Thứ Sáu, ngày 6 tháng 12 năm 2019        
     
 
   Bút ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  20/09/2019  
  Hồi ký CHÚ TÁM ÁNH  
  Tám Ánh là tên thường gọi của chú Lê Văn Cượng, quê xã Hoà An, Cao Lãnh. Chú tham gia chống Pháp từ năm 1945. Khi có Hiệp định Giơ-neo chú không đi tập kết ra Bắc mà ở lại chiến trường miền Nam  
 
 


Ông Tám Ánh.jpg

Ông Tám Ánh

Để vừa giữ thế hợp pháp vừa tạo nguồn thu cho tài chánh Đảng, chú được cấp một chiếc ghe chèo mui ống với hai cái máy chụp ảnh. Một máy chụp phim rời và một máy Kodak chụp phim 6 x 9. Với chiếc ghe, chú rong ruổi đến xã này, ấp nọ chụp ảnh dạo cho dân. Chú tự tráng phim, in ảnh và giao ảnh, nhận tiền. Về tay nghề chú thuộc bậc thầy, ảnh chụp rất đạt. Là người kỹ tính, đặc biệt là khâu pha thuốc hiện, thuốc định dù đã thuộc lòng bài thuốc nhưng mỗi lần pha, chú đều để toa thuốc trước mặt, định lượng bao nhiêu nước, từng tên thuốc chú đều đưa lên cân đúng trọng lượng trên cây cân tiểu ly rồi đưa vào thau nhôm quậy đều cho thuốc tan hết mới đưa vị thuốc thứ hai...

Qua nổi dậy - tấn công cuối năm 1959 và năm 1960, Tỉnh ta mở ra nhiều vùng giải phóng. Chú được điều về Ban Tuyên huấn Tỉnh làm nhiệm vụ nhiếp ảnh. Chỉ có một mình với cái máy Kodak chú rong ruổi hết nơi này đến nơi kia chụp ảnh các phong trào nhân dân xây dựng, phát triển vùng giải phóng như trường học, nhà hộ sinh, làm chướng ngại vật chống địch càn quét, các cuộc lễ lớn, các mẹ các chị đi đấu tranh chánh trị, thanh niên đi tòng quân...

Một sự kiện có thể coi là cái mốc quan trọng là chú suy nghĩ tìm tòi làm phim ảo đăng (đèn chiếu) đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân ta trong lúc ta chưa có máy chiếu phim.

Việc tự sản xuất ra phim để chiếu là một việc khó. Trên nguyên tắc phim chiếu là phim dương bản, có nghĩa hình ảnh trắng đen y như thật. Máy chụp ảnh của ta chỉ dùng phim âm bản, tức là khi chụp hình ảnh trắng thành đen, đen thành trắng. Phim dương bản ta chưa có. Máy quay phim ta chưa có. Chú nghĩ ra cách dùng cuộn phim âm bản (đã chụp ảnh rồi) cặp sát với cuộn phim âm bản khác chưa chụp. Tất nhiên việc làm nầy dùng tay trong phòng tối. Hai cuộn phim nầy đưa vào cái a-đốp-tưa gắn vào máy chụp thùng. Trước ống kính chừng một thước, dán tờ giấy trắng để lấy ánh sáng. Chú lên từng kiểu phim rồi bấm máy cho ánh sáng từ tờ giấy tác động vào kiểu phim âm bản đã chụp rồi in qua phim âm bản chưa chụp, làm ảnh in qua biến trắng thành đen, đen thành trắng, tức ta có cuộn phim dương bản làm từ phim âm bản. Khó nói hết nỗi vui mừng sau những đêm thức trắng và mồ hôi đầm đìa khi điều khiển máy chụp, tráng phim...

Lúc đầu chú Tám lấy hình ảnh giới thiệu các cảnh đẹp của miền Bắc như Chùa Một Cột, Hồ Gươm, Cột cờ Hà Nội, Hạ Long... in trong quyển sách từ miền Bắc chuyển vào, sau chú nghĩ phải làm được nhiều bộ phim phong phú hơn. Lãnh đạo Ban quan hệ với hoạ sĩ Thới An (Nguyễn Văn Thới) đang ngụ ở xã Mỹ Thọ, đề nghị ảnh lên tham gia cùng chú Tám làm phim đèn chiếu. Vốn có máu mê làm việc nầy nên hoạ sĩ Thới An đồng tình. Có hoạ sĩ Thới An chú Tám thêm người vẽ tranh theo những cốt truyện được viết ra. Anh Thới An vẽ từng tấm đen trắng trên khổ giấy cỡ A4 bây giờ. Chú Tám theo thứ tự của cốt truyện mà lần lượt chụp từng tấm rồi in ra thành cuồn. Để hấp dẫn hơn, chú Tám dùng giấy màu tô ảnh tô vào từng tấm phim thành phim màu. Phải công nhận chú Tám có tay nghề cao và con mắt thẩm mỹ, đã biến cuồn phim đen trắng thành phim màu. Anh Trần Hựu - Phó Ban viết lời bình rồi anh và chị Năm Vạn làm xướng ngôn viên đọc lời bình theo từng kiểu ảnh. Đoàn Văn công Tỉnh hoà tấu nhạc đệm làm hấp dẫn thêm người xem. Lời và nhạc được thu vào băng nhựa máy ghi âm khi chiếu phát ra.

Có phim rồi phải có máy chiếu. Chú Tám nghiền ngẫm, mò mẫm thử nghiệm mấy lần. Sau cùng, chú nhờ anh Bảy Phúc ở công trường (binh công xưởng) Tỉnh dùng thiếc gò thành ống hình trụ tròn. Phía trước chừa lỗ tròn nối với một cái ống tròn nối với một ống nữa có thể vặn ra vặn vô để lấy độ rõ. Có một khe luồn cuốn phim từ trên xuống dùng tay kéo cho từng tấm ảnh nằm ngay ống kính. Ống nhôm ngoài gắn hai tấm kính lúp to cỡ miệng chén để phóng ảnh lớn ra. Cái đèn măng-sông để trong cái thùng rọi sáng về phía trước. Ngặt nỗi ánh sáng ra không đều, nên phải thiết kế để thêm một cái ly cối trong đựng đầy nước trong làm ánh sáng đều và sáng hơn, đồng thời hạn chế sức nóng lên phim. Tức cười bà con coi quen hễ thấy trên màn bạc có bóng nước sủi tăm lên thì kêu to: “Thay ly nước đi!”, vì biết trong ly nước bị nóng sủi bọt lên.

Mọi công việc coi như kết quả đạt yêu cầu, Ban thành lập đội Ảo đăng (đèn chiếu). Đội có các đồng chí Ba Vân, Tư Đức, Năm Mến hằng ngày mang bộ dụng cụ đến các xã, ấp giải phóng nhờ địa phương mời dân đến xem.

Trong hoàn cảnh chiến tranh thiếu thốn, nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân rất lớn, việc làm ra phim đèn chiếu đi phục vụ nhân dân là sự phấn đấu lớn với tinh thần tự lực tự cường, dám nghĩ dám làm, mà người có công lớn là chú Tám Ánh và hoạ sĩ Thới An.

Ảnh chụp chủ yếu dùng để triển lãm. Nhưng vì in trực tiếp nên cỡ ảnh chỉ 6 x 9cm, hạn chế người xem. Chú Tám Ánh lại suy nghĩ tìm ra cách làm máy phóng ảnh. Một cái thùng cây đóng kín bốn bên, bên trên chừa trống cho hơi nóng thoát ra. Bên trong thùng để cái đèn măng-sông. Mặt trước thùng cũng chừa chỗ đặt hai cái ống nối nhau có thể vặn gần hay xa. Trong ống vẫn đặt hai tấm kính lúp, khe để phim và có chỗ để tấm giấy màu đỏ để khi lấy độ rõ, độ gần xa tấm giấy in không bị tác động bởi ánh sáng. Tấm giấy in ảnh được kim ghim bốn góc lên tấm ván để thẳng đứng. Khi in phải in thử. Kéo tấm giấy màu đỏ lên cho ánh đèn rọi trực tiếp vào một tấm giấy ảnh cắt nhỏ vài ngón tay in thử. Dùng miệng đếm thầm một, hai, ba, bốn, năm... rồi đậy tấm giấy màu đỏ lại, gỡ tấm giấy in thử thả vô chậu thuốc hiện cho ảnh hiện lên, rồi đưa qua chậu nước sạch dùng tay cọ tấm giấy in cho sạch thuốc hiện mới để qua chậu thuốc định. Xong coi thử tấm ảnh ánh sáng vừa hay non hay già sáng. Nếu non hay già lại thử lại. Khi nào thấy vừa sáng mới phóng thiệt. Vì làm thủ công như vậy nên mất nhiều thời gian mới phóng được một tấm ảnh cỡ 20 x 30cm. Chưa nói đến ánh sáng đèn măng-sông tác động không đều lên tấm ảnh, làm cho tấm ảnh chỗ đủ sáng, chỗ non, chỗ già sáng. Chú Tám khắc phục bằng cách cắt một tấm cạc-tông nhỏ có hình răng cưa, khi phóng thấy chỗ nào dư sáng chú dùng nó quơ quơ trước tấm ảnh để che bớt ánh sáng tác động lên ảnh. Thức suốt một đêm, ướt lã mồ hôi lớp đói bụng, mệt vậy mà vẫn vui khi thấy một tấm ảnh được phóng thành công.

Chuyện vui là nơi đóng cơ quan ở Kinh Nhứt gần nhà ông Hai Tỵ. Nhà ông có cái đèn măng-sông. Chú Tám phải tới hỏi mượn cái đèn - mượn hoài, ông Hai Tỵ không nói gì nhưng chú Tám thấy rất ngại, nhưng vì không cách nào khác chú phải bấm bụng tới mở lời hỏi mượn hoài...

Ngoài trực tiếp làm chuyên môn, chú Tám còn là người thầy dẫn dắt lớp thanh niên vào nghề nhiếp ảnh như Hoàng Dũng, Bảy Thắng, Thanh Nguyên, Mười Long, Lê Dương...

Có thể coi chú Tám Ánh (Lê Văn Cượng) là ông Tổ ngành nhiếp ảnh Tỉnh nhà thời chống Mỹ./.

Nguyễn Đắc Hiền

 

 
     
  Cộng tác viên ( BÁO VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |