Thứ Hai, ngày 21 tháng 5 năm 2018        
     
 
   Tiểu thuyết
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  09/04/2014  
  Người cận vệ Chương 3 phần 1  
 

NGƯỜI CẬN VỆ Chương III Phần 1

            Phổ Lý đang nằm co ro trong chiếc nóp do cô Lan tặng cách đây mấy hôm. Chiếc nóp được đương từ cây bàng, một loại cây thân cỏ, thân rổng giống như lác hoặc năng. Ở đây không có nhiều loài này, chắc là cô Lan đã đi vào miệt sâu hơn để cắt và chở về. Phổ Lý ngẫm nghĩ việc đương một chiếc nóp như thế này rất công phu. Phải nhổ bàng tận nơi xa, rồi bó thành từng bó nhỏ gọi là neo, rồi phơi cho thật khô, rồi phải giả nát ra… Khi giả bàng, người ta đặt neo bàng trên một miếng ván gọi là mộc bàng. Người ta dùng chày để giả theo nhịp chày đôi nhịp nhàng tạo nên khúc nhạc vui tai, dòn dã. Sau đó, người ta đương khi long mốt, khi long hai, chạy miếng chả tạo ra hoa văn đẹp mắt thành các dung đệm. Và phải dùng đến ba dung đệm nối lại với nhau bằng cây ghim và bẻ bìa để trở thành tấm đệm ba dung. Người ta lại phải gấp đôi nó lại thành hai phần không bằng nhau để chừa ra một phần làm cái nắp. Sau cùng, làm bìa để trở thành chiếc nóp. Chiếc nóp vừa là mùng, vừa là chiếu, vừa là mền nên rất tiện lợi khi dùng để ngủ.

            

 
 
 

Phổ Lý còn nhớ như in nụ cười tươi như bông sen mới nở của cô Lan khi cô đến tận chùa trao chiếc nóp cho cậu. Cô Lan còn ân cần căn dặn cậu phải ngủ bằng nóp chớ ỷ y với muỗi mà mang bệnh. Nụ hôn mà cô Lan đặt vào trán cậu đến giờ vẫn còn nóng hổi, cháy bỏng như chưa hề rời ra. Lúc cô Lan quay xuồng đi, Phổ Lý trông theo, lòng cảm động và chợt hiểu rằng mình khó quên được cái lưng cong tròn, căng nẩy sau lần áo màu nâu đất của cô. Mô phật, thật là ý nghĩ tội lỗi. Mình đã là kẽ xuất gia còn vơ vẫn với những ý nghĩ phàm tục như thế thì thật là hoen ố cửa thiền.

            Phổ Lý đang suy nghĩ vu vơ trong nhà dưỡng tăng thì chợt phát hiện một bóng người vừa thoáng qua rất nhanh phía sau chùa. Cậu lòm còm bò dậy, nhẹ nhàng tiến ra nấp sát vào một cây cột. Mặc dù trăng đang sáng vằng vặc nhưng cậu vẫn không thấy gì. Nghĩ chắc mình nhầm đang định quay trở vào thì cậu thấy có một bóng người xuất hiện khoác tay ra hiệu cho cậu đến gần. Cậu định thần nhìn kỹ thì nhận ra đó là sư huynh Quốc Ân. Cậu nhanh nhẹn chạy đến bên sư huynh chưa kịp hỏi gì thì đã thấy dấu hiệu bảo yên lặng của sư huynh. Quốc Ân lại chỉ tay cho Phổ Lý nhìn theo về phía sau sân chùa. Theo tay của sư huynh, Phổ Lý nhìn ra một bóng người đang di chuyển trong đêm. Bóng người đang đứng nấp vào một cây gáo như đang quan sát xem có ai theo dõi, phát hiện mình hay không. Sau đó, thật nhanh chóng chạy rất nhanh trên bờ đê của đám ruộng của chùa, thoát ẩn, thoát hiện bên đám lúa trời. Quốc Ân và Phổ Lý tiến nhanh đến cây gáo mà người kia vừa bỏ đi để quan sát. Bóng người đó thoáng chốc đã đến và vạch đám mây phía sau ruộng biến mất. Quốc Ân và Phổ Lý vội chạy thật nhanh theo, chui vào đám mây cao quá đầu. Trong đám mây dày đặc đó rất khó mà kiếm người. Vả lại, lâu nay cũng ít ai lui tới đám mây này vì phía sau nó hãy còn rất hoang vu. Tìm người một lúc, Phổ Lý phát hiện mình đã lạc mất sư huynh không thấy đâu. Cậu không dám cất tiếng gọi vì sợ bị lộ. Ánh trăng vẫn còn sáng chiếu nên cậu không sợ mất phương hướng liền nhắm hướng tiến sâu thêm về phía sau. Phổ Lý đang lần mò trong đám mây thì chợt nhận thấy mình đã ra khỏi đám mây đứng giữa trời trống vắng. Vừa ngay lúc đó có người phía sau túm cậu lại và lôi vào đám mây. Thì ra đó chính là Quốc Ân. Quốc Ân đè Phổ Lý nằm sát xuống đất và vạch mây chỉ cho Phổ Lý xem. Phổ Lý bình tỉnh nhìn kỷ thì ra giữa đám mây ai đó đã phát hoang một vùng hình tròn chung quanh một gốc cây bằng lăng lớn. Ngay dưới gốc cây có một bóng người đang ngồi trong dáng vẽ tham thiền nhập định. Do khuất bóng cổ thụ nên không nhận ra mặt người đó. Quốc Ân ra hiệu cho Phổ Lý hiểu cả hai sẽ bò vòng theo hai hướng của vòng tròn để tiến đến đối diện với bóng người bí ẩn kia.

            Phổ Lý từ từ di chuyển trong đám mây một cách cẩn trọng để không gây ra tiếng động. Khi cậu đến được nơi định đến thì thấy sư huynh đã đến trước và đang ngồi bất động. Phổ Lý vừa vạch mây ra quan sát thì bất chợt cậu phát hiện ra một điều hết sức kinh ngạc khiến cậu suýt chút nữa là há mồm kêu to nếu Quốc Ân không nhanh tay bụm miệng cậu lại. Ngoài kia dưới bóng cây bằng lăng, bóng người đang tu luyện đó không phải ai xa lạ mà chính là thầy của cậu: thiền sư Hải Huệ. Lúc đầu trong đầu cậu xuất hiện nhiều câu hỏi không có lời đáp. Vì sao giữa đêm thầy gần như lén lút ra tận đây để tham thiền nhập định trong khi thường ngày thầy vẫn tu luyện trong chùa? Ai đã tạo ra cái vòng tròn do chặt mây bao quanh cái cây cổ thụ này để làm nơi tu luyện? Và cậu biết sư huynh Quốc Ân cũng đang hết sức thắc mắc như vậy. Cả hai yên lặng hồi lâu thì Quốc Ân ra hiệu cho Phổ Lý ngồi yên tại chỗ còn mình thì di chuyển đi nơi khác. Ngơ ngác một chút, Phổ Lý chợt hiểu ý Quốc Ân muốn chia hai nơi để tiếp tục quan sát xem thầy mình làm gì. Phổ Lý liền ngồi yên trong đám mây. Thiền sư Hải Huệ vẫn tiếp tục nhập thiền một cách kiên nhẫn dưới ánh trăng.

Phổ Lý đã nghe kể rằng tổ Hải Huệ là đời tổ thứ chín của chùa và là chánh tông đời thứ ba mươi tám theo phái Lâm Tế thiền tông. Sau khi vị tổ đời thứ tám viên tịch, chùa Bửu Lâm rơi vào tình trạng không người trụ trì là ngay chính lúc thiền sư Hải Huệ đang neo ghe ở rạch Cái Bảy. Hương chức làng Bình Hàng Trung đã hết lòng khẩn khoản mời thiền sư về đảm nhiệm trụ trì chùa. Lúc đó, thiền sư Hải Huệ đang là trụ trì chùa Kim Cang ở Bình Thảo, Đồng Nai nhưng lại hay đi vân du hoằng hóa ở đồng bằng sông Cửu Long. Không ai biết rõ lai lịch và tên thật của thiền sư, chỉ nghe phong phanh thiền sư vốn là một vị quan triều Nguyễn, quê quán ở miền trung, đã chán ngán cảnh thế sự từ quan vào chùa Đại Giác trên Cù lao Phố, Đồng Nai thọ giáo với thiền sư Tịnh Căn.

            Phổ Lý đang suy nghĩ lan man thì bổng nhiên ánh trăng tối sầm đi vì một đám mây bay ngang. Lát sau khi đám mây đã trôi đi trăng lại sáng tỏ Phổ Lý nhận ra thiền sư Hải Huệ đã không còn ngồi dưới gốc cây nữa. Cậu vạch mây hẵn ra để quan sát cho kỹ nhưng vẫn không thấy bóng dáng của thầy đâu. Đang hoang man thì Phổ Lý thấy bóng người đứng cạnh cây cổ thụ. À thì ra thầy vừa đứng dậy đi đâu đó và trở lại tức thì. Bóng người đi vòng quanh cây bằng lăng rồi đột ngột giơ tay vẫy vẫy về hướng Phổ Lý. Ấy chết vậy thầy đã nhận ra mình theo dõi thầy rồi à. Bóng người lại tiến về phía Phổ Lý giơ tay vào lôi cậu ra. Thì ra không phải là thầy mà là sư huynh Quốc Ân. Quốc Ân hỏi khẽ Phổ Lý:

- Có thấy thầy đâu không?

Dạ, đệ không thấy.

Cả hai đi kiếm vòng quanh không hề thấy dấu vết của thiền sư Hải Huệ. Điều này thật vô lý vì hai người canh ở hai bên không lý nào chỉ trong thoáng chốc mà thầy đi đâu họ cũng không thấy được. Hai người ngồi bên gốc cây đợi thầy đến gần sáng vẫn không thấy đành cùng nhau trở về chùa trong một tâm trạng hết sức hoài nghi, khó hiểu.

 

*

*   *

            Giờ công phu khuya của chùa như thường lệ vẫn do thiền sư Hải Huệ chủ trì, nhưng hơn tuần nay thỉnh thoảng thiền sư lại vắng mặt và giao cho đại sư huynh Chánh Trí thay thế. Hôm nay cũng vậy, trong lúc Phổ Lý lo hương đèn cho chánh điện chuẩn bị vào thời khóa công phu thì đã thấy Chánh Trí đến trước, Phổ Lý liền hỏi:

            - Thầy lại vắng nữa hả sư huynh?

            - Đúng vậy, huynh cũng không biết thầy có việc gì… chỉ nghe thầy dặn dạo này thầy có nhiều việc quan trọng phải làm, nhưng đừng quan tâm mà cứ lo tu học, luyện tập cho chăm chỉ.

            Đến đây thì đã thấy các huynh đệ kéo đến chánh điện đầy đủ. Châu Viên là người khai đại hồng chung như thường lệ đã bắt đầu đến trước chuông cầm chài chờ đợi. Chơn Truyền được lệnh của Chánh Trí bắt đầu thực hiện ba hồi khánh mỗi hồi bốn tiếng. Châu Viên bắt đầu đọc bài kệ thỉnh đại hồng chung:

Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới,

Thiết vi u ám tất giai văn.

Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,

Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.

Rồi bắt đầu đánh đại hồng chung bảy tiếng nhỏ và ba tiếng lớn. Sau các nghi thức sơ khấu, nhị khấu, tam khấu… các bài kệ, thán là đến nghi thức hoàn chung. Châu Viên lại đọc:

Bát bát chung thinh hướng Phật tiền

Thượng thông hạ triệt lạc vô biên

Lục đạo chúng sanh mông thoát khổ

Cửu u thập loại xuất khanh nhiên.

Mọi người đồng thanh đọc theo: Nam Mô Đăng Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

Châu Viên lại đánh bốn tiếng đại hồng chung. Đến đây Chánh Trí đánh gia trì chung là cái chuông hình như cái bát to đặt ngữa ngay trước bàn thờ phật để bắt đầu nghi thức tụng kinh. Phổ Lý tiếp theo bảy tiếng mỏ bắt đầu bằng bốn tiếng rời nhau, hai tiếng liền nhau và một tiếng rời ra sau cùng. Rồi chuông mỏ bắt đầu hòa với nhau theo thứ tự chuông thỉnh trước, mõ gõ sau, sau ba tiếng thì chuông ngừng, mõ gõ tiếp theo tiếng thứ tư, rồi đến tiếng thứ năm và thứ sáu mỏ gõ liền nhau, đến tiếng thứ bảy của mõ, thì chuông thỉnh một lượt với tiếng mõ. Việc này Phổ Lý đã quá thuần thục chưa hề xao lãng nên hôm nay dù trong đầu không tập trung lắm nhưng cũng không hề sai sót chút nào.

Tiếp theo chư tăng bắt đầu tụng chú Lăng Nghiêm, đây chính là lời phát nguyện của ngài A Nan sau khi thoát nạn và ngộ được bản tâm. Theo lời Phật dạy tất cả chúng sanh đều có phật tánh nhưng vì mãi đuổi theo vọng niệm, ngũ dục, lục trần, chạy theo những phiền não đảo điên tham, sân, si nên mãi trầm luân trong biển khổ sanh, lão, bệnh, tử. Chú Lăng Nghiêm có thể giúp người tu hành giác ngộ được chân tâm như ngài A Nan khi xưa. Sau chú Lăng Nghiêm chư tăng bắt đầu niệm Đại bi thần chú có thể giúp chuyển thức thành trí, đạt được tâm thanh tịnh, chuyển phiền não thành Bồ đề, nên đạt được thần thông diệu dụng, được đồng thể đại bi như ngài Quán Thế Âm. Tiếp theo chư tăng lại tụng mười bài thần chú trong đó có các bài như: Tiêu tai cát tường thần chú, Công đức bảo sơn thần chú, Vãng sanh tịnh độ thần chú... Mỗi bài chú đều có những công năng và ý nghĩa sâu xa riêng giúp người trì chú đạt được tâm bình đẳng, thể tánh tự tại để Phật tánh tự nhiên sáng suốt, phước đức, trí huệ, thần thông ... tất cả đều biến hiện. Sau đó, chư tăng lại đọc Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm kinh để càng thêm thấm nhuần ý tưởng tâm thể nó vốn không, cảnh trí vốn cũng không, cho nên không có cái gì để mà vướng mắc. Trong khi trì chú, tụng kinh lời kinh nhịp nhàng với tiếng mỏ của Phổ Lý, tiếng chuông gia trì cùa Chánh Trí vang lên trong đêm vắng khiến chư tăng cảm thấy trong lòng thanh tịnh, bụi trần phiền não dần phai, chơn tâm, phật tánh dần hiển lộ.

Sau phần tán phật là phần niệm phật đi kinh hành. Chư tăng bắt đầu đi vòng quanh chùa trong lúc miệng niệm Nam mô A di đà phật. Rồi sau cùng là lạy tam bảo bảy mươi lạy và tụng kinh hồi hướng chấm dứt thời khóa công phu khuya.

Khi đang thu xếp bàn thờ, Chánh Trí đến bên Phổ Lý và hỏi:

- Đêm hôm, đệ đi đâu mà khi huynh đến chổ đệ ngủ không thấy vậy?

- Dạ... dạ... chắc đệ chột bụng nên đi ngoài...

- Cả đệ nữa... Quốc Ân...

- Dạ... dạ... đệ không ngủ được nên đi dạo một chút đó mà...

- Thôi hai đệ đừng nói dối nữa... thật ra đêm hôm ta cũng ở sau lưng hai đệ mà hai đệ không hay đó thôi...

- Vậy hả sư huynh? Mà dạo này thầy có chuyện gì hay sao đó? Đệ thấy thầy rất lạ?

- Huynh cũng thấy thế... nhưng chắc thầy có việc quan trọng... các đệ không nên tò mò như vậy nữa... Kể cả ta... khi nào cần thiết chắc thầy sẽ nói cho chúng ta biết thôi...

- Dạ, đệ hiểu rồi...

- Thôi các đệ lo chuẩn bị bữa sáng đi...

(Còn nữa)

 
     
  Trần Thanh Hà ( Báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |