Thứ Bảy, ngày 26 tháng 5 năm 2018        
     
 
   Phóng sự
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  13/10/2010  
  Nuôi tôm ruộng lúa ở Đồng Tháp  
 

Đồng Tháp chúng ta là một trong những tỉnh hàng năm thường xuyên phải chịu cảnh ngập lũ. Khi nước lũ bắt đầu rút, nông dân chuẩn bị xuống giống lúa theo thứ tự nước rút tới đâu, xuống giống đến đó. Cây lúa dễ trồng, dễ bán, do đó những năm trước đây, để tăng thu nhập, nông dân đã “vắt đất ra lúa” bằng cách thâm canh tăng vụ, có nơi canh tác tới 7 vụ trong 2 năm. Chính từ những cách “bóc lột” đất không thương tiếc như vậy, đã bộc phát một số loại dịch hại như rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, ảnh hưởng ngay tới “nồi cơm” của nông dân.

 
 
 

Đồng Tháp chúng ta là một trong những tỉnh hàng năm thường xuyên phải chịu cảnh ngập lũ. Khi nước lũ bắt đầu rút, nông dân chuẩn bị xuống giống lúa theo thứ tự nước rút tới đâu, xuống giống y lúa dễ trồng, dễ bán, do đó những năm trước đây, để tăng thu nhập, nông dân đã “vắt đất ra lúa” bằng cách thâm canh tăng vụ, có nơi canh tác tới 7 vụ trong 2 năm. Cnh từ những cách “bóc lột” đất không thương tiếc như vậy, đã bộc phát một số loại dịch hại như rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, ảnh hưởng ngay tới “nồi cơm” của nông dân. Tìm cho mình một hướng làm ăn đúng, phù hợp, có ý nghĩa rất quan trọng nhằm góp phần nâng cao giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích sản xuất, cũng góp phần tăng thu nhập cho nông dân, hạn chế sự bộc phát dịch hại, cắt đứt nguồn lây lan của mầm bệnh. Giảm dần diện tích trồng lúa chuyển sang một số loại cây trồng, vật nuôi khác có hiệu quả kinh tế “ăn chắc” hơn. 

Là người dân xứ Đồng Tháp, ai trong chúng ta cũng biết, lợi thế phát triển nông nghiệp của tỉnh được xác định hiện nay là cây lúa và nuôi trồng thuỷ sản. Làm sao để phát triển kinh tế bền vững. Đó là câu hỏi tốn không ít công sức của tất cả những người đã gắn bó và quan tâm đến mảnh đất này! Các nhà khoa học đã đúc kết: Chúng ta phải xây dựng vùng chuyên canh tập trung. Hướng nông dân liên kết với nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ cao vào sản xuất để giảm giá thành, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm, gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ.

Sau y lúa, thủy sản là thế mạnh thứ hai ở tỉnh nhà, với diện tích mặt nước hiện có khả năng nuôi đạt gần 6000 hécta. Trong 3 thập kỷ này, dân chú trọng đặc biệt đến con cá tra nhưng trong gần đây, nước ngoài gây khó khăn cho nó quá nhiều qua các vụ kiện tụng mà thế mạnh luôn thuộc về “kẻ có tiền”. Do đó, có nhiều năm các doanh nghiệp ngoảnh mặt chê nó do thị trường nào cũng hắt hủi. Trong khi con tôm càng xanh được nông dân ban đầu nuôi chỉ mang tính “thử nghiệm”, làm quen lại không có đủ mà bán. Năm 2005 diện tích nuôi tôm càng xanh ở tỉnh Đồng Tháp chỉ vỏn vẹn 94 ha, sản lượng là 103 tấn thì đến năm 2010 diện tích nuôi tôm đã tăng lên 1.185ha, sản lượng trên 2.000 tấn. Lợi nhuận của mô hình lúa tôm là 40 triệu đ/ha/vụ trong khi đó lợi nhuận 3 vụ lúa chỉ khoảng 1/2. Khi mùa nước lên từ tháng 6 đến tháng 12 hàng năm, nếu sản xuất lúa sẽ rất bấp bênh, có khi mất trắng do nước chụp quá nhanh không thu hoạch kịp. Từ khi UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch phát triển tôm càng xanh đến năm 2020 lấy mô hình nuôi tôm càng xanh luân canh với trồng lúa (1 vụ tôm - 1 vụ lúa) làm mô hình nhân rộng để khai thác tốt tiềm năng mùa nước nổi và giải quyết việc làm cho rất nhiều người dân vùng nông thôn. Nhà nước đã xem tôm càng xanh là một trong những hàng chiến lược xuất khẩu rất tiềm năng trong tương lai sau con cá tra, ba sa để đẩy mạnh đầu tư phát triển. Phát triển vùng nuôi trồng thuỷ sản theo hướng an toàn, bền vững, chú trọng đến các vấn đề an sinh xã hội và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển, tận dụng trên 200 ngàn héc ta đất ruộng trong mùa nước nổi, lợi nhuận thu về cho Tỉnh một con số thật không nhỏ chút nào!.

Để đạt được các chỉ tiêu đến năm 2015: diện tích đạt 4.000 ha, sản lượng 6.400 tấn và đến năm 2020: diện tích nuôi tăng lên 6.000 ha để có sản lượng 9.600 tấn. Có một khó khăn đặt ra là nhu cầu cung cấp con giống có chất lượng tại địa phương còn thiếu bởi điều kiện sản xuất giống trong tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất mang tính thời vụ, cũng như công tác xã hội hoá sản xuất giống tôm càng xanh chưa được chuẩn hoá. Hiện toàn tỉnh mới có khoảng 26 cơ sở sản xuất giống tôm càng xanh chỉ đáp ứng từ 30 – 40% nhu cầu đã gây tình trạng dân phải sử dụng con giống trôi nổi không đảm bảo về chất lượng.

Để hướng tới một nền sản xuất thủy sản sạch, an toàn và bền vững, hạn chế rủi ro về môi trường, dịch bệnh, thị trường tiêu thụ, tạo nên sự đa dạng các sản phẩm chế biến xuất khẩu có giá trị và sức cạnh tranh cao trên thị trường trong trong nước và quốc tế. Một trong những vấn đề phải giải quyết trước mắt là thực hiện xã hội hoá công tác sản xuất giống nông hộ cho dân nhằm đáp ứng nhu cầu cung con giống đảm bảo chất lượng tốt tại địa phương, giảm tối đa rủi ro do con giống trôi nổi trên thị trường không rõ nguồn gốc. Hỗ trợ kinh phí khuyến khích các cơ sở sản xuất giống nâng cấp, xây dựng mới theo tiêu chuẩn ngành để cung cấp đủ con giống theo nhu cầu và đảm bảo chất lượng cho nông dân. Xây dựng các trạm quan trắc môi trường được đầu tư hoàn chỉnh đáp ứng nhu cầu nâng cao năng suất và sản lượng nuôi theo hướng sản xuất công nghiệp. Trước mắt ngành nông nghiệp phải tiến hành nghiên cứu chọn lọc tôm bố mẹ để chủ động và nâng cao chất lượng trong sản xuất, nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản xuất. Để tiến tới xã hội hóa sản xuất giống tôm càng xanh đáp ứng nhu cầu cho người nuôi, chúng ta phải thành lập mạng lưới các trại giống từ tỉnh đến các huyện, thị. Đẩy mạnh công tác khuyến ngư, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ, năng lực để có thể quản lý, tư vấn, chuyển giao các quy trình công nghệ cao, kỹ thuật mới; chuyển tải thông tin liên quan đến tận người dân thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng; nâng cao nhận thức và trình độ người dân đủ để áp dụng triệt để các quy trình kỹ thuật vào sản xuất. Tăng cường liên kết và ký kết hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp chế biến với người nuôi trước khi thả giống. Các vùng nuôi thuỷ sản tập trung quy hoạch phải thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc hội nghề nghiệp nhằm nâng cao vai trò, hoạt động của các tổ chức kinh tế này, hỗ trợ việc liên minh sản xuất, gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tạo ra sự ổn định trong quá trình sản xuất. Xây dựng chính sách hỗ trợ về kỹ thuật, vốn để phát triển sản xuất giống quy mô nông hộ nhằm đáp ứng đủ giống cho sản xuất, thu hút các cán bộ tham gia công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nuôi trồng, chế biến và môi trường để nhanh chóng tạo ra các sản phẩm nghiên cứu khoa học phục vụ thiết thực cho sản xuất.

                                                                           

 
     
  Phạm Khiêm ( Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |