Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Phóng sự
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  04/05/2017  
  NHÀ CỔ Ở ĐỒNG THÁP  
 


Theo kết quả điều tra của Bảo tàng Đồng Tháp thì hiện nay toàn tỉnh có 79 ngôi nhà cổ nằm rải rác ở huyện Hồng Ngự, Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành, Thành Bình, Thành phố Cao Lãnh và thành phố Sa Đéc. Trong đó có 26 ngôi nhà trên 100 năm; 11 ngôi nhà trên 90 năm và 42 trên 80 năm. So với các tỉnh lân cận như Tiền Giang hiện có trên 350 ngôi nhà cổ nhưng còn sử dụng tốt chỉ khoảng 100 ngôi nhà, Vĩnh Long 87 căn,  Cần Thơ 72 căn thì rõ ràng, số lượng nhà cổ ở Đồng Tháp vẫn còn tương đối nhiều. Tuy nhiên, nói như nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường thì:

 
 
 
nhaHDDoi.jpg
Nhà Hội Đồng Đối
"Hiện nay việc trùng tu nhà cổ bất cập. Còn rất ít thợ có đủ trình độ và tay nghề để trùng tu những ngôi nhà cổ đúng nguyên bản. Mặt khác, ý thức của người đang sở hữu nhà cổ cũng là điều đáng nói. Do nhu cầu của cuộc sống, họ muốn tân trang, tự ý thay đổi các chi tiết, vật dụng trong ngôi nhà theo kiểu hiện đại. Ngoài việc có tiền, đòi hỏi người sở hữu phải có kiến thức nhất định về nhà cổ. Ðồng thời Nhà nước cần có những chính sách thỏa đáng thì việc bảo tồn, phát huy giá trị ngôi nhà cổ dân gian sẽ có hiệu quả và khả thi".   
            Mỗi căn nhà cổ là một câu chuyện gắn liền với sự thịnh suy, thăng trầm của một dòng họ, một vùng đất, một địa phương bởi lẽ hơn ai hết, chính nó đang mang trên mình một sứ mệnh là “nhân chứng của lịch sử”. Báo Văn nghệ Đồng Tháp khởi đăng phóng sự khảo cứu “Nhà cổ ở Đồng Tháp” với mục đích góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử này.

I. CHUYỆN NHÀ CỔ HỘI ĐỔNG ĐỐI

Nhà cổ hội đồng Đối hiện đang tọa lạc trên bờ rạch Đốc Vàng Hạ thuộc khóm Tân Thuận, thị trấn Thanh Bình do ông Trần Kế Hậu, cháu ngoại của ông Hội đồng Đối quản lý. Đây là một ngôi nhà hai tầng, nóc bằng, hình hộp được xây dựng theo lối kiến trúc kiểu các công sở, dinh thự của người Pháp. Lối kiến trúc này xuất hiện vào khoảng năm 1867, khi thực dân Pháp xâm chiếm đặt ách cai trị lên một số tỉnh Nam Kỳ. Cũng nói thêm, ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện nay những ngôi nhà cổ dạng này thường mang dáng dấp của loại hình kiến trúc mang dấu ấn giao thoa giữa kiến trúc phương Tây và kiến trúc truyền thống Việt Nam như nhà cổ Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc, nhà cổ Cai Cường ở Vĩnh Long, nhà cổ Bình Thủy ở Cần Thơ, dinh công tử Bạc Liêu... Nhà cổ Hội đồng Đối, chúng tôi nghĩ cũng không nằm trong trường hợp ngoại lệ.

            Theo ký ức của những con cháu của dòng tộc này thì ngôi nhà được xây dựng từ năm 1910 hoặc trước đó vài năm. Người đứng ra trông coi việc xây cất là ông Đốc phủ[1] Ngãi. Hiện nay, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào ngoài một vài dòng ngắn ngủi ghi chép về nhân vật này. Đó là một trong những cư dân sinh sống lâu đời nhất ở Tân Phú thuộc tổng Phong Thạnh[2] và cũng là một trong hai điền chủ đầu tiên trồng nổi danh vì nhiều lúa nổi: đốc phủ Ngãi ở Đốc Vàng và Đốc công Đinh ở Vĩnh Chánh, Thoại Sơn. Đốc phủ Ngãi tên thật là Nguyễn Hữu Nghĩa (1861 – 1941) giàu có đến đâu thì không ai biết rõ. Chỉ nghe nói, sinh thời ông từng có bốn căn nhà tương tự như nhau: một ở Long Xuyên, một ở Mỹ Luông (nay thuộc huyện Chợ Mới – An Giang), một ở Sài Gòn và căn nhà nói trên. Hai căn nhà ở Long Xuyên và Sài Gòn bị cháy rụi sau Tết Mậu Thân năm 1968 do chiến tranh. Căn nhà ở Mỹ Luông bị bỏ hoang cho tới sau 30/4/1975 thì người dân trong vùng vào ở và làm chủ luôn. Nay họ đã đập phá, sửa sang lại do hư hỏng nên không còn nhận ra hình dáng ban đầu. Đất đai của Đốc phủ Ngãi thì nhiều đến nỗi không một con cháu nào nhớ xuể. Nghe đâu là chạy dài từ Long Xuyên đến tận Phú Thành (thuộc huyện Tam Nông ngày nay) với hàng ngàn thửa lớn nhỏ. Điều này được xác nhận qua những tập họa đồ được chính quyền tỉnh Long Xuyên lập từ năm 1922 do gia đình sao lục và còn lưu giữ đến bây giờ[3]. Phần đất đai ở Mỹ Luông sau này đã sang nhượng gần hết để lấy tiền lo lót cho chính quyền lúc đó khi ông Đốc phủ Ngãi có một người cháu nội can tội làm chính trị.

            Đốc phủ Ngãi có thể xem là một đại điền chủ có quyền thế trong thời Pháp thuộc. Một trong những người con của ông cũng được trọng vọng là Hội đồng Đối (tên thật là Nguyễn Phước Đối – sinh năm 1890, mất năm1980 - là con thứ sáu trong gia đình). Khi Đốc phủ Ngãi qua đời thì hằng sản của ông được chia đều cho các con. Ngoài Hội đồng Đối thì còn anh em ông như Cai Cần, Cả Cung, Nhất Phường đều là những gia đình giàu có ở vùng này. Ngôi nhà Đốc phủ Ngãi để lại cho Hội đồng Đối có thể xem là một cơ ngơi đồ sộ. Ngôi nhà gồm một trệt, một lầu có mái lợp ngói Tây, sân lót gạch Bát Tràng, tường xây cách âm bằng gạch thẻ loại đại, vách dày 20 hoặc 30 phân. Cột nhà tròn được đổ bằng bê tông nguyên khối. Toàn bộ cửa ra vào, cửa sổ là loại cửa kiểu lá sách giống hệt nhà của công tử Bạc Liêu. Tổng diện tích ngôi nhà khoảng 600 mét vuông. Ngoài ra còn có các công trình khác phục vụ cho việc canh tác của gia đình ông Hội đồng Đối như xưởng dệt để dệt quần áo cho hàng trăm tá điền, kho chứa lúa, nhà ăn... Nếu tính chung các công trình này thì tổng diện tích lên đến 1.600 mét vuông. Bên ngoài khuôn viên này còn có lò gạch ngói, nhà máy xay lúa và cả nhà máy đèn. Các bộ cột cất kho chứa lúa và xưởng dệt đều là những loại cây tròn quý như căm xe, bên... Phía dưới bờ sông là một cái nhà sàn (nhà mát) để theo dõi tá điền làm việc mỗi khi có ghe lúa chở về hoặc thưởng ngoạn cảnh sông nước khi nhàn rổi.

            Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Pháp tái chiếm đất nước ta. Thực hiện lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến vào tháng 12/1946, Hội đồng Đối cho dỡ phần trước và sau của ngôi nhà cùng với toàn bộ các công trình phụ như kho lúa, xưởng dệt đắp ngang qua rạch Đốc Vàng Hạ (đoạn qua chợ Thanh Bình cũ), phía bên trên trồng cây dày đặc để ngăn cản tàu Pháp vào càn quét. Phần còn lại của ngôi nhà chỉ là một phòng khách của ngôi nhà cũ và một phần nhà tổ thờ phượng dòng họ phía sau với diện tích bằng một phần ba diện tích ban đầu. Chiến tranh ngày càng lan rộng và ác liệt. Hai người con của vợ lớn ông là Nguyễn Phước Tâm và Nguyễn Thị Trọng tham gia kháng chiến. Ông Tâm bị lộ phải điều lắng lên Sài Gòn. Bà Trọng thì đi tập kết ra Bắc. Con gái của vợ thứ ông Hội đồng Đối là Nguyễn Thị Gọn cũng tham gia Hội phụ nữ Cứu quốc, có chồng tham gia cách mạng và hy sinh. Trước sự ly tán của gia đình nói riêng và thời cuộc nói chung, Hội đồng Đối phải lên Sài Gòn sinh sống. Ngôi nhà bị bỏ hoang. Nhiều người đến đập phá để “hôi của” khiến tài sản bên trong hoàn toàn mất hết. Sau đó, chính quyền Ngô Đình Diệm trưng dụng làm văn phòng quận Thanh Bình mãi cho đến năm 1964 mới trả lại gia đình. Sau trận Mậu Thân năm 1968, căn nhà ở Sài Gòn bị cháy do chiến tranh thì ông Hội đồng Đối mới quay trở về căn nhà cũ ở Thanh Bình với con gái là Nguyễn Thị Gọn và vợ chồng người cháu ngoại là Trần Kế Hậu. Thêm một lần nữa, sau ngày 30/4/1975, một số cơ quan huyện phải mượn tạm phần trước của ngôi nhà để làm nơi làm việc. Đất hiến cho cách mạng chia lại người nghèo từ sau năm 1945, nhà cửa bị hư hỏng do thời gian và chiến tranh, kinh tế khánh kiệt nên ngôi nhà càng lúc càng xuống cấp trầm trọng.

            Sau hơn một trăm năm đi qua, dáng dấp của một cơ ngơi hoành tráng ngày nào qua còn sót lại là một ngôi nhà có chiều ngang khoảng 15 thước (bằng ½ ngôi nhà cũ), chiều rộng hơn 10 thước (bằng ¼ ngôi nhà cũ) với những vách tường dày, những hàng cột to và thấp do nhiều lần tu sửa, tôn tạo và nâng cao. Tuy không còn giữ nguyên kiến trúc ban đầu nhưng với kiểu dáng và các đường nét hoa văn trang trí còn sót lại vẫn đủ cho chúng ta hình dung những nét cổ kính và đồ sộ của căn nhà ngày nào đã gắn liền với một dòng họ quyền thế và giàu có ở đây. Dù có thể nào đi nữa, thì ngôi nhà của Hội đồng Đối cũng là một công trình văn hóa, một di tích gắn liền với sự phát triển lịch sử dân tộc.



[1] Theo chúng tôi, hàm Đốc phủ ở đây một tước hiệu danh dự phong cho những địa chủ có thế lực và giàu có ở Nam bộ thời đó.

[2] Vào thời nhà Nguyễn độc lập, vùng đất Thanh Bình và Tam Nông ngày này nằm trong tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Đăng, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường. Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), lập một phủ mới mang tên là phủ Kiến Tường, trích huyện Kiến Đăng thành 2 huyện Kiến Đăng và Kiến Phong cho vào phủ Kiến Tường. Lúc này, hai tổng Phong Thạnh và Phong Phú cùng thuộc huyện Kiến Phong, phủ Kiến Tường, tỉnh Định Tường.

Ngày 5 tháng 1 năm 1876, các hạt Thanh tra Long Xuyên và Châu Đốc đổi thành các hạt tham biện Long XuyênChâu Đốc. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, tất cả các hạt tham biện ở Đông Dương điều thống nhất gọi là "tỉnh", trong đó có tỉnh Long Xuyêntỉnh Châu Đốc. Tổng Phong Thạnh Thượng lúc bấy giờ thuộc tỉnh Long Xuyên; riêng cù lao Tây thuộc tổng An Phước, tỉnh Châu Đốc.

Năm 1917, thực dân Pháp lập quận Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên, gồm 3 tổng trong đó có tổng Phong Thạnh Thượng với 6 làng trực thuộc: An Phú, An Phong, An Thành, Bình Thành, Tân Phú, Tân Thạnh. Sau này, chính quyền thực dân Pháp hợp nhất hai làng An Phú và An Thành thành một làng mới lấy tên là làng Phú Thành. Từ đó, tổng Phong Thạnh Thượng chỉ còn 5 làng trực thuộc.

 

[3] Có tất cả 32 tập họa đồ (chưa kể số bị cháy) liệt kệ từng vị trí các thửa đất nằm rải rác khắp huyện Thanh Bình hiện nay. Hiện gia đình đã cho Hội Khoa học Lịch sử Đồng Tháp mượn để số hóa làm tư liệu sau này. Toàn bộ các phần đất này cách mạng tháng 8 năm 1945, đã ủng hộ cách mạng chia lại cho dân nghèo nên nay không còn thuộc sở hữu của gia đình nữa.

 
     
  Hữu Nhân ( Báo Văn Nghệ)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |