Thứ Hai, ngày 21 tháng 5 năm 2018        
     
 
   Tiểu thuyết
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  28/03/2013  
  NGƯỜI CẬN VỆ Chương I phần 1  
 


Tiểu thuyết lịch sử của Trần Thanh Hà

 

Chương I

            Hiếm khi thấy được một đêm trăng sáng vằng vặc như  hôm nay. Vầng trăng vẫn chưa thật tròn vì hãy còn ít hôm nữa mới đến ngày báo hiếu Vu Lan. Bầu trời đêm phương nam thường xuyên âm u trong những ngày đầu mùa mưa gió, đột ngột trong xanh hé lộ vẽ đẹp rạng rỡ của bóng trăng đang lung linh trên dòng Cái Bèo hiền hòa, êm ả. Trong không gian huyền ảo đó, ngôi chùa Bửu Lâm lấp lánh như một bức tranh. Màu đỏ au của các mái ngói vừa mới lợp lại tạo ra nét tương phản với màu xanh của cây cỏ, màu nâu đen của vách đất và nhất là màu vàng sậm của các ngôi bảo tháp. Và ánh trăng đang chênh chếch phía sau đang cố gắng điểm tô thêm bằng cách làm nên những chiếc bóng đổ dài xuống sân chùa ra tận sát dòng nước. Đằng sau chùa, những ngọn lúa trời đang chuẩn bị vươn mình theo con nước sắp sửa dâng cao theo mùa nước nổi. Và đằng xa kia, những đám tre, mây dày đặc với dáng vẽ âm u, bí hiểm như muốn đóng khung lại không cho ánh trăng lan tỏa xa thêm nữa.

           

 
 
 


            Phổ Lý đang nằm bên hiên chùa nhìn trăng sáng chiếu xuyên qua các ngọn cây dầu cổ thụ trong sân chùa thì bỗng nhiên chợt thấy u tối dần… Gió thổi mạnh lên… Ngọn đèn dầu nơi bàn thờ phật vụt tắt… Phổ Lý lồm cồm đứng dậy định thắp lại ngọn đèn… Chính vừa lúc cậu đang định đi đến bàn thờ thì chợt cảm thấy gai người khi phát hiện ra một chuyện… Ánh trăng mặc dù không còn sáng tỏ như trước nhưng vẫn đủ để chiếu  chiếc bóng của nóc chùa xuống sân… Và Phổ Lý phát hiện ra trên đó có một cái bóng của một nửa thân người… Phổ Lý vẫn chưa tin vào mắt mình nhưng lát sau quả thật bóng người đó nhô lên và di động sang qua nơi khác… Giờ này ai lại leo lên nóc chùa làm gì? Trộm chăng… vô lý, ngôi chùa này có gì để mà trộm. Ma chăng… không lẽ nào… hồi nào đến giờ đâu có chuyện gì… vã chăng đây lại là chốn phật đường.

            Phổ Lý thắp lại ngọn đèn xong, đẩy cửa lẽn ra phía sau để quan sát thêm cho rõ… Khi cậu đã nấp vào bóng cây to phía sau chùa, Phổ Lý thấy rõ bóng người đang nấp trên nóc dường như đang cố gắng quan sát hoặc tìm kiếm một điều gì đó trong chùa… Chiếc thang mà hắn dùng để leo lên nóc chính là chiếc thang tre mà Phổ Lý và các huynh đệ dùng để leo trèo làm công việc hằng ngày. Phổ Lý nhẹ nhàng đi đến bên chiếc thang, hạ nó nằm xuống rồi la to lên: “Ăn trộm!!!”. Tên trộm giật mình đứng dậy trên nóc chùa. Bỗng nhiên ánh sáng bừng lên, nhiều người cầm đuốc xuất hiện. Phổ Lý định thần nhìn kỹ thì chính đó là các huynh đệ trong chùa. Mọi người hô vang: “Tên trộm, đừng chạy”… Tên trộm trên nóc lúng túng ngó nghiêng một lúc rồi chạy thật nhanh ra phía trước… Hắn phóng từ trên nóc xuống đất, lộn mèo một cái rõ khéo… rồi đứng dậy chạy thục mạng… Mọi người rượt theo… Đến con rạch Cái Bèo, hắn phóng ùm xuống dòng nước… Vài người phóng theo hắn… Những người còn lại cầm đuốc chạy dọc theo dòng sông… Lạ thay, hắn hoàn toàn mất dạng sau khi phóng xuống đó.

            Sau một khoảng thời gian truy đuổi không kết quả, mọi người tụ tập trước sân chùa. Chánh Trí, người đệ tử đầu tiên của thiền sư Hải Huệ, nói với Phổ Lý:

- Khi nãy nếu đệ đừng la lên sớm thế thì chúng ta đã có thể bắt tên trộm này rồi.

- Đệ đâu có biết… Đệ sợ hắn sẽ làm điều gì xằng bậy… lúc đó đệ tưởng chỉ có một mình đệ trực đêm nay.

- Thầy đâu chỉ phân mình đệ trực đêm đâu, nhiều người ở đây cũng trực ở khắp nơi đấy chứ…

- Vậy à! Nhưng bộ thầy biết sắp có chuyện gì xảy ra sao mà lại bố trí như vậy?

- Huynh cũng không biết, chỉ biết làm theo lời thầy dạy thôi.

Hoằng Đức xen vào:

- Nhưng đệ không hiểu hắn có ý định gì… chùa của mình có gì quý giá mà rình rập.

Chánh Trí ngẫm nghĩ một hồi rồi đáp:

- Huynh cũng chẳng hiểu… Đây là chuyện lạ… huynh chưa từng thấy từ khi vào chùa mấy mươi năm nay… Thôi các đệ về chỗ của mình hết đi… Sáng mai hãy báo với thầy.

*

*   *

Chùa Bửu Lâm vẫn thường yên ắng trong buổi sáng. Tính từ lúc Tổ Tánh Nhẫn xuống bè phát nguyện khi chiếc bè tấp vào nơi nào mà khi xô bè ra ba lần bè vẫn tấp lại chỗ cũ, thì sẽ dừng chân tu hành ở đó… đến nay đã là trên một trăm năm mươi năm có dư. Tổ Tánh Nhẫn thả bè theo gió Nam trong một đêm tháng sáu, bè trôi vào con rạch Cái Bảy, rồi vào rạch Cái Bèo và sau chót dừng lại ở bên bìa một rừng mây cạnh một con rạch nhỏ không tên, quanh co, cách xa nơi đông người sinh sống. Từ một cái am tre lá do Tổ dựng lên để tu hành, trải qua năm tháng đến đời tổ Hải Huệ hôm nay, ngôi chùa đã trở nên khang trang hơn hồi mới dựng lên rất nhiều. Chùa được xây dựng theo dạng chữ tam gồm ba dãy nhà ngang nối tiếp nhau và có tất cả bảy nóc. Ngôi chánh điện được xây liền với nhà giảng, nhà tổ uy nghi nằm phía trước. Tiếp theo là dãy Đông lang và Tây lang. Ngoài ra còn có nhà dưỡng tăng là nơi các tăng trú ngụ và nhà trù là nơi nấu nướng, ăn uống của cả chùa và khách thập phương  ghé qua.

Sau buổi công phu lúc  khuya, buổi tập luyện lúc sáng sớm, giờ là lúc các huynh đệ trong chùa tham gia công việc lao động để phục vụ cho cuộc sống của chùa. Công việc bao gồm chăm sóc, tu bổ chùa, trồng rau, trồng thuốc, làm ruộng, làm rẫy… Riêng Phổ Lý là người vào chùa từ lúc mới tám tuổi tính đến nay đã là mười năm hơn. Là người nhỏ tuổi nhất nên anh được giao công việc chuẩn bị cơm nước cho cả chùa. Phổ Lý tên tục là Nguyễn Văn Tròn, là người ở thôn Thới Bình cách chùa không xa lắm. Năm sáu tuổi cả nhà bị Tây bố giết chết hết, Phổ Lý trở nên côi cút. Hai năm lang thang sống nhờ vào lòng nhân đạo của bà con trong thôn. Đến năm tám tuổi thì hai vợ chồng người chú của cô Lan mang vào chùa gửi cho thiền sư Hải Huệ dưỡng nuôi cho đến nay.

Phổ Lý vừa hoàn thành công việc buổi sáng của mình xong tại nhà trù, lấy quyển sách vẫn thường bỏ theo bên mình ra định học chữ thì chợt nghe tiếng chuông chùa vang lên một cách bất thường. Từ nhỏ đến nay, Phổ Lý chưa từng nghe tiếng chuông vào thời điểm này mà lại vọng liên hồi như một kiểu báo động. Phổ Lý vội cất sách chạy ra sân thì gặp  Quảng Huệ, Quốc Ân và Hoằng Quang cũng từ miếng rẫy phía sau chùa vác cuốc chạy về. Phổ Lý liền hỏi:

- Chuyện gì vậy các huynh? Sao lại có tiếng chuông vào giờ này?

Hoằng Quang trả lời trong hơi thở gấp:

- Huynh cũng không biết, hồi nào giờ cũng chưa thấy chuyện như vầy.

Quảng Huệ góp lời:

- Việc này huynh có thấy một lần, cách đây đã lâu khi chùa sắp biết có giặc hoặc trộm cướp đến thì đánh chuông liên hồi như vầy để tập hợp toàn bộ chùa đối phó với địch. Nhưng đã lâu lắm rồi không có sử dụng nữa.

- Nhưng hiện nay tình hình rất là yên tĩnh mà? Phổ Lý hỏi.

- Thôi chúng ta mau lên chánh điện xem có chuyện gì, đừng ở đây đoán mò nữa. 

Khi lên tới chánh điện, Phổ Lý thấy mọi người trong chùa hầu như đã có mặt đầy đủ. Đại sư huynh Chánh Trí bảo mọi người ổn định nơi chổ của mình chờ sư phụ đến để dạy việc. Châu Viên là người tiếp theo sau Chánh Trí, cất tiếng hỏi:

- Thưa sư huynh, khi nãy ai là người đã vọng chuông tập hợp toàn chùa vậy?

- Chính là huynh. Chánh Trí trả lời.

- Vậy đệ xin hỏi đã có chuyện gì xảy ra? Châu Viên hỏi tiếp.

- Huynh cũng không biết, chỉ làm theo lệnh thầy. Các đệ muốn biết chuyện gì thì hãy bình tâm đợi thầy một chút sẽ biết.

Đệ tam sư huynh là Chơn Truyền có ý kiến:

- Nhưng đây là hiệu lệnh đặc biệt, chỉ dùng trong trường hợp biến động, phải không thưa huynh?

- Đúng rồi, nhưng thật tình huynh cũng chưa rõ là vì sao như vậy… Chỉ làm theo lời thầy bảo mà thôi.

- Nhưng thầy đâu, sao chưa thấy?

- Thầy dặn chúng ta cứ tập hợp đông đủ nơi chánh điện, khi nào ổn định xong xuôi thầy sẽ đến.

Nghe đến đó, mọi người bắt đầu im lặng không hỏi nữa. Nhưng trong lòng không tránh khỏi những thắc mắc. Lúc sau, Viên Thông khều Huệ Nhẫn thì thào:

- Này, đệ có nghĩ việc này liên quan đến chuyện tên trộm đêm qua không?

- Đệ cũng đang nghĩ như vậy? Không biết đêm qua chùa có bị mất trộm gì không?

Phổ Lý chen vào:

- Chắc không có đâu, vì tên trộm vẫn còn ở trên nóc chưa đột nhập vào chùa mà.

- Ờ, cũng phải… nhưng không hiểu bọn trộm cướp này từ đâu đến?... hồi nào tới giờ chung quanh đây đâu có trộm cướp gì đâu.

- Huynh cho rằng không phải trộm cướp đâu.

- Vậy thì là gì?

- Có thể là mật thám của giặc Tây chăng?

- Vậy thì càng lạ, lâu rồi Tây nó ít để ý đến nơi này lắm, nhất là sau khi Gò Tháp thất thủ, mối lo của giặc đã qua đi…

- Hay là quân khởi nghĩa của ta tìm về chùa để nương náu hoặc tìm cách gây dựng lại lực lượng.

- Nếu vậy thì họ có thể bàn bạc trực tiếp với thầy chứ đâu phải rình rập như vậy.

Cảm thấy những thắc mắc của mình không thể tự giải đáp với nhau được nên họ bắt đầu rơi vào yên lặng. Tất cả tìm chỗ ngồi xuống tạo nên một không khí vừa tĩnh mịch vừa căng thẳng. Ngôi chánh điện dưới ánh sáng ban ngày cũng đượm vẽ trầm tư trong khói hương nghi ngút. Giữa bàn thờ Phật, tượng Phật A Di Đà ngồi kiết già trên tòa sen, duỗi xòe bàn tay mặt, đắp y khoát cổ vuông để lộ chữ vạn trước ngực, đang tham thiền nhập định vừa nghiêm trang vừa thông tuệ. Lúc tổ Tánh Nhẫn lập chùa ngoài việc khai hoang, lập ruộng đã cùng các đệ tử vào rừng cắt mây, đốn tre về đương thúng, đương rổ, gióng gánh… đi bán để lấy tiền ổn định cuộc sống và xây dựng chùa chiền. Tổ cũng đã dùng mây kết làm cột chùa và làm cốt tượng Phật. Sau đó lấy cỏ tranh khô trộn bùn đắp lên và rồi áo lên nhiều lớp sơn bên ngoài. Chín pho tượng được làm ra trừ pho tượng A Di Đà còn có các tượng Quan Thế Âm, Hộ Pháp, Tiêu Diện, Thế Chí, Già Lam, Ngọc Hoàng, Ông Thiện và Ông Ác đang được thờ cúng và bày trí ở chánh điện và khắp nơi trong chùa.

Đúng vào lúc mọi người vừa qua cơn sốt ruột chờ đợi thì thiền sư Hải Huệ bước vào. Thiền sư tuy không phải là người to cao nhưng vẽ đầy đặn, chắc chắn của ông đã đem lại một cảm giác về một con người vừa kiên định, vừa khoan dung. Xuất thân từ chốn quan trường nên đương nhiên ông rất thông thạo thơ văn, chữ nghĩa. Tuy nhiên, ông vẫn rất tinh thông võ nghệ, binh pháp và đích thân ông là người đang huấn luyện cho các đệ tử trong chùa.

Thiền sư cất giọng nói:

- Này các con, hôm nay thầy cho lệnh gióng chuông liên hồi để tụ hội chúng tăng đột xuất là vì sao, các con có biết không?

- Dạ, chúng con không biết.

- Chắc các con cũng biết, đêm qua có kẻ định đột nhập chùa ta.

- Dạ, chúng con có biết.

- Vì sao vậy, các con có biết không?

- Dạ, không biết.

- Thầy cũng không biết rõ vì sao, nhưng ta ngờ rằng có kẽ xấu đang có mưu đồ đối với nhà chùa, do đó thầy muốn các con canh phòng cẩn mật hơn nữa kể cả đêm ngày. Khi nào nghe tiếng chuông liên hồi như khi nãy thì lập tức tụ họp về đây để liệu bề đối phó. Việc phân công cụ thể như thế nào sẽ do đại sư huynh Chánh Trí sắp xếp.

Chơn Truyền cất tiếng hỏi:

- Dạ, thưa thầy… thầy có biết kẽ xấu là ai không? Và họ có ý đồ gì?

- Thầy cũng chưa biết rõ… Các con cũng chớ hoang man, đây chỉ là phòng xa thôi… chưa có gì hệ trọng đâu… Thầy chỉ muốn thử nghiệm tinh thần cảnh giác của các con mà thôi.

Viên Thông hỏi thêm:

- Thưa thầy… Nếu có kẽ xấu xuất hiện, chúng con phải làm thế nào?

- Thầy đã bảo là chưa có gì nguy hiểm… Các con cứ canh phòng phát hiện bất cứ ai lạ mặt muốn lén lút quan sát chùa… Còn về sau nếu có chuyện thầy sẽ liệu cách và cho các con hay. Lại nữa thầy muốn các con ngay từ buổi chiều nay phải ra sức rèn luyện võ nghệ siêng năng hơn nữa. Các con có làm được không?

- Dạ được thưa thầy.

- Bây giờ, các con giải tán, ai làm phận sự nấy như bình thường.

Nói xong câu đó thiền sư bước vào trong để lại cho các huynh đệ nhiều suy nghĩ. Họ nhìn nhau một lúc nhưng cũng không biết nói gì với nhau vì thừa hiểu rằng mọi người đều có lo lắng và hiểu biết giống như nhau. Sau đó, họ giải tán trong niềm bán tín bán nghi về những điều vừa được nghe.

*

*   *

            Buổi chiều ngày hôm ấy, như thường lệ dưới sự dẫn dắt của đại sư huynh Chánh Trí, các huynh đệ trong chùa ra sân tập võ có hơi sớm hơn một chút. Lời dặn của thầy khi sáng vẫn còn nóng hổi trong tâm trí mọi người nên không khí buổi tập có phần nghiêm túc hẵn. Sau phần làm nóng cơ thể, ôn tập lại bộ pháp, tấn pháp, thủ pháp, cước pháp, Chánh Trí yêu cầu mọi người vào hàng ngũ chỉnh tề để ôn luyện bài quyền “Ngọc Trản Ngân Đài” vừa mới được thầy truyền dạy hoàn thành hơn hai tháng trước.

            Giọng của Chánh Trí hô sang sảng: “Bái tổ - Tam bộ bái tổ - Nhị bộ kỉnh sư - hồi thân lập trụ”, Sau thủ tục bái tổ rất nghiêm túc nhưng cũng không kém phần hoa mỹ mà mạnh mẽ, mọi người cùng trở về tư thế chuẩn bị.

“Ngọc Trản – Ngân Đài”…

            Bên dưới, các huynh đệ cùng nhau thực hiện động tác. Đầu tiên từ tư thế chuẩn bị ban đầu, mọi người đồng loạt bước chân trái tréo qua chân phải thành xà tấn, rồi lại bước chân phải lên một bước nhón chân tạo thành tấn trảo mã.  Đồng thời hoa quyền tay phải gạt từ vai trái sang phải lòn xuống hông phải vận lực vào năm ngón tay chụp tới mặt đối thủ, tay trái bảo vệ mặt chụp ngang từ trên xuống dưới chỏ phải. Động tác rất uyển chuyển khéo léo nhưng rất công phu, uy lực, trong mềm có cứng, trong cứng có mềm.

            “Tả hữu tấn khai”…

Tất cả rút chân phải nhẹ về sát chân trái, chân trái bước xéo lên thành tấn chữ đinh, cùng lúc hai tay vòng qua đầu chém tới. Tiếp theo, chân phải lên sát chân trái, rồi sang ngang qua một bên thành tấn trung bình, chân trái sát chân phải xong lui về, đồng thời hai tay lại vòng qua đầu chém tới. Mọi người tiếp tục ngoai cả hai tay về hông và bước chân trái lên trở lại tấn chữ đinh, mặt nhìn thẳng cùng lúc đẩy cả hai chưởng tới trước. Khi di chuyển mọi người tạo cảm giác nhẹ nhàng, linh hoạt nhưng khi vào thế tấn đứng trụ thì rất vững chắc, mạnh mẽ. Nhất là lúc hai chưởng cùng lúc đánh tới rất nhanh lại chính xác, dữ dội cùng với cái thần của cặp mắt nhìn vào đối phương tưởng tượng trước mặt rất dũng mãnh.

Đây là bài quyền chuyên khai thác các tư thế nghịch tréo của bộ pháp kết hợp với sự dịch chuyển trọng tâm liên tục. Để thực hiện thăng bằng được tốt đòi hỏi người luyện tập phải thật thuần thục, quen thuộc với các tư thế di chuyển luôn biến hoá một cách linh hoạt, khi thì mặt chân trụ được tạo trước rồi trọng tâm mới di chuyển, lúc thì di chuyển trọng tâm trước rồi mới tạo mặt chân trụ sau, nên thấy vững mà không, không mà vững, lảo đảo ngả nghiêng như người say rượu. Hơn nữa chính thân pháp ngả nghiêng đã tạo đà tốt cho thủ pháp, hai tay hoạt động đồng bộ, hòa quyện với nhau một cách nhuần nhuyễn làm tăng thêm uy lực cho động tác tấn công và thêm kín đáo cho việc phòng thủ.

Khi giảng dạy ý nghĩa của bài quyền này thiền sư Hải Huệ đã dạy rằng: “Ngọc trản là cái chén ngọc dùng để uống rượu hay uống trà. Còn ngân đài là cái đĩa bạc có chân dùng để đặt trái cây cúng. Trong nhà của người dân Nam nước ta, hầu hết đều có một bàn thờ tổ tiên ông bà. Trên bàn thờ ấy, phía trước là cặp chân đèn cầy, chính giữa là một cái lư hương. Kế đến phía trong, và trước bài vị là lục bình cắm hoa, một đĩa bằng bạc có chân, thường gọi là cổ bồng, đặt trái cây, và bộ tách trà hay một nậm rượu với những chén ngọc nhỏ nhắn xinh xinh. Gia đình giàu có thì chén ngọc đũa ngà, cổ bồng bằng bạc; còn nhà nghèo khó cũng cố gắng lựa một bộ chén và cái đĩa đựng trái cây đẹp nhất, mà với họ quý như ngọc như ngà, để cúng kiến ông bà. Bài quyền này muốn nhắc nhở tổ tiên đã bỏ công sức, mồ hôi nước mắt và cả xương máu để xây đắp ngôi nhà và đất nước Việt Nam.... Vậy điều đầu tiên của người học võ là phải biết tri ân các bậc tiền nhân và phải noi gương dấn thân bảo vệ non sông để Tổ quốc này mãi mãi trường tồn. Các con hãy nhớ giữ lấy ý nghĩa này trong lúc luyện tập bài quyền”.

(Còn nữa)

 
     
  Trần Thanh Hà ( Báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |