Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Phóng sự
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  01/02/2013  
  Nơi quá khứ mờ xa  
  Bạn bè có người nói tôi: cái thằng chỉ mới xấp xỉ bước vào tuổi “tri thiên mệnh” mà đã nặng lòng hoài cổ. Tôi nghiệm thấy mình quả có cái tính ấy thật.  
 
 


anh bai Trong qui 2.JPG

 

Bạn bè có người nói tôi: cái thằng chỉ mới xấp xỉ bước vào tuổi “tri thiên mệnh” mà đã nặng lòng hoài cổ. Tôi nghiệm thấy mình quả có cái tính ấy thật. Bởi tận sâu trong thâm tâm, tôi hay thích tìm về với những kỷ niệm xưa, với những gì thuộc về một thời quá khứ dù đã xa hoặc chưa phải xa lắm. Chuyến trở về xã Hưng Thạnh (Tháp Mười) của tôi lần này có một phần xuất phát từ sự thôi thúc được sống lại với không gian của một thời đã xa ấy. Nơi đây, 21 năm về trước, tôi vì một lý do rất đổi riêng tư đã phải nói lời chia tay sau gần 10 năm sống gắn bó với biết bao kỷ niệm vui buồn. Cái lý do về sự ra đi của tôi có lẽ nhiều bạn bè thuở ấy chỉ được biết ở mức suy đoán phỏng chừng. Thì bây giờ tôi sẽ nói huỵch ra đây: Hưng Thạnh vào những năm 80, đầu 90 của thế kỷ trước còn khắc nghiệt quá, nghèo khổ quá. Hiện tại mịt mờ, mà trông tới tương lai thì chỉ thấy xa xôi vời vợi như cảnh người ta chống xuồng qua cả cánh đồng Tháp Mười mênh mông vậy.Tôi suy nghĩ về sự xa vợi  này mỗi lúc càng lung hơn kể từ khi đứa con đầu lòng của tôi ra đời. Con tôi lúc vài tháng tuổi sức khỏe không thực sự tốt. Nó sẽ sống ra sao, có thích nghi nổi với cảnh “mùa nắng cháy da, đồng khô cỏ cháy, phèn dậy xanh kênh đỏ rạch, nước ngọt không đủ cho con người ăn uống tắm giặt; còn mùa mưa nước ngập ngang trời, phận người nổi nênh trong những căn nhà lúc nào cũng trong tư thế hồi hộp chuẩn bị đôn sàn, trổ nóc” như ở đây? Nó sẽ lớn lên như thế nào trong sự thiếu thốn, thua thiệt đủ điều so với nhiều nơi khác? Tôi mỗi ngày đến lớp, thấy trong đám học trò của mình không ít đứa chỉ chân đất đầu trần, nô giỡn nhau cũng chỉ còm cõi có mấy trò nhảy dây, tán u, rượt bắt mà không khỏi chạnh lòng. Lại có một chuyện khiến tôi càng thấy xót xa: bữa nọ, anh bạn đồng nghiệp của tôi không biết nghĩ sao lại mang vào tận đây chiếc xe đạp nói là để chạy lòng vòng sân trường cho đỡ buồn và cũng để làm dụng cụ trực quan dạy học, khiến cho không ít đứa học trò cứ đứng ngẩn người vì lần đầu tiên được tận mắt trông thấy cái “vật lạ” biết di chuyển trên bộ ấy. Con tôi rồi cũng sẽ lạc hậu như vậy hay sao?... Tôi đem ý định “hồi hương” của mình ra nói với anh Nguyễn Hữu Cần lúc đó là Chủ tịch UBND xã. Anh “chiêu an” tôi bằng một câu rất ấn tượng: “Ông ở lại đây lập nghiệp, tôi cấp liền cho ông hai chục công đất trồng lúa cải thiện cuộc sống!”. Nhưng tôi đã không cần đắn đo từ chối vì tương lai con mình và cũng bởi hồi ấy tôi quá hiểu cái giá trị của những mảnh đất trồng lúa ở đây cỡ nào. Có không ít người phải ngậm ngùi lâm nợ vì dám đi đầu làm lúa hai vụ, dù có khá nhiều tuyến kinh rửa phèn đã được hoàn thành từ chủ trương khai thác tiềm năng Đồng Tháp Mười.

Thật ra đây không phải là lần đầu tiên tôi “tìm về chốn cũ”. Năm năm, bảy năm, mười mấy năm về trước, tôi thỉnh thoảng cũng có những chuyến nhân đi thực tế rồi ghé thăm, gặp lại rất nhiều người quen cùng ôn chuyện thuở nào. Tôi đã nhận ra sự thiếu chính xác của mình khi phán đoán về tương lai phát triển của một vùng đất. Và chuyến trở lại lần này càng khiến tôi phải “sáng con mắt ra” hơn về điều đó.

Cô học trò Lê Thị Dung của lớp đầu tiên tôi chủ nhiệm khi mới ra trường giờ đương là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, sáng này cứ liên tục điện thoại cho tôi giục: “Thầy tranh thủ vào nhanh lên! Em đã hợp đồng với mấy bạn cùng lớp cũ đưa thầy vô tham quan mấy vuông tôm của bạn Đèo đang thu hoạch lứa tôm trứng, quy mô lắm!”. Hưng Thạnh giờ đã có chỗ làm vuông tôm? Chà, cái sự này nằm ngoài sự liên tưởng của tôi. Ở Phú cường, Phú Đức của huyện Tam Nông, chuyện người ta nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa vào mùa nước nổi  đã là chuyện không mới. Chứ ở Hưng Thạnh này- cái vùng đất một thời chưa xa còn phèn chua đỏ nước, con cá trê, cá lóc còn phải ngắc ngư vào mấy tháng đầu mùa mưa mà đã làm vuông nuôi tôm được thì quả là chuyện lạ đối với tôi.

Ngồi trên chiếc tắc ráng đi vào hướng giang đồng có nhiều thửa ruộng đang được tháo nước ra để bắt đầu cho một vụ lúa mới, Dung gợi lại chuyện cũ: “Thầy có nhớ chỗ này, hồi đó thầy trò mình lội bộ băng đồng năm, ba cây số vào xin tràm cháy của người ta về làm củi đốt?”.Ừ, thì làm sao tôi quên được: xứ này đất rộng mênh mông, ở một vài nơi đâu đó tận trong đồng xa người dân mở mang làm lúa một, hai vụ, còn ở những khoảng đồng nằm cận hai bờ kinh như ở chỗ chúng tôi đang chạy qua chỉ thấy có năn lác và tràm. Cây tràm mấy chục năm trước có giá lắm, rất nhiều người dân đã trồng với hy vọng được đổi đời, nhưng số người có được thu nhập từ cây tràm lại rất ít. Bởi tràm là một loại cây rất dễ cháy, vào mùa khô, chỉ cần một tàn thuốc lá vô tình của người đi bắt ong, bắt chuột là cả một đồng tràm vài ba năm tuổi chỉ còn mỗi nước đem về làm củi đốt. Chuyện ấy cứ diễn ra hết chỗ này đến chỗ khác, hết năm này qua năm khác. Củi tràm cháy trở thành một hình ảnh rất quen đối với bà con ở chốn này.Và thầy trò chúng tôi cũng đã có những kỷ niệm cười ra nước mắt như vậy đó. Dung tiếp tục câu chuyện: Xứ này giờ còn rất ít tràm. Đất ở đây giờ chỗ nào cũng làm được lúa hai, ba vụ năng suất rất khá. Nhiều bà con đã thực sự đổi đời nhờ làm ruộng hoặc làm dịch vụ, mua bán có liên quan tới cây lúa. Chuyện này thì tôi không lạ. Cách đây chừng nửa năm, Tiến- một học trò cũ của vợ tôi cũng ở xã này, nhân đi giao dịch làm ăn chi đó bên Sa Đéc ghé qua nhà tôi; câu chuyện hàn huyên em kể nhiều về chuyện làm ăn, mua bán của bạn bè trang lứa với em và những người vợ chồng tôi từng quen biết. Tiến nói: “Ở vùng đất mới phát triển, nhiều cơ hội mở ra cho mình làm ăn lắm. Người có nhiều vốn thì đầu tư mua máy cày, máy gặt đập, làm trạm bơm nước, mở của hàng vật tư nông nghiệp…, người ít vốn thì chịu khó để ý học hỏi các mô hình sản xuất, dịch vụ ở chỗ này, chỗ nọ về áp dụng vào chỗ mình, nhiều người đã làm thấy có hiệu quả lắm. Tỷ như mô hình ép và nuôi cá tra giống của một số hộ gia đình ở ấp Ba, hay mấy cái lò sấy lúa của nhà em làm mấy năm nay thu nhập cũng được kha khá… Phải chi thầy còn ở trong ấy có khi còn ngon lành hơn ở ngoài nầy. Con đường xuyên ngang qua chỗ mình nối liền từ Hồng Ngự, Tam Nông xuống Trường Xuân rồi sang Long an về Sài gòn giờ xe bốn bánh đã chạy ù ù, hàng hóa thứ gì cũng có, làm ăn mua bán thứ gì cũng dễ dàng, mau chóng”…

Cái vuông tôm của cậu học trò cũ Bùi Văn Đèo của tôi lại một lần nữa khiến tôi không khỏi ngạc nhiên. Tôi đã từng xuống Trà Vinh, Cà Mau, Bạc Liêu để xem cảnh người ta nuôi tôm sú, thấy có nhiều vuông tôm lớn, nhưng chưa hề thấy vuông tôm nào lại vào cỡ mỏi tầm con mắt như của em. “Cái bên này có diện tích 75 công đất- Đèo nói- cái bên kia chỉ gần 40 công thôi!”. Anh bạn nhà báo trẻ Phúc Hậu quê miệt Bến Tre cùng đi với tôi tỏ ra là một người khá am tường những chuyện kiêng kỵ của dân làm nghề nuôi tôm, nên sau một lúc đứng quan sát cảnh mấy chàng trai trẻ chạy xuồng máy trên mặt ao kéo lưới rạng tôm, anh lên tiếng một cách dè dặt: có được quay phim, chụp ảnh giới thiệu lên báo không? Đèo hơi nhăn mặt, nét mặt đã lộ nhiều nếp nhăn: “Xin thông cảm dùm, chuyện làm ăn mấy năm nay đang suôn sẻ”. Tôi chuyển ngay qua đề tài khác: “Đèo vào nghề nuôi tôm như thế nào, đã lâu chưa?”. “Dạ cũng đã năm, sáu năm nay rồi. Lúc đầu cũng học cách của người ta về làm thử, thấy được nên mở rộng dần, Nhưng ở đây em chỉ dám nuôi tôm mùa nước ngập thôi, thu hoạch xong chuyển sang nuôi cá”. “So với trồng lúa, nuôi tôm khá hơn nhiều không?”. “Nói thiệt để thầy mừng cho em, vụ mùa năm rồi vợ chồng em kiếm lời cỡ sáu, bảy trăm triệu.  Nhưng cũng phải đầu tư vốn nặng lắm – Chỉ tay vào đống thức ăn dành riêng cho  tôm cỡ năm, bảy chục bao, Đèo nói như than- Mỗi bao bảy trăm ngàn, nhiêu đó chỉ vài ngày là hết veo. Đại lý chỗ quen biết có thể ký sổ được, nhưng cũng có hạn thôi. Bữa nay rạng bắt mớ tôm trứng cũng là để thanh toán bớt tiền thức ăn hổm rày”. Tôi mừng cho Đèo, mừng cho bà con nơi đây có không ít người thực sự dám nghĩ dám làm và đã có thể làm giàu trên chính mảnh đất mà cha ông họ đã chọn làm nơi gắn bó lâu dài. Lúc nãy ở văn phòng Đảng ủy xã, ngồi trò chuyện giây lát với Phó bí thư thường trực Nguyễn Văn Cật, tôi được biết: mô hình nuôi tôm càng xanh mùa nước lũ qua mấy năm thử nghiệm thấy có hiệu quả cao, lợi nhuận ước đạt từ 40 đến 60 triệu đồng trên mỗi héc ta mặt ao. Cái sáng tạo của người nuôi tôm nơi đây là biết tận dụng nguồn nước sạch dồi dào từ con nước lũ thay cho những chiếc máy quay nước tạo ô xy, nên đỡ tốn chi phí.  Mùa lũ 2012 này có 54 héc ta đăng ký nuôi, hy vọng đều thành công mỹ mãn. Bên cạnh đó, mô hình ươm nuôi cá tra giống cũng lên đến diện tích trên 26 héc ta cũng được xem là một mô hình làm ăn có hiệu quả.

Tôi hỏi anh Nguyễn Văn Sáu- một đồng nghiệp cũ, giờ đang là Chủ tịch Ủy ban MTTQ xã, khi chúng tôi trên đường từ vuông tôm của Đèo trở ra: Ở đây việc thực hiện chủ trương xây dựng cánh đồng mẫu lớn có được thuận lợi không? Sáu tỏ ra là một người rất đổi am tường chuyện làm ăn của bà con nơi đây, bởi anh đã có gần 30 năm gắn bó với mảnh đất này: “Nghe nhà nước chủ trương xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn đã được thực hiện thí điểm thành công ở một số nơi, rất có lợi cho nhà nông, nhiều bà con nơi đây phấn khởi lắm. Do vậy, công tác vận động người dân tham gia không phải là chuyện khó. Hiện xã đã có 4 khu quy hoạch để triển khai thực hiện mô hình này; việc gặp gỡ, thương lượng để phối hợp với các nhà doanh nghiệp, nhà khoa học đã được xúc tiến thuận lợi, chỉ còn một điều chưa thống nhất với nhau được về địa điểm, cách thức thu mua lúa hàng hóa sau khi thu hoạch. Mình muốn các thứ sao cho thật có lợi cho người dân, trong khi doanh nghiệp bao giờ cũng muốn được chia sẻ quyền lợi. Để thống nhất được việc này chắc không phải là điều nan giải. Hy vọng một ngày không xa, mô hình sẽ mang lại hiệu quả tốt đẹp, giúp cho người nông dân nơi đây có được cuộc sống sung túc hơn, bộ mặt nông thôn ở Hưng Thạnh này ngày càng khởi sắc hơn”.

Một cái lạ, quá lạ nữa dành cho tôi, khi buổi chiều tôi với một tâm trạng bâng khuâng sẵn có trong người định tạt qua ngôi trường cũ cách đây năm năm vẫn còn lưu giữ rất nhiều bóng dáng một thời tôi từng sống. Nhưng biệt dạng đâu rồi? Tôi ngơ ngác trước một khung cảnh mà ngày xưa dù ngay cả trong chiêm bao tôi cũng không thể hình dung ra được. Đó là cảnh có đến ba dãy nhà lầu lừng lững, sáng tinh với đầy đủ bờ rào, khuôn viên, cây xanh…xếp thành một dãy dài nhìn ra con đường chính trải nhựa phẳng phiu. Thầy giáo Điệp phụ trách trung tâm giáo dục cộng đồng của xã vừa chạy xe chở tôi vào từng trường vừa khoe: trường mẫu giáo có 4 phòng học, 2 phòng chức năng để dạy đàn hát, rèn luyện sức khỏe, sắp đủ các tiêu chí đạt chuẩn quốc gia; trường tiểu học điểm chính có 8 phòng xây dựng đạt chuẩn quốc gia, trường trung học cơ sở có 16 phòng, riêng có thư viện vừa được công nhận đạt chuẩn quốc gia cách đây một ngày. Tôi tò mò vào phòng đọc sách, thấy có bảy, tám học sinh đang say sưa đọc mấy quyển sách truyện hay tài liệu chi đó. Lan man, tôi vừa thấy mừng cho lứa học hôm nay, lại thấy tủi cho các em học sinh ngày trước. Ừ, thì xã hội ngày càng phát triển mà!-Tôi tự nhủ. Thầy giáo Hiệu trưởng Nguyễn Văn Rum mời tôi về nhà tham gia tiệc rượu có đến hơn chục bạn bè quen thuở trước. Câu chuyện của anh em vẫn xoay quanh đề tài giáo dục. Tôi thực sự vui khi biết giờ trong đội ngũ giáo viên bây giờ rất nhiều người đã qua đại học, thậm chí có người còn đang học lên cao hơn, giáo viên, học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh riêng của trường thầy giáo Rum thôi cũng đã lên đến con số hàng chục. số học sinh ở xã thi đậu vào đại học những năm qua cũng khá nhiều. Chuyện thất học hay  xem nhẹ việc học ở xứ này giờ đã trở thành chuyện của một thời quá khứ mờ xa.

Lại nhớ chuyện cách nay chừng hai tháng, thủ trưởng Phạm Khiêm của tôi trong một chuyến vào Hưng Thạnh để tiếp xúc cử tri trở về, biết tôi đã từng có thời gian công tác nơi đây, anh hào hứng đưa ra mấy lời nhận xét: “ Cái chỗ ấy thay đổi đến mức không thể ngờ được, chỉ mới có hơn chục năm trở lại mà cứ như đi lạc vào chỗ nào. Nghe chuyện làm ăn của một số người trong đó thấy bắt ham. Nhà giàu ở xứ “khỉ ho” bây giờ có thua kém ai đâu…”. Và anh còn nói với tôi một ý định sẽ về tham mưu cho mấy đứa cháu ở vùng ngoài này đang làm ăn trật vuột mau thu xếp vào đó để tìm một hướng đổi đời.

Tôi lan man nghĩ ngợi: có phải trước đây mình đã quyết định sai?

T.Q

 
     
  Trọng Quý ( báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |