Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Tiểu thuyết
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  09/04/2014  
  NGƯỜI CẬN VỆ Chương II phần 2  
 

NGƯỜI CẬN VỆ Chương II phần 2

Đốc Binh Kiều chạnh lòng thở dài nhớ lại những ngày tháng đã qua, khi căn cứ Gò Tháp hãy còn là nỗi khiếp sợ của giặc. Ông  chép miệng thở dài:

- Trong lúc khó khăn thế này mà chúng ta không hề biết tin tức gì của chủ tướng… Này ông, việc ông đi dò la tin tức của Chủ tướng như thế nào… sao hôm nay ông lại về và kịp cứu tôi trong lúc nguy cấp?


 
 
 

Phòng Biểu trả lời một cách ái ngại: 

- Thưa Phó tướng… tôi đã dò xét và đã biết được chút ít nhưng…

- Như thế nào… ông cứ nói cho ta nghe…

- Chắc là lành ít dữ nhiều nên tôi chưa muốn nói…

Đốc Binh Kiều lại càng thêm nóng lòng:       

- Ông cứ nói cho ta nghe…

Phòng Biểu trả lời một cách chậm rãi:

- Tôi đã đến Gò Công rồi đi qua Lý Nhơn… tôi đã gặp được người cung cấp ghe vượt biển cho Chủ tướng… người đó nói ông Thiên Hộ đã về Bình Thuận hay Quảng Ngãi gì đó nhưng không thấy quay trở lại…

Đốc Binh Kiều lại thở dài:

- Chắc là Chủ tướng muốn về gặp nhà vua để cầu viện và liên hệ với các nghĩa sĩ miền Trung…

Phòng Biểu bổng có vẽ bức xúc:

- Chủ tướng vẫn còn kỳ vọng vào triều đình, mong  mõi sự giúp đỡ của nhà vua. Nhưng theo tôi triều đình nhu nhược, quan lại vì lợi quyền gia tộc của mình chỉ muốn an thân cầu hòa với giặc nên đi từ chỗ nhân nhượng đến chỗ đầu hàng giặc rồi. Có gặp nhà Vua thì cũng chưa chắc được gì. Chi bằng ta tiếp tục dựa vào dân, chiêu binh, liên kết với người Khơ me, chiêu tập lính Tagals, lính Pháp đào ngũ đứng vào hàng ngũ của nghĩa quân đánh vu hồi sau lưng địch. Ít ra cũng tạo được lòng tin cho người dân, thỏa được chí căm hờn của họ.

Đốc Binh Kiều hỏi tiếp:          

- Rồi ông có tin tức gì của Chủ tướng nữa hay không?

Phòng Biểu không nhìn vào Đốc Binh Kiều mà trả lời như cho chính mình:

- Những người dân đi biển kể lại rằng, chiếc ghe mà ông Thiên Hộ đi đã biến mất ngoài cửa biển… chắc Chủ tướng của chúng ta đã không còn nữa…

Sau một hồi im lặng, Đốc Binh Kiều nén lòng nói với Phòng Biểu:

- Thôi ta cứ chờ thêm một thời gian nhưng chớ lộ tin tức này ra ngoài. Chủ tướng của ta phải sống mãi trong lòng dân và trong tâm trí sợ hãi của giặc.

- Tôi vẫn mong là Chủ tướng không sao. Với tài nghệ xuất quỹ nhập thần như Chủ tướng đã từng trăm trận vào ra sinh tử với giặc lẽ nào lại bỏ mạng giữa biển khơi như vậy. Giá mà lúc đó Chủ tướng cho tôi đi cùng thì tôi đã có thể cùng người gánh vác khó khăn, hoạn nạn. Ôi, đời làm cận vệ của tôi không được chết thay cho chủ là điều đau khổ lớn nhất…

Đốc Binh Kiều chợt khẩn trương:

- Này ông, ta nhắc lại… ta muốn ông hãy để ta lại đây và trở ra kia tìm cách cứu anh em và cả những người Tagals trung thành… Ông hãy đi nhanh đi…

Phòng Biểu cũng trả lời một cách chắn chắn:

- Thưa phó tướng, thứ lỗi cho tôi không thể chấp hành mệnh lệnh đó được… Phó tướng bây giờ là linh hồn của Gò Tháp… tôi phải thực thi nhiệm vụ bảo vệ Phó tướng hết sức cẩn trọng.

Đốc Binh Kiều đành xuôi theo và cảm khái: 

- Giờ phút này ta cảm thấy nhớ và thương Chủ tướng quá… phải chi Chủ tướng có mặt cùng với anh em…

Phòng Biểu nói tiếp:   

- Tôi nhớ trong cuộc gặp gỡ với Kinh phái Nguyễn Tánh do nhà vua cử tới, Chủ tướng đã nói rằng: “Tôi sẽ rút lui vào Tháp Mười ẩn náu đợi thời cơ để quật trả một trận mới và tôi luôn sẵn sàng đáp ứng lời kêu gọi của nhân dân”. Đó cũng chính là những gì chúng ta nên làm và cần làm lúc này, thưa Phó tướng. Vì vậy, việc bảo vệ cho Phó tướng an toàn là vô cùng quan trọng. 

Vừa lúc đó cô Năm chạy vào. Cô mặc một chiếc áo màu trắng hãy còn vương một vài vết máu chứng tỏ vừa từ một cuộc chiến trở về. Đôi song kiếm của cô đã tuốt ra khỏi vỏ lại càng chứng tỏ điều đó. Trong vầng sáng ngược do chiếc cửa của ngôi nhà hoang vắng chiếu vào, Phòng Biểu thấy hình ảnh của vợ mình ấn tượng vô cùng. Mặc dù dáng người cô Năm nhỏ nhắn nhưng với cái cách cô di chuyển, cái cách cô hành động gọn gàng, nhanh nhẹn và không kém phần oai phong, lẫm liệt như một đấng nam nhi mà vẫn không mất đi sự duyên dáng của một người hiền phụ làm tỏa ra một vẽ đẹp lung linh đến say đắm lòng người. Cô Năm chạy đến bên Đốc Binh Kiều :   - Kìa, Phó tướng… vết thương của Phó tướng có nặng lắm không…

Rồi cô quay lại phía Phòng Biểu với đôi mắt tha thiết trìu mến của một người vợ đã lâu ngày chưa gặp lại chồng mình:

- Kìa ông, ông về khi nào mà tôi không biết ?

Đốc Binh Kiều nhẹ nhàng trả lời cô Năm:

- Cảm ơn cô Năm… vết thương chắc không đến nỗi nào…

Phòng Biểu nói với vợ:

- Tôi về đến lúc phó tướng ra lệnh tấn công tàu chiến… Đang trong trận thì thấy phó tướng bị giặc bắn vào chân nên tôi xông vào cỏng phó tướng ra đây… Nãy giờ bà ở đâu?

- Tôi cùng các anh em nghĩa quân từ phía trên đồng thấy giặc trên tàu bắn rát quá nên kéo đến cứu viện…

Đốc Binh Kiều trở nên nôn nóng :

- Rồi tình hình thế nào… có cứu được các anh em không?

Cô Năm thống thiết:               

- Khi đến nơi thì chứng kiến một cảnh tượng khiến không ai có thể quên được… Cai Lậy Tứ Kiệt bốn ông Long, Thận, Rộng, Đước đang bị hơn trăm tên giặc bủa vây…

Đốc Binh Kiều lại càng nôn nóng hơn:          

- Rồi sao… các ông ấy như thế nào… có thoát được không?

Cô Năm ngưng lặng một lúc để nén nỗi xúc động càng khiến cho mọi người bồn chồn chờ đợi. Trong đầu Đốc Binh Kiều hình ảnh mà cô Năm vừa kể ông mường tượng rất rõ ràng vì mới khi nãy thôi tình cảnh của ông cũng gần như vậy và nếu không có Phòng Biểu thì chắc… lúc đó cô Năm kể tiếp:                       

- Tình cảnh lúc ấy như chỉ mành treo chuông… mười phần chết chín… may mà nhờ các anh em người Tagals…

- Họ làm thế nào ?…

Cô Năm bồi hồi nhớ lại cảnh tượng mà chắc có lẽ những ai đã có duyên chứng kiến thì suốt đời mình không thể nào quên được. Cô kể lại:

- Hơn bốn mươi lính Tagals theo nghĩa quân của ta cố sức ngăn chặn không cho giặc bắt sống bốn ông… Nhờ họ lao vào chặn ngang họng súng của chúng nên chúng bị bất ngờ không dám nổ súng vì không biết lính Tagals này là người phe nào…

- Rồi sao nữa?

- Sau đó… chúng biết đây chính là những người hàng binh đã theo nghĩa quân nên gọi hàng bọn họ… những người lính Tagals kiên quyết không hàng nổ súng bắn lại… Nhờ vậy mà bốn ông Cai Lậy chạy  thoát.

- Còn những người Tagals thì sao?

Cô Năm chậm rãi kể lại với giọng run run không dấu nỗi vẽ xúc động:                  

- Trong cuộc đấu súng không cân bằng lực lượng như vậy… các anh em Tagals đã ngã xuống rất nhiều… không rõ còn bao nhiêu người sống sót…

Đốc Binh Kiều cũng trở nên cảm khái:         

- Tội nghiệp cho những người Tagals rất mực trung thành… Nhớ năm xưa khi tám mươi người lính Tagals ngồi xuồng cắm cờ trắng từ Mỹ Quý đi vào căn cứ Gò Tháp, đích thân Chủ tướng đã ra đón họ, mở tiệc tiếp đón long trọng… từ đó họ thành người của ta… không ngờ họ lại trung thành đến như vậy…

Phòng Biểu bồi hồi nhớ lại chuyện xưa:       

- Họ là những người dân Phi Luật Tân sống trên một hòn đảo nhỏ có tên là Tagals bị giặc lừa đến đây để đi đánh giặc nên bản thân rất căm thù giặc Tây. Hơn nữa trong trận đánh Mỹ Trà, chủ tướng đã đối đãi tử tế với tù binh nên họ cảm thấy khâm phục… không chỉ lính Tagals mà ngay cả lính Pháp cũng đã có người bỏ hàng ngũ mà về với ta… Chủ tướng thật là người biết thu phục nhân tâm…

Khi Phòng Biểu nhắc đến câu cuối, ông chợt thấy khóe mắt của người Phó tướng kiêu hùng đất Gò Tháp oai linh chợt long lanh một màn nước mỏng. Rồi từ cuối đuôi mắt dường như đã xuất hiện một giọt sương. Phòng Biểu cũng thấy mắt mình cay cay và lòng mình se thắt lại.

Cô Năm chợt nghiêm giọng:             

- Tất cả mưu sâu kế độc từ việc tấn công Gò Tháp cho đến ngày hôm nay có tội ác không nhỏ của tên Phạm Công Khanh… tên này còn sống ngày nào là nghĩa quân chúng ta còn khó khăn ngày ấy… Việc khôi phục lại căn cứ cũng không dễ dàng thực hiện… Tôi tính như vầy…

Phòng Biểu giật mình nhìn vợ:          

- Bà tính thế nào?

- Tôi sẽ dùng kế trá hàng để dụ và ám toán hắn…

Phòng Biểu ái ngại:    

- Nhưng như vậy rất nguy hiểm cho bà…

- Hắn vẫn còn tơ tưởng đến tôi nên sẽ khó phòng bị...

Phòng Biểu ngăn cản:           

- Không được đâu… hắn là con người rất thông minh và nham hiểm sẽ sớm đoán ra mưu kế của bà… không dễ gì gạt được hắn đâu… chuyện có thể không thành mà còn mất mạng…

Cô Năm rít lên qua hơi thở:               

- Cùng lắm là tôi liều chết với hắn để trả thù cho anh em nghĩa quân…

Phòng Biểu hiểu vợ mình đang nói thật lòng. Với lòng trung trinh tiết liệt, với nỗi căm hận kẻ phản bội mà trước đây cô Năm đã từng hết lòng yêu mến xem như người anh ruột thịt của mình, cô Năm dám làm những điều mà cô vừa nói ra tận đáy lòng. Và Phòng Biểu cảm thấy hết sức lo lắng về điều đó. Đốc Binh Kiều xen vào câu chuyện của hai vợ chồng:     

- Thôi, việc này ta hãy tính sao? Bây giờ hãy gom góp anh em rút lui về Mỹ Đông ém quân chờ thời cơ…

Phòng Biểu khuyên cô Năm:

- Tôi cũng nghĩ vậy… Bà yên tâm sớm muộn gì thì chính tôi cũng sẽ là người ra ta hạ sát tên phản phúc đó…

            Vừa lúc đó có tiếng xôn xao ngoài cửa ngôi nhà hoang. Phòng Biểu vừa định bước ra xem thì có một nghĩa quân bước vào. Người này nói :

            - Thưa Phó tướng, chúng tôi vừa thoát được vòng vây của giặc chạy đến đây thì thấy ám hiệu nên biết phó tướng dừng chân trong căn nhà này. Xin hỏi vết thương của Phó tướng có nặng lắm không ?

            - Cũng không đến nỗi nào, tình hình ngoài đó thế nào rồi.

            - Thưa Phó tướng, anh em đã rút quân xong… giặc vì ngán cách đánh rất rát của ta nên cũng ngại đuổi theo… tình hình lúc này đã tạm yên…

            Bên ngoài lại có tiếng xôn xao. Lúc sau có vài nghĩa quân dẫn giải một người bước vào. Người này là một ông già nhưng hãy còn quắc thước và nhanh nhẹn tuy sắc mặt có vẽ buồn rầu, tiều tụy. Một nghĩa quân nói :  

            - Thưa Phó tướng, chúng tôi bắt được người này đang lén lúc dò tìm tông tích quân ta…

Đốc Binh Kiều lấy làm ngạc nhiên:   

- Được rồi các ngươi hãy để ông ấy ở đây để ta tra xét…

Quan sát cụ già ấy một hồi thấy không thể nào là kẻ gian, Đốc Binh Kiều từ tốn hỏi:

- Kìa ông, ông là ai ?… ta thấy ông đã già sao lại tìm đến chốn nguy hiểm này ?…

Lúc này cụ già mới ngước mặt lên nhìn thẳng vào Đốc Binh Kiều và cất giọng nói:

- Tôi… tôi đi tìm con tôi…

Lúc đầu Phòng Biểu không quan tâm lắm đến người vừa được đưa vào vì còn bận toan tính đến việc rút lui về đâu cho an toàn nhưng khi nghe giọng nói hết sức thân quen, Phòng Biểu giật mình quay lại nhìn rõ gương mặt ông già, ông thảng thốt :

- Kìa Thầy… Thầy đến đây để làm gì?

Cô Năm cũng đã kịp nhận ra người thầy dạy văn dạy võ của mình năm xưa:                    - Thầy… Thầy lặn lội đến đây để làm gì hả Thầy?

Đốc Binh Kiều quay nhìn hai người:  

- Thì ra đây là…

Phòng Biểu giải thích:

- Đây chính là ông Năm Giai thầy dạy chữ và dạy võ cho hai vợ chồng tôi, đồng thời cũng chính là…

Thấy Phòng Biểu ngập ngừng, Đốc Binh Kiều lấy làm ngạc nhiên: 

- Là gì ?

Phòng Biểu đang tìm cách để trả lời Phó tướng của mình sao cho ổn thỏa nhất nhưng chưa biết nói thế nào thì cô Năm đã mạnh dạn trả lời một cách thẳng thắn:                       - Thầy tôi tên là Phạm Văn Giai, tức là cha ruột của Phạm Công Khanh…

Đốc Binh Kiều giật mình:       

- Vậy à… Ông tới đây để làm gì?

Ông Năm Giai lập lại câu trả lời một cách vô hồn và máy móc:                 

- Tôi tới đây để tìm con trai tôi…

Đốc Binh Kiều dọ hỏi:

- Ông tìm hắn để làm gì?

- Tôi tìm nó để khuyên nó quay về với nghĩa quân…

Phòng Biểu đỡ thầy mình ngồi xuống cái chân của bộ ngựa hãy còn sót lại trong ngôi nhà hoang:           

- Thầy đã gặp đại ca chưa ?…

- Thầy đã gặp rồi…

- Rồi đại ca nói thế nào?

Năm Giai bổng òa khóc:                    

- Nó không nghe lời thầy… Lại còn ra tay giết các hàng binh tay không tấc sắt trước mặt thầy… Thầy nỗi giận mắng nó rồi bỏ đi…

Phòng Biểu hỏi một cách nhẹ nhàng:           

- Bây giờ Thầy tính thế nào?

Ông Năm Giai trở nên quyết liệt:                  

- Thầy coi như không còn đứa con phản nước hại dân này nữa… thầy vào đây là để theo nghĩa quân kháng chiến chống tây… góp chút sức già chuộc tội cho đứa con lầm lỗi… Đây có phải là Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều hay không?

Mặc dù mới gặp lần đầu, nhưng những điều ông Năm Giai thốt ra từ những tình cảm sâu thẳm bên trong khiến người ta không thể nào nghi ngờ được chút gì. Đốc Binh Kiều cảm động:   

- Đúng là ta đây… ta xin ghi nhận tấm lòng của ông… nhưng lúc này nghĩa quân khó khăn lắm, ta sợ ông không kham nỗi…

Năm Giai nài nỉ:                     

- Xin Phó tướng đừng ngại… tôi cũng là người luyện võ nên sức khỏe rất tốt… hơn nữa có tôi trong hàng ngũ nghĩa quân Phạm Công Khanh chắc cũng chùn bước phần nào không dám ra tay quá độc ác…

Phòng Biểu quay lại với Đốc Binh Kiều khẩn khoản:           

- Thưa Phó tướng… nơi đây không thật sự an toàn… giặc có thể đến đây bất cứ lúc nào… bây giờ, Phó tướng và Thầy hãy xuống ghe lui về Mỹ Quý… vợ chồng tôi sẽ cản đường, canh chừng giặc, về đến nơi an toàn hãy trao đổi luận bàn tiếp…

Đốc Binh Kiều chìa tay về  phía ông Năm Giai:        

- Được rồi… mời ông cùng đi theo tôi…

Phòng Biểu ra lệnh cho các nghĩa quân lúc này đã kéo đến rất đông:         

- Anh em nghĩa quân… Mau đưa phó tướng và thầy ta về nơi an toàn…

Các nghĩa quân bước vào đỡ Đốc Binh Kiều đứng dậy, một người nghĩa quân thân hình to cao vạm vỡ kê lưng cỏng phó tướng. Ông Năm Giai cũng được nghĩa quân đưa theo cùng một cách tử tế. Cô Năm bước theo sau. Phòng Biểu gọi vài nghĩa quân ở lại cùng mình quan sát tình hình phía sau cho đoàn người rút đi được an toàn.

*

*    *

Phòng Biểu chợt cảm thấy trong người nóng ran, mồ hôi ra lấm tấm và khát nước vô cùng. Cái khát xâm chiếm cả người ông khiến ông cảm thấy như đang bị thiêu đốt dưới ánh nắng mặt trời gay gắt trên một cánh đồng không một bóng cây. Ông thấy mình đang lang thang trên một con đường vô tận chạy mãi, chạy mãi đến chân trời. Và cái chân trời đó nó mang một màu xám ngắt, dữ dằn như chuẩn bị nổi lên cơn giông bão mạnh mẽ vô cùng. Và rồi gió bắt đầu thổi và lớn dần, lớn dần. Mưa bắt đầu rơi, mạnh dần, mạnh dần. Nước bắt đầu dâng lên, cao dần, cao  dần. Phòng Biểu chìm trong làn nước vẫy vùng không biết đâu là bến bờ. Có lúc ông cảm thấy ngộp thở như sắp chết đến nơi nhưng rồi lại kịp hít vào. Rồi đột ngột ông thấy nước rút đi đâu hết ngay lập tức bỏ ông lại trơ trọi một cách lạnh lẽo. Mà ông lạnh thật, run cầm cập. Cái lạnh từ trên xuống, từ dưới lên, từ trong ra, từ chung quanh vào. Trong cơn mê man như vậy ông chợt nghe giọng nói :

- Hãy tập trung tinh thần, chú ý hô hấp để trấn áp tâm ma.

Phòng Biểu chợt hiểu ra nãy giờ do mất tập trung đã khiến tâm mình bấn loạn lúc hành thiền, một điều cấm kỵ kể cả lúc luyện khí công. Vì vậy, những ký ức đau buồn từ trong tâm thức cùng với tác động của vết thương trí mạng vẫn còn chưa lành hẵn đã khiến ông rơi vào trạng thái như vậy. Ông hiểu rằng nếu không quyết tâm tu luyện thì không những tâm trí ông không trở lại ổn định mà ngay cả sinh mạng cũng khó bảo toàn. Phải tập trung gác lại ân oán tình thù mà phục hồi sinh lực rồi mới có thể hoàn thành di nguyện của mọi người và tâm nguyện của chính mình.

Trấn tĩnh xong, Phòng Biểu quay lại định thần. Ông chỉnh đốn lại cơ thể ngồi xếp bằng theo đúng kiểu hoa sen kiết già, hai chân xếp bằng đan chéo nhau, hai bàn tay cũng đan chéo nhau trước bụng để cho hai ngón tay cái chạm nhau. Ông tự kiểm tra các bước chuẩn bị như miệng và mắt đã khép hờ, cằm hơi đưa vào, đầu lưỡi chạm nướu răng trên. Rồi đến phần bên ngoài: lưng đã vươn thẳng, vai hạ xuống, bụng thả lỏng và các cơ bắp toàn thân hoàn toàn thư giãn. Thấy cơ thể mình đã chuẩn bị sẵn sàng, Phòng Biểu tiến vào phần điều tức tức là hô hấp. Ông tập trung hít vào một hơi thở thật sâu từ mũi chạy dọc theo theo đường giữa dưới da, trước mặt và trước ngực dần xuống huyệt đan điền là một huyện đạo ở vùng bụng, dưới rốn khoàng ba phân. Sau đó là ngưng thở để tụ khí tại đan điền trong mười nhịp đếm rồi tiếp theo là thở ra một cách từ từ, nhẹ nhàng và đều đặn. Phòng Biểu bắt đầu cảm giác được chân khí phát sinh tại đan điền đang cùng hơi thở ra của ông mà lan tỏa khắp châu thân và khắp tay chân làm xua tan những mệt nhọc, đớn đau, làm nhòa tan những ân tình, uẩn khúc. Và càng về những hơi thở sau thì cảm giác này lại càng tăng lên khiến cho ông cảm thấy thoải mái, thanh thản hơn. Sau chín lần hít thở như vậy, Phòng Biểu bắt đầu chuyển sang giai đoạn khác. Hơi thở ngưng tụ ở đan điền lần này được ông dùng ý chầm chậm đưa sang huyệt Trường Cường ở cuối xương cùng của cột sống. Ông dùng ý tưởng kích hoạt khai mở hai huyệt đạo nơi đó là Trường Cường và Hội âm rồi tiếp tục dùng ý dẫn khí lên theo cột sống để kích hoạt các huyệt đạo dọc theo sống lưng. Lúc này Phòng Biểu cảm thấy luồng khí nóng di chuyển ngày càng rõ hơn phía sau lưng của mình rồi chuyển lên đỉnh đầu nơi huyệt Bách Hội được tác động tới. Rồi ông tiếp tục đưa hơi thở của mình ra mũi và thở ra. Sau hai mươi mốt vòng hô hấp như vậy, Phòng Biểu thấy cơ thể đã khoan khái hơn, tinh thần đã rất ổn định nên ông chuyển sang giai đoạn tham thiền nhập định. Lần này ông lại chọn cách quán tưởng là tập trung vào hơi thở của chính mình. Lúc này ông không dùng ý để điều khiển hơi thở như trước mà để nó tự nhiên di chuyển theo con đường mà ông đã vạch ra và ông âm thầm theo dõi nó. Tất nhiên đây chẳng phải là chuyện thú vị gì nhưng nó có tác dụng giúp ông làm chủ tâm thức của mình. Tâm thức của con người vốn có đặc điểm chạy theo những gì mang tính hấp dẫn, lôi cuốn một cách khó kiểm soát mà người ta gọi là tâm viên ý mã, tức là tâm ý như loài vượn, loài ngựa muốn đi đâu thì đi, đến đâu thì đến. Vì vậy làm chủ được tâm thức không phải là chuyện dễ dàng mà cũng chính là mục đích mà người tham thiền muốn đạt được trong giai đoạn ban đầu.

Nhịp thở từ từ, nhẹ nhàng tất nhiên là chậm hơn nhiều so với nhịp của dòng suy nghĩ. Do đó khi quán tưởng vào nhịp thở, nhịp suy nghĩ của Phòng Biểu cũng từ từ chậm lại. Có đôi lúc nó chống cự lại vì không quen bị kiềm chế, nó muốn liên kết hình này với ý kia, vật này với nghĩa nọ, có ý kiến về mọi sự việc và nó lồng lên như một con ngựa hoang dã lần đầu bị đóng yên cương, nỗi giận với những thứ đã trói buột nó. Nhiều lần nó thoát ra và đi lang thang, thậm chí lại muốn quay về với những ký ức đau buồn có, vui tươi có nhưng lần lần Phòng Biểu đã chiến thắng được nó. Ông đã bắt nó phải gắn vào nhịp thở và chỉ có nhịp thở mà thôi. Hình ảnh của kẻ thù, của chủ tướng, phó tướng, của thầy, của bạn, của anh em nghĩa quân và ngay cả của người vợ thân yêu xấu số của ông dần trở nên mờ nhạt. Ngay cả vết thương cũng bị lãng quên mặc dù còn đang trong cơn trị liệu. Và như vậy ông đã chính thức đi vào cõi vô niệm để nhìn sâu vào bên trong của sự tĩnh lặng đạt tới một trạng thái trong sáng tĩnh mịch.    
(Còn nữa)
 
     
  Trần Thanh Hà ( Báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |