Thứ Bảy, ngày 19 tháng 9 năm 2020        
     
 
   Bút ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  10/09/2010  
  Nơi ấy, người nông dân đang tự nâng tầm  
 

         Một ngày ngang qua xã Thanh Mỹ- Tháp Mười, đi qua những đoạn đường rộng mát, nhìn những mảnh vườn xanh tươi xen lẫn những rẫy dưa, rẫy đậu và xa kia những ruộng lúa bạt ngàn, tôi lấy làm rất vui vì biết rằng có rất nhiều cái mới so với những gì tôi biết cách đây chỉ chừng năm, ba năm trước. Tôi trò chuyện với anh Nguyễn Dương Tuấn- Phó Chủ tịch UBND xã, về chuyện làm ăn, về đời sống của bà con nơi đây.

 
 
 

 

Một chuyến ngẫu hứng tháp tùng cùng mấy tay nhiếp ảnh thời sự vô một vài xã vùng sâu huyện Tháp Mười để tìm chụp cảnh sinh hoạt đổi mới ở nông thôn, rất tình cờ tôi gặp lại anh Tư Lên. Anh đang ngồi trên một chiếc xe máy đậu trước cổng trường tiểu học, nói là đợi rước hai đứa cháu nội, ngoại của anh sắp đến giờ tan lớp. Thấy tôi còn có vẻ ngờ ngợ, anh chủ động nhắc nhớ: “Tư Lên trong Kinh Hội, ba của thằng Đời, con Hương, hồi đó thầy giáo mấy lần vô nhà kêu cho tụi nhỏ tiếp tục đi học đó, nhớ chưa?” Chà, cái anh này- Tôi không khỏi ngạc nhiên- giờ đã biết chạy xe máy, lại còn đưa rước con cháu đi học nữa chứ! Chuyện gì đã xảy ra với cái anh “phụ huynh học sinh bảo thủ” trong hơn hai chục năm chúng tôi không gặp mặt. Hồi đó, tôi còn nhớ: ở cái xã vùng sâu Hưng Thạnh này, chuyện thầy cô giáo phải ba lần bảy lượt đến nhà học sinh để động viên gia đình cho các em tiếp tục đến lớp là chuyện phải làm thường xuyên, bởi có rất nhiều bà con vẫn cứ quan niệm: nông dân làm ruộng thì bằng tay, bằng chân, chứ học nhiều có thêm được hột lúa hột gạo nào đâu. Tôi mấy lần vô nhà Tư Lên chỉ vì thấy thằng Đời, con Hương tuy nhà nghèo nhưng ham học, lại học khá. Anh hết viện lý do: nhà không có người làm; đến lý sự: Xứ này mà học tới lớp bảy lớp tám thì cũng đâu thua kém gì ai, khiến tôi nhiều lúc cũng muốn chán nản. Người đàn ông giờ đã có cháu nội, ngoại đến trường có ý mời tôi về nhà anh ở trong kia tuyến dân cư  chơi “một bữa cho phỉ tình”. Anh hào hứng khoe nhà mình giờ không còn “ xập xệ như hồi trước nữa đâu”, con cái đứa nào cũng chí thú làm ăn; thằng Đời vậy mà giỏi, nó nhờ có ít chữ nghĩa nên học cách trồng chặt, áp dụng kỹ thuật này nọ đâu đó ngon lành và có hiệu quả lắm. Tôi cười: sao hồi đó...? Anh gãi gãi đầu: “ Quả tình, làm ruộng làm rẫy thời này, thứ gì ngày nó cũng mới. Dốt như tui mà đi nghe mấy ông kỹ sư hướng dẫn, về làm trật vuột một chút là thua. Bởi vậy, tui dặn mấy đứa nhỏ: cỡ nào cũng ráng lo cho con cháu học hành tới nơi, sau này còn nhiều thứ mới lắm...

Tôi mang cái cảm giác lâng lâng vì một sự thay đổi trong nhận thức của người nông dân thời đại mới vào cuộc trò chuyện với anh Trương Văn Đông, Bí thư Đảng ủy xã Thạnh Lợi- một nơi từng được xem như chốn khỉ ho cò gáy thuộc xã Hưng Thạnh trước đây. Anh Đông tỏ ý đồng tình với tôi theo cách cảm nhận từ sự thay đổi, đi lên của một vùng đất. Anh cho hay, từ một xã cực kỳ khó khăn, được sự quan tâm, đầu tư của trên, Thạnh Lợi đã từng bước thay da đổi thịt: điện, đường, trường, trạm có khả năng phục vụ tốt cho nhu cầu của người dân; từ đó đời sống của bà con được nâng lên rõ rệt, nhiều gia đình đã trở nên khá giả xây được nhà tường, nhà lầu hoặc mua sắm được những vật dụng sinh hoạt không thua kém gì ở thành thị. Tôi hỏi: “ Trong số những người khá giả ấy, có bao phần là những người nông dân đã từng gắn bó nơi mảnh đất này?” Anh đáp : “ Xã này dẫu sao vẫn là xứ thuần nông, cây lúa là chính, nên bên cạnh số hộ khá giả nhờ kinh doanh mua bán xăng dầu, phân bón hay làm dịch vụ bơm nước, cày xới, gặt đập...còn có nhiều nhà nông đi lên nhờ vào sự chuyên tâm sản xuất, học tập kiến thức về khai thác đất phèn để nâng cao năng xuất lúa, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa giống, lúa hàng hóa chất lượng cao hay áp dụng các mô hình kết hợp nuôi trồng thủy sản, gia súc gia cầm…nói chung, bà con mình giờ có nhiều người giỏi lắm!” Tôi tiếp tục cuộc trò chuyện bằng một câu nửa đùa nửa thật: “ Vậy chớ, ở chỗ mình đã có ông nông dân nào tự mày mò cải tiến máy móc, sáng tạo ra những mô hình sản xuất mới?” Anh cười: “ Bây giờ chưa thấy, nhưng biết đâu được!”

Ừ, thì biết đâu được. Nhà nông thời cơ chế thị trường họ tự biết mình không thể tự duy trì mãi lối sản xuất, canh tác lạc hậu như cái thời còn làm lúa một vụ trông mong vào chuyện nắng mưa của trời, vì như thế là đồng nghĩa với đói nghèo. Muốn vậy, họ phải tự vươn lên. Bữa trước, theo dõi tại hội nghị biểu dương các mô hình tập thể, cá nhân sản xuất, kinh doanh có hiệu quả được phổ biến nhân rộng từ năm 2006 đến 2009 của Hội Cựu chiến binh tỉnh, tôi để ý đến những đại biểu là những nhà nông ở vùng sâu Đồng Tháp Mười. Như anh Phạm Văn Trợ ở xã Láng Biển với việc thực hiện mô hình tổ sạ lúa theo hàng được đông đảo bà con nông dân hưởng ứng mang lại hiệu quả thiết thực: giúp tăng năng suất, tiết kiệm được lượng lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu đáng kể. Anh phát biểu: “ Việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào đồng ruộng là nhu cầu hết sức cần thiết hiện nay, vì gần đây việc sản xuất lúa chất lượng cao ngày càng được bà con quan tâm.” Như anh Huỳnh Văn Út ở xã Mỹ Đông với mô hình vườn- ao- chuồng- ruộng, vừa trồng lúa, trồng dừa, vừa nuôi cá và nuôi rắn ri voi có thu nhập rất khá, được nhiều người đến học hỏi. Hay như mô hình nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng lúa của nhà nông Nguyễn Văn Sáng ở xã Phú Thành B giúp cho gia đình anh từ hoàn cảnh nợ nần chồng chất đến nay đã có của ăn của để. Đây cũng là mô hình được nhiều bà con ở huyện Tam Nông áp dụng rất có hiệu quả. Nhiều hộ gia đình đã khá giả lên từ đây…

Một ngày ngang qua xã Thanh Mỹ- Tháp Mười, đi qua những đoạn đường rộng mát, nhìn những mảnh vườn xanh tươi xen lẫn những rẫy dưa, rẫy đậu và xa kia những ruộng lúa bạt ngàn, tôi lấy làm rất vui vì biết rằng có rất nhiều cái mới so với những gì tôi biết cách đây chỉ chừng năm, ba năm trước. Tôi trò chuyện với anh Nguyễn Dương Tuấn- Phó Chủ tịch UBND xã, về chuyện làm ăn, về đời sống của bà con nơi đây. Anh cho biết: Thanh Mỹ có 90% diện tích đất nông nghiệp chuyên canh cây lúa, có hệ thống kênh rạch chằng chịt lại gần với sông Cửu Long nên nguồn nước bạc dồi dào quanh năm, mang nhiều phù sa, rất thuận lợi trong sản xuất lúa, phát triển vườn cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản. Những năm qua, nhờ tranh thủ được các nguồn vốn vay của các ngân hàng chính sách xã hội, nên nhiều hộ gia đình có điều kiện áp dụng các mô hình sản xuất: cải tạo vườn tạp thành vườn cây chuyên canh như xoài, chanh kết hợp với trồng  hoa màu, nuôi tôm, cá đồng trong ao hầm và kết hợp trên đồng ruộng, đặc biệt có nhiều hộ gia đình đã tham gia sản xuất lúa giống, lúa chất lượng cao mang lại hiệu quả thiết thực. Qua đó xã đã thành lập được một số Hợp tác xã hoặc tổ hợp tác hoạt động ngày càng nề nếp, có chất lượng. Việc cơ giới hóa, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất được nông dân quan tâm ngày càng nhiều. “ Trước đây, nhiều bà con nông dân mình khi được mời đi dự hội thảo, nghe nói chuyện khuyến nông, khuyến canh là cứ lắc đầu nguầy nguậy. Giờ chỉ cần nghe nói có chuyên gia, kỹ sư ở trên về hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng cây nầy, con nọ là họ xăng xái đi nghe liền. Có cái đáng mừng nữa là ngày càng có nhiều người chịu khó nghiên cứu học hỏi kiến thức canh tác trên sách vở, báo đài, thậm chí cả trên internet nữa.” Tuấn nói với tôi điều này với vẻ mặt hớn hở lắm.Tôi hỏi: “ Vào những thời điểm khó khăn, giá nông sản bị sụt giảm, giá vật tư nông nghiệp tăng cao, nhà nông xứ mình đã đối phó thế nào ?” Tuấn tỏ ra là một người luôn gắn bó mật thiết với mảnh đất quê mình: “ Tất nhiên nhà nông sẽ có nhiều người điêu đứng. Nhưng nhà nông thì đâu thể tách rời với ruộng rẫy. Ở những thời điểm như vậy, không ít bà con ở xứ này do sớm biết ứng dụng khoa học kỹ thuật trong canh tác: giảm chi phí đầu vào nhưng vẫn giữ được năng suất cao, hoặc do nhanh nhạy trong việc nắm bắt thị trường: biết chọn giống, cây, con gì trong những thời điểm thích hợp, vẫn có được những khoản thu nhập khá ổn định. Ý thức hợp tác, liên kết trong sản xuất hay sản xuất với quy mô lớn, có chất lượng tốt hơn cũng dần hình thành từ đó.”

Tôi hiểu rằng, việc người nông dân ở vùng sâu Đồng Tháp Mười- một trong những nơi sản xuất lúa gạo hàng hóa lớn của nước ta- dần có ý thức thay đổi tập quán canh tác, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm chỉ mới ở bước khởi đầu, họ còn cần nhiều hơn nữa sự nhanh nhạy trong việc nắm thị trường, sự liên kết chặt chẽ trong tổ chức sản xuất và tiêu thụ hàng hóa…Nhưng có thể xem đó là những tín hiệu lạc quan, cấn khích lệ. Tôi nghĩ, người nông dân còn cần hơn nữa sự quan tâm, hỗ trợ từ phía nhà nước, các nhà chuyên môn. Và cũng rất cần sự đối xử công bằng từ các nhà doanh nghiệp.

                                                                                                                                             Trọng Quý

 

 
     
  Trọng Quý ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật












  • PHẢI VẮNG (20/08/2020)

  • CƠM NƯỚC ĐÁ (20/08/2020)








  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |