài. Mà hổng ngồi tắc ráng thì biết lấy gì mà đi. Con đường độc đạo từ Hồng Ngự vô Sa Rài mùa khô thì bụi đỏ mịt mù nhìn không thấy gì phía trước còn mùa mưa thì mặt đất nhão nhoẹt, xe đi như đánh võng. Thỉnh thoảng lại có một cây cầu bắc qua sông hư cả nhịp giữa phải ngồi vắt va vắt vẻo chờ có xuồng ai ngang qua để quá giang sang sông.

 
 
 

 



Vậy mà, ký ức còn như mới đó toanh đó thôi mà giờ thì muốn đến với Tân Hồng lại phải đắn đo lựa chọn đường nào để đi cho phù hợp với công việc vì có nhiều ngả vào quá. Đường chính vào trung tâm huyện ngày đó thì vậy. Còn những con đường giao thông liên xã thì sao. Mấy tuyến đường như Sa Rài – Dinh Bà, Thông Bình – Tân Phước, Tân Phước – Giồng Găng, Sa Rài – Tân Thành… chỉ đi lại 6 tháng mùa khô. Mùa mưa, lỡ kẹt lại thị trấn Sa Rài mà công việc chưa xong thì chỉ có cách mượn ghe xuồng hay tắc ráng rồi nhờ người đưa đi chớ đường bộ thì vô phương.

Chỉ sơ lược ít dòng vậy thôi về chuyện năm nào để thấy rằng hệ thống giao thông hiện nay trên địa bàn huyện Tân Hồng như thể “ngày đi như trong đêm mơ”. 138 tuyến đường trong đó có Quốc lộ 1 đi thẳng từ lên đến biên giới Việt Nam - Campuchia; 03 Tỉnh lộ; 11 đường Huyện; 79 đường xã - đường nội bộ cụm, tuyến dân cư và đường nội đồng; 34 đường đô thị), với tổng chiều dài 374,26 km đã tạo ra một hệ thống giao thông liên hoàn khắp cả huyện và nối liền với cả tỉnh bạn Long An. Ngoài ra còn có bến xe khách của huyện, bến xe khách Tân Phước của doanh nghiệp tư nhân Phương Nam đầu tư và 11 bến đò ngang đảm bảo an toàn giao thông. Nhắc chuyện xưa đến đây, tự dưng tôi bỗng nhớ đến câu thơ: Nhịp cầu chật gió gọi thơ - Biên cương trĩu nặng dòng mơ hòa bình(Thai Sắc). Không mơ hòa bình cũng không được khi tuyến đường tuần tra biên giới dọc theo dòng Sở Hạ (Điểm đầu tại ranh tỉnh Long An, điểm cuối tại kênh Thống Nhất), với chiều dài 21,23km như một cánh tay trần của người dũng sĩ ngày đêm dang ra giữ lấy một vùng biên cương tổ quốc ở phía Tây Nam.

 

2.

Điện thắp sáng, điện sinh hoạt, điện phục vụ nông nghiệp và công nghiệp ở Tân Hồng giờ trở thành quen thuộc đến nỗi chẳng ai còn nhắc chuyện “tù mù” ngày nào. Nếu không lên với Tân Hồng những ngày đầu thành lập huyện thì chắc chắc không ai ngờ cả thị trấn trung tâm của huyện lỵ còn không có điện thắp sáng thì nói gì đến các xã nông thôn. Vài năm sau đó thì thị trấn Sa Rài mỗi đêm được thắp sáng bởi ánh đèn điện chừng ba tiếng đồng hồ từ một chiếc máy phát điện cũ kỹ do tỉnh trang cấp. Chuyện dùng đèn pin để mổ cấp cứu cho bệnh nhân khi xét thấy chuyển viện sẽ không kịp ở Trung tâm Y tế huyện Tân Hồng ngày đó vẫn thường xảy ra. Bữa ngồi trò chuyện với ông Lý Văn Bòn, nguyên Bí thư Huyện ủy Tân Hồng, tôi thấy ông như rưng rưng khi nhắc lại chuyện của thời gian khó ở đây. “Mãi đến cuối năm 1992, lưới điện quốc gia mới về đến Tân Hồng. Hôm đóng cầu dao điện lên, cả thị trấn Sa Rài từ trường học, cơ quan, công sở đến nhà dân trong thị trấn Sa Rài sáng choang nhiều cụ già mừng đến rơi nước mắt. Có người ôm chầm lấy tôi nói: Chết cũng vui rồi chú Sáu ơi. Cả đời tôi không ngờ mình chứng kiến cảnh tượng này. Mới đó thôi vậy mà năm 1996, 8/9 xã đã có điện lưới quốc gia. Hơn 3.000 ha có trạm bơm điện. Hơn 2.700 hộ sử dụng điện thắp sáng và sản xuất. Còn hiện nay thì toàn huyện Tân Hồng có 8 xã, 01 thị trấn đã có lưới điện quốc gia. Tỷ lệ hộ dân có điện sử dụng đạt khoảng 99,89 %, trong khu vực thị trấn đạt 100%, khu vực nông thôn đạt 99,89%; 4/4 xã điễm đạt tiêu chí xã nông thôn mới về điện.

Ánh sáng của điện lưới quốc gia ở Tân Hồng không chỉ là ánh sáng đơn thuần mà là ánh sáng của ý Đảng lòng dân. Ánh sáng này  đã xua đi bóng tối của bao mảnh đời nghèo khó và thắp lên trong lòng những người dân nơi đây khát vọng đổi đời, khát vọng về một tương lai giàu có và thịnh vượng của các thế hệ con cháu mai sau.

 

3.

Nhắc đến điện, đường thì phải nhắc đến trường, trạm. Năm 1989, Tân Hồng thành lập huyện cũng là năm tôi có một người vừa tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh về nhận công tác tại đây. Cao hứng, nhận lời bạn mời, tôi “khăn gói” lên Tân Hồng một chuyến rồi theo chân anh làm một vòng quanh huyện. Trường học thì tre lá tạm bợ, học sinh cấp I,II phải học 3,4 ca một ngày. Ấy vậy mà vẫn còn thiếu hơn 100 giáo viên. “Lẽ nào ông chịu cảnh này hoài hay sao? Không dạy được thì xin đi nơi khác chớ ở đây cứ làm cái chuyện phổ cập tiểu học vầy hoài lụt nghề hết?”. Anh cười: Trước tình cảnh vầy bỏ đi sao đành. Vậy là anh trụ lại đây cho tới giờ. “Từ ba, bốn ca một ngày xuống còn hai, ba ca. Rồi nhà trẻ, nhà mẫu giáo mọc lên. Năm học 1995 – 1996, huyện có hơn 30% tỷ lệ học sinh đậu vào đại học. Rổi hàng ngàn học sinh được phổ cập. Hàng trăm người tự nguyện theo học các lớp xóa mù. Công lao trồng người sau bao năm miệt mài vượt khó đã đâm hoa kết quả”. Nghe bạn tôi tự hào kể chuyện mươi năm trước thôi mà tôi cứ ngỡ như cổ tích. Không cổ tích sao được khi huyện đã đầu tư xây dựng 130 phòng học, 37 phòng chức năng, nâng tỷ lệ phòng học kiên cố và bán kiên cố của huyện lên 86,4%. Toàn huyện có 9/9 xã,  thị trấn được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 05 tuổi; 15/53 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 28,3%; học sinh tiểu học học 02 buổi/ngày đạt tỷ lệ 46,01% trong tổng số 8.869 học sinh tiểu học. Đó là còn chưa kể đến nhiều đề tài, dự án khoa học và công nghệ, trên cơ sở định hướng của Chiến lược là phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương, chủ yếu là lĩnh vực nông nghiệp phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp tại các xã Nông thôn mới được triển khai rộng khắp.

Ba mươi năm ngành y tế Tân Hồng cũng đã biến không thành có, biến cái không thể thành cái có thể để tất cả không vì ngoài mục đích chăm lo sức khỏe cho nhân dân. Nếu như những ngày đầu mới thành lập, không những trạm y tế tuyến xã mà còn cả trung tâm y tế huyện chỉ là những phòng ốc tạm bợ với vài ba bác sĩ, y sĩ đủ chăm sóc sức khỏe ban đầu. Thuốc men, phương tiện, dụng cụ y tế sờ đâu cũng thấy thiếu. Năm 2000, huyện chỉ có 6/9 trạm y tế bán kiên cố và kiên cố với khoảng 50 y, bác sĩ. Đây cũng là thời điểm mà mô hình thuyền y tế của Tân Hồng trở thành một “hiện tượng” độc đáo. Trạm y tế lưu động trên sông để phục vụ nhân dân trong lúc giao thông đường bộ còn trắc trở này với người dân Tân Hồng và những ai tận mắt chứng kiến đã trở thành một ký ức thật đẹp. Dần dà từ gần như “hai bàn tay trắng” khi ra riêng thì nay thiết bị y tế của các trạm y tế xã, thị trấn được các Dự án y tế đầu tư trang bị phù hợp với chuyên môn hoạt như: máy siêu âm, máy điện tim, ghế và dụng cụ Nha…  Trang thiết bị của Bệnh viện đa khoa huyện được trang bị theo Đề án 225 của Chính phủ viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Nhật Bản: bàn mổ đa năng thuỷ lực, bộ dụng cụ mổ mắt, bộ dụng cụ phẫu thuật tiêu hoá, bộ khám điều trị răng-hàm-mặt, lồng hấp sơ sinh, máy châm cứu, máy điện tim ba kênh, máy điện từ trường điều trị, máy đo điện giải, máy đo độ đông máu cầm tay, máy Doppler tim thai, máy gây mê kèm máy thở, máy khí dung siêu âm, máy Laser điều trị 25W, máy phân tích huyết học tự động > 18 thông số, máy phân tích sinh hoá tự động > 150 test/ 1 giờ, máy phân tích sinh hoá…

 

4.

Cuối cùng là những thay đổi làm chuyển biến cả bộ mặt của huyện Tân Hồng là hạ tầng đô thị, dịch vụ thương mại. Những dự án chỉnh trang đô thị được triển khai thực hiện như Dự án nâng cấp hệ thống thoát nước chống ngập úng, nâng cấp sửa chữa vĩa hè các trục đường nội bộ khu vực chợ Tân Hồng, nâng cấp sửa chữa đường Hùng Vương, đường Nguyễn văn Tiệp, đường 01 tháng 05 đường Nguyễn Trãi, đường nội bộ khu dân cư bến xe, nâng cấp bến xe huyện giai đoạn 2 và cống thoát nước đường Nguyễn Trãi… với tổng mức đầu tư hàng trăm tỷ đồng đã biến Sa Rài buồn tẻ, hiu hắt ngày nào trở nên sung túc và nhộn nhịp.

Tuy nhiên sự sung túc và nhộn nhịp này có phụ thuộc vào hệ thống dịch vụ thương mại vệ tinh xung quanh. Đó là có 02 chợ loại 2, 08 chợ loại 3 và 03 chợ tự phát và các chợ mang tính chiến lược cho việc phát triển thương mại, dịch vụ của người dân lâu dài như Chợ cửa khẩu Dinh Bà (xã Tân Hộ Cơ), Chợ Giồng Găng, Chợ chuyên doanh gia súc…

Ngoài ra, Tân Hồng còn có các khu kinh tế đang và sẽ được đầu tư như cụm công nghiệp cửa khẩu Quốc tế Dinh bà khoảng hơn 47ha, cụm công nghiệp Gáo Lồng Đèn với diện tích gần 45ha và các cụm, khu công nghiệp khác như Tân Thành B, Thông Bình… đang mở ra cho huyện biên giới này một tương lai xán lạn.

 

*

*  *

 

Chút chấm phá vài nét nhỏ như trên thôi cũng đủ cho chúng ta hình dung về một phần diện mạo của Tân Hồng hôm qua và Tân Hồng hôm nay. Tất cả nhưng thay đổi từ những điều nhỏ nhặt nhất cho đến những chuyện to tát đều thể hiện ý chí, nguyện vọng của biết bao người con của Tân Hồng đang từng ngày ra sức góp của, góp công, đóng góp trí tuệ của mình để đưa quê hương ngày phát triển lên.

Nhìn lại 30 năm của Tân Hồng, dẫu còn nhiều bộn bề công việc nhưng quả thực những gì hôm nay Tân Hồng có được sẽ là một dấu son chói ngời đủ sức nâng Tân Hồng bay cao hơn, xa hơn trong tương lai.

 

                                                                                                                        CHÍNH NGÂN

 
     
  Cộng tác viên ( Báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |