Thứ Năm, ngày 22 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Phóng sự
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  22/10/2010  
  Người tạo thương hiệu kép cho Tràm Chim  
 

Thị trấn Tràm Chim gắn liền với thương hiệu du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Tràm Chim. Thương hiệu du lịch là do thiên nhiên ban tặng: Ở đây, con người chỉ có nhiệm vụ bảo tồn và khai thác tiềm năng. Năm 2006, Tràm Chim có thêm một hồ sơ đăng ký thương hiệu, đó là “Tôm càng xanh Tràm Chim” mà người có công đóng góp cho thương hiệu này là cựu chiến binh Kiều Văn Hinh.

 
 
 

Năm 2004, do bản tính “con ngựa bất kham” không chịu ngồi yên một chỗ, không cam chịu số phận, không chịu bằng lòng với những gì đã có, tư Hinh chu du sang Thoại Sơn ở An Giang thăm thú theo nghĩa “đi một đoạn đàng, học một sàng khôn”. Bạn bè gặp anh ai cũng khoe: Nuôi tôm trên ruộng hốt bạc dễ lắm, rồi anh đi thực địa, nhận thấy cùng một diện tích nhưng sản xuất một vụ lúa, một vụ tôm sẽ cho thu nhập cao gấp năm đến sáu lần làm lúa.

            Chuyện nuôi tôm trên ruộng lúa ở Thoại Sơn như ma ám làm cho anh ăn ngủ không yên. Về thực địa đất nhà, địa thế cả vùng từ nguồn nước, giao thông… Tư Hinh thấy ăn đứt Thoại Sơn là chắc. Họ làm được, tại sao mình không làm – muốn ăn phải lăn vào bếp, Tư Hinh quyết định cái rụp. Quyết định nuôi tôm trên ruộng. Kiều Văn Hinh chuẩn bị các công đoạn từ con giống, lưới giăng, lên đê lửng, hệ thống nước… phục vụ 6 ha đất nuôi tôm càng xanh; nghe tin, ai cũng hỏi: Sáu công hay sáu ha? Tư Hinh cười lành nói: sáu chục công. Vợ con thì lo nhưng vẫn phải tuân lệnh với kế hoạch đã bàn bạc, thống nhất trong đại gia đình nhưng bà con lối xóm, ai cũng lắc đầu cho rằng như vậy là liều mạng, đời thuở nào mà lại dám bỏ ra cả nửa tỷ bạc để thử vận may. Biệt anh “Tư liều” có từ đó. Trò chuyện với tôi, anh Tư Hinh tâm sự: Thắng là cái chắc, còn về mặt tâm lý vẫn lo nhưng mình là trụ cột (chồng – cha – ông) nên phải biết giấu cái lo vào trong mà trấn an vợ con. Để đảm bảo cho nghị quyết đại gia đình thắng lợi, anh gắn bó với 6 hécta đất nuôi tôm suốt ngày đêm để theo dõi nguồn nước, tốc độ phát triển của tôm… tất cả đều theo quy trình của các nhà khoa học. Sau sáu tháng chăm bẵm kết thúc mùa vụ, tư Hinh thu 9.500kg tôm với giá 88.000đ/kg, ôm gọn 836 triệu, trừ chi phí anh còn lãi 450 triệu. Trả lời tôi về bí quyết của sự thành công vụ nuôi thử tôm càng xanh vào mùa nước nổi năm 2005, anh Tư Hinh bộc bạch: nuôi tôm khó nhất là khâu con giống không rõ nguồn gốc, còn thức ăn thì trên thị trường rất nhiều chủng loại, để chắc ăn, mình cứ lấy mẫu về nhờ Chi cục Kiểm định Đo lường chất lượng của tỉnh kiểm nghiệm, đạt tiêu chuẩn thì mua, không đạt thì chia tay.

            Từ kết quả không ngờ của vụ nuôi tôm thử mùa nước nổi năm 2005 của Tư Hinh, nhiều hộ nông dân trong ấp tìm đến anh xin thọ giáo để nuôi tôm vụ sau.Trước thực tế đó, tư Hinh mời mọi người về nhà mình họp bàn đại sự với mục đích không để người nuôi tôm (trong đó có gia đình mình) phải chịu thiệt thòi không đáng có: Hợp tác xã cổ phần Phú Long ra đời, Tư Hinh được mọi người nhất trí  bầu làm chủ nhiệm với số phiếu tuyệt đối. Tìm hiểu mô hình Hợp tác xã cổ phần Phú Long, được biết: Đất của ai người đó làm (Hợp tác xã có 32 hộ viên, tổng diện tích là 160ha vào năm 2006). Ban chủ nhiệm chỉ lo các dịch vụ: Tôm giống, thức ăn, đầu ra cho sản phẩm và nuôi chung 3,5ha đất thuê. Để có vốn hoạt động, đảm bảo dịch vụ  có lãi, Hợp tác xã cổ phần Phú Long quyết định bán 460 cổ phần, mỗi cổ phần 200.000 đồng, người mua nhiều nhất không quá một phần ba lượng cổ phần của Hợp tác xã. Nói về cái lợi của Hợp tác xã, Tư Hinh cho biết: Do mình hợp đồng mua và bán nhiều nên lúc nào cũng lãi 10% so với mua – bán lẻ theo giá trôi nổi của thị trường, nhưng đó chưa phải là cái lợi lớn nhất. Cái được ở đây là sản phẩm của mình đã có tư cách pháp nhân bảo hộ. Thức ăn, con giống, làm đê bao giá rẻ hơn hộ gia đình mua – thuê 10%, đầu ra cho tôm thương phẩm thị trường mua 100.000 đ/1kg nhưng Hợp tác xã hợp đồng được 110.000 đ/1kg, lợi cả đôi đàng.

             Năm 2005, một đoàn khách du lịch của Mỹ đến tham quan vườn Quốc gia Tràm Chim ghé thăm mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng, Tư Hinh biểu thị lòng mến khách của mình bằng cách bủa một mẻ chài ngay tại vuông tôm rồi nướng tôm đãi khách ngay tại chòi, rất chi Nam Bộ. Chủ - khách vừa ăn vừa xuýt xoa khen ngon, trước khi chia tay, khách du lịch xin Tư Hinh năm kilô tôm về Mỹ làm quà. Sau tết Bính Tuất 2006, tôm càng xanh của Tư Hinh nhận được thông điệp “sạch” từ phía Hoa Kỳ. Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thuỷ sản IV thuộc bộ Thuỷ sản đến Tam Nông, Đồng Tháp để thu mua toàn bộ tôm thương phẩm của huyện Tam Nông năm 2006 và ký kết tiêu thụ sản lượng tôm nuôi từ 1.000ha theo dự án của huyện năm 2007 để xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ. Riêng Hợp tác xã cổ phần Phú Long nâng diện tích nuôi tôm mùa lũ năm 2007 lên 500ha. Chiếm 50% tổng diện tích dự án.

            Kết thúc mùa vụ năm 2006, từ diện tích 12ha nuôi tôm trên ruộng, Tư Hinh thu 19.000kg tôm thương phẩm, doanh thu trên 2 tỷ đồng, cộng với lợi nhuận từ vụ lúa Đông xuân, khấu trừ mọi chi phí, Tư Hinh lãi ròng cả tỷ bạc. Không chỉ có Tư Hinh mà tất cả xã viên Hợp tác xã cổ phần Phú Long vui như ngày hội. Tết Đinh Hợi 2007 mãi mãi là dấu ấn không phai trong tiềm thức đối với người dân Hợp tác xã cổ phần Phú Long. Rõ ràng “trăm nghe không bằng một thấy”. Nhìn vuông tôm được phân định bằng những con đê lửng giống như những cánh đồng muối mới thấy hết sự sáng tạo của người dân. Với cách làm này, chỉ đến khi nước từ thượng nguồn đổ về, những tấm lưới ngăn cách cao ba, bốn mét theo từng tuyến đê mới được dựng lên vừa bảo vệ được vuông tôm lại vừa tận dụng được ngồn thức ăn tự nhiên cho tôm trong mùa nước nổi mà môi trường lại được đảm bảo. Không thể có mô hình nuôi trồng thuỷ sản thứ hai ưu việt hơn thế. Khi những giọt nắng cuối cùng còn lưu luyến đọng lại trên  những bờ đê, mặt nước, tôi chia tay Tư Hinh để về thành phố nhưng ông chủ nhiệm Hợp tác xã cổ phần Phú Long “lịnh” cho tôi ở lại theo kiểu Dùng dằng nửa ở, nửa về/ Về thì nhớ bạn, ở đây nhớ nhà. Không thể từ chối lời mời chân thành và đầy hấp dẫn của Tư Hinh, tôi lấy điện thoại nhắn tin về nhà rồi quyết định ở lại ngoài chòi qua đêm cùng anh.

            Đã lâu lắm mới tận hưởng cảnh hương đồng, gió nội để ngọt ngào vào tận mỗi đường da, thớ thịt. Gió mơn man vuốt ve trên cơ thể như một đặc ân của thiên nhiên ban tặng, không thể từ chối. Tắm rửa xong, Tư Hinh gom cỏ khô dọc theo các tuyến đê bao thành một đống to rồi châm lửa nướng trui cá lóc. Cá lóc nướng trui mà chấm với nước mấm me chua, chưa ăn đã thấy ngon, cám ơn cha, ông thời mở đất đã để lại cho hậu thế một thực đơn tuyệt vời. Nhìn Tư Hinh làm, tôi tự nhủ lòng: suýt nữa mình đã phụ mất tấm chân tình của ảnh. Bàn tiệc dã chiến vừa sắp đặt xong cũng là lúc mấy vị trong hợp tác xã có mặt.Tôi thưởng thức giá trị của cuộc vui bằng cả vị giác và thính giác, bởi ở đó có những mẩu chuyện còn ngon hơn cả rượu thịt trong lễ tiệc nhiều. Khi cuộc vui bước sang độ xế chiều, một vị cao niên của Hợp tác xã cổ phần Phú Long cẩn trọng đón ly rượu tôi mời bằng cả hai tay, uống xong ly rượu, hướng về tôi, ông lên tiếng:

            Chú biết không, ở xứ Phú Thành này – À, là hai xã Phú Thành A và Phú Thành B ấy mà – ai cũng gọi Tư Hinh là “bốn nhất”. Mà chú có biết “bốn nhất” là nghĩa gì không? Tôi cam đoan là chú không biết. Nghèo nhất, liều nhất, quyết đoán nhất và giàu nhất. Đó, có phải là “bốn nhất” không nào? Tư Hinh hay lắm, chú cứ tìm hiểu đi rồi đặng biết.

            Tiệc rượu kết thúc, mọi người chuyển sang tiệc trà, rôm rả mãi cho đến khi chòm sao Rua đứng ở đỉnh đầu mới chịu chia tay về chòi nhà mình để ngủ. Chờ cho Tư Hinh ấm chỗ, tôi mới hỏi vọng sang nhằm lý giải điều đang để bụng:         

            Anh Tư này, liều, giàu và quyết đoán thì tôi đã biết nhưng một nông dân nắm trong tay 160 công đất, có thể gọi là điền chủ ở đất phương nam được rồi, sao họ lại bảo anh là người nghèo nhất?

            Kéo hơi thuốc thật sâu rồi trở mình hướng về tôi, bằng giọng kể giải bày, tâm sự Tư Hinh đưa tôi trở về quá khứ gần hai mươi năm trước:

            Số mình tiền vận khổ lắm. Lấy vợ được hai tháng thì tham gia nhập ngũ trong chiến tranh biên giới quần nhau với giặc bốn năm trên đất bạn Campuchia. Phnông –Pênh được giải phóng, dân tộc Campuchia thoát khỏi hoạ diệt chủng của bọn Pôn – Pốt. Từ “quân quản” mình về quê chuyển sang “dân quản”. Trở về với vợ con còn nguyên vẹn là hạnh phúc lắm rồi. Cơ cực nhất là khi hai vợ chồng mở đất theo chủ trương phục hoá đất sản xuất bị bỏ hoang.Do sản xuất không có hiệu quả trong cơ chế bao cấp nên ruộng đất trở thành rừng năn, lác. Là nông dân nhưng chẳng ai thiết tha với ruộng đất, có chủ trương rồi nhưng chẳng ai ham. Đi làm thuê đây đó, mình nhận ra một điều là dân số ngày càng sinh sôi, nảy nở nhưng đất đai thì chẳng đẻ ra được cục nào. “Tấc đất tấc vàng” chỉ là thời gian. Trong khi chính quyền vận động nhân dân chẳng có động tĩnh nào thì hai vợ chồng mình lại lao vào như con thiêu thân, phá lâm quên cả ngày đêm, thậm chí nguồn thu không có, phải ăn cháo củ co để khẩn hoang mà vẫn vui như mở cờ trong bụng. Tôi biết anh đang nghĩ là tại sao tôi khẩn được bao nhiêu là giữ được bấy nhiêu, trong khi toàn bộ số đất vợ chồng tôi phá lâm đều là đất đã có chủ chứ gì? Đừng vội, từ từ tôi sẽ kể cho anh hết trọi, chẳng lẽ giữ anh ở lại một đêm ngoài đồng là để giấu anh hay sao.

            - Để chắc ăn, mình đến những gia đình có đất bỏ hoang vận động họ làm nhưng ai cũng lắc đầu, thậm chí cả hai cùng hợp tác, họ có đất, mình có công, khẩn được bao nhiêu chia theo tỉ lệ 50/50 mà họ cũng từ chối, ai cũng nói: Chú làm được bao nhiêu cứ làm, nhà tui hổng có ham. Vậy là nhờ họ cho mấy chữ phòng thân. Sau bốn năm ròng rã ngày cũng như đêm, mưa cũng như nắng, hai vợ chồng khẩn được 12hécta đất. Đến khi đất có giá; theo chủ trương, hai vợ chồng mình đều bồi thường đất cho họ, nếu không có mấy chữ họ cho hồi trước thì việc bồi thường phải ngược lại, tay trắng lại hoàn trắng tay. Gả chồng cho hai đứa con gái, vợ chồng mình cho mỗi đứa hai chục công đất xem như của hồi môn. Đấy, giờ thì chắc anh đã hiểu chuyện giàu, nghèo của vợ chồng tui rồi đó.

            Nghe Tư Hinh kể chuyện khẩn đất, thay vì bày tỏ sự cảm phục, quí mến thì tôi lại hỏi anh một câu do bệnh nghề nghiệp:

            - Tôm nhà mình đã đi Mỹ, liệu có bảo vệ nó lâu dài không anh Tư?

            Tư Hinh nằm yên trả lời tôi bằng giọng nhừa nhựa trong cơn ngái ngủ:

            - Rồi, đã hoàn tất hồ sơ xin đăng ký thương hiệu “Tôm càng xanh Tràm Chim” gởi Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Tháp hồi tháng 11 năm 2006 lận.

            Đêm trôi dần về sáng, tôi nhìn ra cánh đồng nuôi tôm đầy ắp ánh sao nhân tạo rồi chìm vào giấc ngủ thật sâu trong sự vỗ về của gió trăng giữa một cánh đồng quê.

 
     
  Nguyễn Trọng Quế ( VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • TRANG THƠ VNĐT (16/11/2018)




  • SỐNG VỚI ĐAM MÊ (16/11/2018)











  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)



  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |