Thứ Ba, ngày 20 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Truyện vừa
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  13/10/2010  
  Ma và người  
 

I

VÒNG TRÒN

“Sự thật. Đó là một cái vòng tròn khép kín đầy bí ẩn, ở trong đó chứa đựng: hạnh phúc, nỗi đau, điều rủi may, những ước mơ, khát vọng... của con người, kết thành một sợi dây số phận, có bắt đầu và kết thúc mà mỗi con người đều phải bước qua.

 
 
 

Ta không muốn tạo ra thêm sự mơ hồ và phức tạp như thế để làm gì, khi bản thân cuộc sống vốn đã trải đầy sự nghịch lý. Ta chỉ có một niềm tin mạnh mẽ vào quy luật của tự nhiên, một lực lượng vật chất duy nhất có khả năng làm thay đổi mọi sự vật và hiện tượng trong trời đất và con người, nó xuất hiện và tồn tại ở bên ngoài không gian và thời gian. Ta chỉ muốn tìm được chính mình, từ đó để tiếp cận với những con người mà ta muốn cảm thông. Đó là sự thật về cuộc đời họ. Một điều tưởng chừng như đơn giản, thế mà, từ khi ta bắt đầu hiểu biết về người, về cuộc sống, cho đến ngày hôm nay, với một thời gian ngắn ngủi của một đời người, ta đã trải qua một cuộc kiếm tìm đầy hy vọng và thất vọng. Và giờ đây, khi sự sống trên hành tinh này đang đi dần vào sự hủy diệt không thể nào tránh khỏi, mà sự kiếm tìm cho một lời giải đáp dường như không bao giờ có. Nó như một tín hiệu cô đơn lang thang trong cõi lặng im vô định.

Không ai dám nhận mình là một nhân chứng của lịch sử, bởi vì bên trong bộ não của con người có một góc dành cho sự lãng quên. Thiên tài cũng chỉ có thể khám phá, sáng tạo một phần cực nhỏ quy luật vận động của thế giới vũ trụ. Những bộ óc vĩ đại nhất, những phương tiện cực kỳ tinh vi do con người chế tạo cũng không thể nào lưu giữ lại tất cả những gì mà thế hệ mình đã sống và đã trải qua. Sự hạn chế về tầm nhận thức của con người là không thể chối cãi. Đó là chưa nói đến sự ích kỷ, sự oán thù, sự vô tâm..., và khi đó, cái góc của sự lãng quên kia ngày càng được vun đắp thêm lên.

Ta không có tham vọng, không có khả năng, không có đủ thời gian để nghĩ đến những vấn đề quá lớn, mà ta chỉ muốn cảm thông, hiểm được thế giới nội tâm con người. Mỗi con người giống như một vũ trụ nhỏ, cũng đầy bí ẩn và phức tạp.

Trong cuộc sống bình thường hàng ngày, ta luôn bị ám ảnh bởi câu hỏi: Vì sao có người bị đời ruồng bỏ, bị vùi dập, bị làm cho đau khổ mà họ vẫn chấp nhận sự khổ đau, vẫn sục sôi sức sống. Vì sao có người luôn gây ra tai họa cho người khác mà họ vẫn ung dung không hề biết hối hận? Hay là... ở trong nỗi khổ đau và sự tàn bạo kia đều có dục vọng của khoái lạc.

Ta lần trở lại nguồn gốc ra đời của bản thân ta và các loài sinh vật: Sự ra đời nào cũng bắt nguồn từ khoái lạc! Có lẽ vì vậy mà con người dù sống trong hoàn cảnh đau khổ hay sung sướng, hiền từ hay tàn bạo..., họ cũng điều sẵn sàng chịu đựng, sẵn sàng phạm sai lầm, sẵn sàng phạm tội ác vì dục vọng của khoái lạc một cách bản năng chăng? Từ khi ta bị dằn vặt bởi câu hỏi này, ta bắt đầu hoài nghi về một khả năng tồn tại vĩnh hằng của cuộc sống. Có hay không có sự tồn tại vĩnh cửu của con người? Nếu ở bên trong con người tồn tại và chịu sự song trùng của thiện và ác thì sự chờ đợi ở phía trước mặt chỉ là tai họa, là sự chuẩn bị cho cái chết, cho sự hủy diệt mà thôi.

Rồi ta nghĩ khác đi, phản bác lại và bỏ lửng cái lập luận rối rắm, không có lối thoát đó. Và sự cực đoan trong ta trỗi dậy. Ta không hiểu hết phạm trù tự do. Ta biết không hề có tự do tuyệt đối, nhưng ta muốn có tự do tuyệt đối để tìm kiếm bản thân mình, để hoài nghi những gì đã trở thành những con đường mòn vạch sẵn, để tiếp cận được sự thật một cách khách quan. Không có tìm kiếm và hoài nghi thì con người và thế giới sẽ bị cùng kiệt, khô cạn đi sự phát triển và sức sáng tạo.

Ta tự đặt cho mình một trách nhiệm nhỏ nhoi là ghi nhận sự lãng quên. Ta tự cho ta là một người trung thực, vì ta có một khả năng hơn hẳn mọi người, đó là khả năng lưu trữ những gì mà người khác không hề để tâm tới.

Người ta luôn luôn ngợi ca, nâng niu, chăm chút cho sự sống, gọi nó là niềm hạnh phúc, và căm thù, sợ hãi cái chết, gọi nó là điều bất hạnh. Nhưng cái niềm hạnh phúc thì thật là ngắn ngủi, mỏng manh, còn cái điều bất hạnh mới thật là lớn lao, thật là khủng khiếp và thật sự là cõi vĩnh hằng mà ai ai cũng sẽ bước vào một cách không tự giác. Còn ta, ta đang sống và ta đang chết. Ta là bóng ma, là đêm tối, là vực thẳm, là cõi lang thang cô độc tuyệt đối. Hãy đến với ta bằng sự im lặng, ta sẽ trao cho điều bí mật của sự thật và lòng tin.

Cái điều bí mật ấy được cất giấu ở hai bàn tay này. Nó giống như hai vũ trụ chỉ cách nhau bằng một cánh cửa thời gian khép chặt, chúng được mang tên: Thế giới của quá khứ và thế giới của hiện tại. Thế giới của quá khứ rất gần nhưng khó bước qua, cần phải có một khả năng vô thức mới có thể bước vào. Bên trong có nhiều vũ trụ nhỏ hơn, nó là những vòng tròn lưu trữ đầy đủ sự thật đã được diễn ra một cách trình tự mà không thể nào có thể che giấu, hoặc xuyên tạc khác đi được. đó là thế giới của sự thật, là những đoạn đời đang chết đi, là cõi chết. Thế giới của hiện tại là một nơi bỏ ngỏ nên chỉ cần sử dụng đến ý thức là có thể có mặt ngay ở đó. Đây là thế giới của sự hỗn độn, sôi động, là những dự định, những thủ đoạn, những toan tính, những bề bộn, ngổn ngang đầy mâu thuẫn và phức tạp, nó đối lập với thế giới của quá khứ, vì vậy, nó rất khó xác định được cái gì là đúng, cái gì là sai, cho nên nó phải biết kiên nhẫn chờ đợi. Đó là cái thế giới mà ta đang sống.

Hai thế giới ấy là cuộc đời ta, một nằm gọn ở bàn tay phải và một nằm gọn ở bàn tay trái. Và cứ như thế, chúng định hướng, dẫn dắt ta đi”.

II

ÔNG LÀ AI?

Ngày này qua ngày khác, ông đi từ đầu xóm đến cuối làng tuôn ra những mẫu chuyện, những câu nói lạ lùng, khó hiểu như thế. Người ta đã quá lờn mặt ông, một con người bị bệnh tật đã mất trí nhớ, đã sống quá tuổi thọ vốn có của mình và trở nên lú lẫn, điên khùng. Ông không còn là mối bận tâm của tất cả mọi người. Người ta cầu nguyện cho ông được chết sớm để tâm hồn, thể xác được thanh thản, khỏi phải bị dằn vặt, đọa đày, khổ sở nữa.

Ông là nơi thu hút bọn trẻ hay nghịch phá để cho chúng trêu chọc, là những mẫu chuyện về đời tư trong hiện tại và trong quá khứ, rồi biến thành những chuyện tiếu lâm để cười cợt của những người vô tâm, là lòng thương hại của những người có tấm lòng từ thiện, là sự bí ẩn khép kín bằng cánh cửa của sự im lặng, trở thành nơi bất khả xâm phạm, là sự chịu đựng tuyệt đối, là cánh cửa mở rộng âm thầm của sự khát khao cao thượng. Cuộc đời ông lặng lẽ, sống động trong tất cả mọi cuộc đời khác.

Ông thuộc một họ có tiếng tăm giàu có được truyền qua nhiều đời. L.P. ngày nay và một số làng lân cận, ngày xưa, đều thuộc quyền sở hữu của dòng họ ông, trong suốt thời kỳ Pháp thuộc.

“Cha ăn mắm, con khát nước”? Có phải câu dân gian ấy đã ứng với cuộc đời ông? Gốc gác của ông mọi người đều biết như vậy, nhưng nó không phải là điều quyết định cuộc đời ông sau này, nó có nhiều uẩn khúc khác mà do sự vô tình, cố ý của bản thân ông và hoàn cảnh đương thời tạo nên.

Tôi thuộc người sinh ra ở đây nên tôi cũng được biết về quá khứ của ông như vậy. Do phải tự lập danh vọng và sự nghiệp cho tương lai, tôi rời làng quê trong một thời gian dài, ít có dịp về nhà, tôi quên bẵng, không hiểu hết về đoạn đời sau này của ông. Một con người rất nghèo do hoàn cảnh biến động của gia đình và xã hội, với tài sản duy nhất là chiếc búa òng làm nghề bửa củi mướn, ghiền rượu và hay kể chuyện. Ông kể chuyện cổ tích, thần thoại và có chuyện do ông tự sáng tác ra mà nhiều năm sau này khi đã lớn, tôi vẫn còn nhớ. Đó là cuộc du hành của một người đi vào thế giới của quá khứ và tương lai, lúc đó tôi chưa hiểu hết nhưng thấy hấp dẫn, thích thú. Bây giờ, tôi không nhớ hết những mẫu chuyện ông kể, tôi chỉ nhớ một câu nói có tính chất triết lý đến nay tôi vẫn chưa hiểu hết: Con người ta không được giả dối, phải tôn trọng sự thật và phải biết yêu sự thật. Sự thật sẽ giúp con người nhận rõ lỗi lầm và tội ác.

Mặc dù được sự chăm chút và dìu dắt của ba tôi, tôi vẫn thất bại trên con đường tiến thân bằng quan chức và không trở thành một người giàu có. Bản tính tôi trung thực, không thích cúi đầu, bợ đỡ, vâng dạ, thủ đoạn, lừa lọc, móc ngoặc, giả dối, vô tâm..., để thu vén cho cá nhân mình, người ta gọi là bóc lột mà kinh điển của chủ nghĩa Mác đúc kết thành cội nguồn của sự công bằng trong xã hội, cần phải xóa bỏ. Tôi chưa hiểu cuộc đời nhiều, với kiến thức kinh nghiệm sống ít ỏi, tôi đã thấy trước mắt những người trung thực, chân chính đều nghèo khổ, cùng lắm là đủ ăn, đủ mặc đã là khá giả. Như một người bơi ngược dòng, tôi bị cô lập giữa mọi người, trở thành con người xa lạc. Chính vì vậy mà bây giờ tôi là một con người viết văn quèn không tiếng tăm. Cho dù tôi đã làm cho ba tôi phật lòng, tôi chấp nhận con đường mình đã chọn.

Những năm Diệm ban hành luật 10/59, lê máy chém khắp nơi khủng bố những người kháng chiến cũ, ông bỗng dưng biệt tăm, biệt tích. Thời gian ông biến mất không lâu, có nhiều thông tin về ông: Không chịu nỗi sự khủng bố, ông trốn lên Sài Gòn làm ăn, ông trở lại chiến khu kháng chiến và đã chết trong một trận đánh đầu tiên với lính Mỹ ở chiến trường đồng bằng..., những tin ấy vừa mơ hồ, vừa đánh lạc hướng, rồi năm tháng đi qua, tên ông, hình bóng quen thuộc của ông mờ dần trong trí nhớ mọi người và xóm làng thân thuộc. Rồi cơn lốc 30-4 mang người cán bộ cách mạng từ chiến khu trở về trong niềm vui của bất ngờ và hãnh diện.

Tôi biết thời gian sẽ biến đổi mọi thứ nhưng đối với ông, sự biến đổi ấy thật là ngoài sức tưởng tượng: Tôi cảm thấy đau lòng khi đứng trước mặt ông.

Có một lần tôi nhìn thấy ông đi ngang qua. Trên tấm thân còm cõi, đen đúa chỉ độc nhất một chiếc quàn lở vắn, lở dài màu đen đã ngả sang màu bạc mốc. Chỉ một chút thôi là ầm ĩ những tiếng cười, tiếng la hét vây quanh lấy ông.

- Ông già xích xụi!

Một đứa trong bọn trẻ giựt lấy cây gậy tre trong tay ông, bắt chước dáng đi cao thấp của ông, làm ông loạng choạng, chới với té xuống đất.

- Ông già cô đơn!

- Ông Năm cô đơn!

- Ông già, ủa mà bà già! Không phải ông già, cũng không phải bà già mà là ông bà già!

Có người lớn rắn mắt và tục tĩu hơn, xúi giục những đứa trẻ mất dạy nhất trong bọn, bày trò xúc phạm nặng nề đến chỗ đau nhất của đời ông. Họ xúm nhau lại làm bộ động tác tuột quần ông ra.

- Ông già không có trứng dái!

Người ta nhát ông chơi để xem sự cuống cuồng, sợ hãi của ông mà cười cợt. Có người sòng phẳng hơn, biết ông không tiền mà ghiền rượu, bảo ông tự vạch ra cho xem “cái ấy”  thì sẽ có nhiều tiền uống rượu. Dường như do ý thức luôn bảo vệ danh dự sẵn có trong người, mặc dù thèm rượu nhưng ông không bao giờ chấp nhận cái trò “buôn bán” đó. Nước mắt ông chảy ra và ông lầm lũi bỏ đi.

Đó là cái trò cuối cùng đã làm thỏa mãn họ.

Về quê lần này tôi mang theo chiếc máy ghi âm cực nhỏ và chiếc caméra, tôi nghĩ phải ghi lại những âm thanh, những hình ảnh kỳ dị này. Tôi cho đó sự sỉ nhục, sự nhạo báng độc ác nhất của con người đối với con người.

III

CUỘC SỐNG HAI MẶT

Tôi đi vào nhà, căn nhà đồ sộ được kiến trúc thật là tân kỳ, lạ mắt và lộng lẫy quá mức. Nhìn từ đằng xa, nó lấp lánh như một hạt kim cương vì sự phô trương, dư thừa của các lớp kính. Đây là món quà tình cảm, người ta đã tặng cho ba tôi là một trong những lãnh đạo đương quyền của tỉnh. Căn nhà này vào loại lớn nhất xóm tôi kể từ xưa tới nay, và là một trong những ngôi nhà có tiếng là sang, là đẹp nhất tỉnh. Đó là một trong bốn công trình xây dựng cấp tỉnh, do một kiến trúc sư có tiếng tăm thiết kế. Nói đến việc này tôi sợ dài dòng kể lể nhàm chán, nhưng vì nó là sự kiện đầu tiên mà sau này trở thành khuôn mẫu phổ biến trong xã hội để cho những người đương chức, đương quyền cấp dưới của ba tôi noi theo. Ba tôi là tác giả của các công trình này, tất nhiên, đó là những công trình cần thiết chung của xã hội đáng được sự đồng tình, ca ngợi. Có thể kể ra đây, vì nó là công lao đáng kể trong cuộc đời làm việc của ba tôi: Đó là những công trình xây dựng khu di tích, sau này trở thành khu du lịch quốc gia, công trình nghĩa trang liệt sĩ và hội trường. Có những mẫu chuyện bên lề vui vui lại là ý kiến chỉ đạo, chẳng hạn như: Cái vòm của khu di tích, lúc đầy xây thoáng, đẹp, hài hòa. Sau khi ba tôi đi xem, đứng giữa vòm, ông vừa cười vừa nói: Phải xây thêm hai cây chống hai bên để đỡ, phòng ngừa vòm bị sập, nguy hiểm. Không biết điều này có đúng như vậy không? Nếu đúng như dự đoán của ba tôi thì trách nhiệm của người chỉ huy thi công và người trực tiếp thiết kế sẽ như thế nào? Điều đó không được xem xét, lập tức người phụ trách công trình tiếp thu lời chỉ đạo, tiến hành thực hiện ngay theo ý của ba tôi. Sau khi xây dựng hai cây chống xong, ai ai cũng thấy là cái vẻ đẹp của mái vòm bị phá sản, nhưng ngược lại những lời phê phán là ngợi ca, cho ý kiến của ba tôi là cẩn thận, là biết phòng xa, là có tầm suy nghĩ lớn của người lãnh đạo. Rồi đến khu nghĩa trang liệt sĩ, đích thân ông duyệt từng chi tiết một, bất chấp ý kiến của các cơ quan tham mưu về chuyên môn. Bây giờ đi tham quan nghĩa trang, người ta yêu cầu thay ngay tượng đài và các phù điêu xuống, vì đó chỉ là sự lợi dụng của những người làm nghệ thuật kém cõi bằng con đường quyền lực, áp phe để kiếm chác. Nhưng đó là những ý kiến, những dư luận ở bên ngoài, còn ý kiến chính thức thì không ai dám lên tiếng. Họ sợ cho số phận của họ, cho cái ghế của họ. Tôi nghĩ ba tôi là một người đơn giản dẫn đến sai lầm trong tất cả những việc làm này, nhưng cái sai lầm lớn hơn là tư tưởng thích quyền lực, sợ quyền lực của cấp dưới trở thành nô lệ đã gây nên điều tác hại không lớn nhưng sẽ trở thành sự khôi hài của lịch sử sau này. Tôi nghĩ rằng chuyện này nếu họ nói thẳng với ba tôi, có thể ông sẽ nghe chăng? Ngôi nhà của ba tôi thì đập phá, sửa đi, sửa lại nhiều lần do chưa vừa ý, nó mới được như ngày nay.

Chiếc cầu bê tông khá lớn, bắc ngang con sông gần nhà tôi, ra con lộ tráng nhựa nối liền với quốc lộ. Quê tôi ở, thuộc một vùng nông thôn cận ngoại ô thị xã.

Ba tôi là một người rất gắn bó với quê hương, ông luôn luôn dạy chúng tôi là con người phải có một nơi để cắm cuộc đời mình. Đó là bài học truyền thống về đạo đức làm người. Tôi không biết ai nghĩ sao, riêng tôi, từ lúc nên người, tôi luôn luôn xem quê mình là một thế giới thần tiên, mặc dù cái thế giới ấy nhỏ bé, chẳng tiếng tăm gì.

Chính suy nghĩ đó, trong khi nhiều người khác như ba tôi, khi bắt đầu bước lên danh vọng, họ bỏ làng quê nghèo khổ này để đi nơi khác tìm sự êm ấm, chỉ có ba tôi là trở về làng. Rồi ngôi nhà, con đường, cây cầu, ánh điện theo ông đi về. Ông làm ra nó trước tiên vì cá nhân ông, việc làm này tôi thấy có sự sai lầm cố ý lẫn sự đúng đắn vô tình nào đó của ba tôi. Cái sai là ông đã đi trước mọi người để lên đến đỉnh của sự giàu sang, bất chấp hoàn cảnh nghèo nàn của xã hội hiện tại. Ông đã đơn giản hóa vấn đề từ ý kiến của những người đảm nhận việc vẻ vời và xây cất. Họ nói với ba tôi rằng, chẳng có gì nhiều nhỏ và khó khăn lắm đâu: Cây cầu, con đường do cơ quan giao thông, công ty cầu đường lo. Ngôi nhà có cơ quan xây dựng, công ty vật tư và vật liệu mang lại. Điện kéo về tận nhà đã có cơ quan điện lực đảm nhận. Cái đúng vô tình là từ đó, một số bà con lân cận cũng được thơm lây.

Chiều nay, thứ bảy, nhìn những chiếc xe du lịch, dream, cub... đậu ngoài sân, tôi biết sẽ có một cuộc nhậu kín với những bạn bè được chọn lọc của ba tôi. Họ mang những thùng bia, thuốc hút, rượu mạnh, những băng vidéo mới để giải trí vui chơi. Cuộc vui rất kín đáo, được che đậy như là một cuộc họp quan trọng nào đó.

Khi chất men đã ngấm, họ bình luận về các loại bia, rượu, các loại phim mà mỗi người được thưởng thức. Rồi họ so sánh, khoe khoang, trầm trồ những căn nhà mới của ông này mới xây, bà kia sắp dựng với hàng mấy trăm triệu đồng, hàng mấy trăm cây vàng.

Tôi không phê phán sự hưởng thụ của tất cả mọi người, bởi vì, đó là những nhu cầu tối thiểu của con người. Nhưng tôi băn khoăn, lo sợ, xã hội đang bắt đầu hình thành một giai cấp mới, chỉ bằng sự giả dối, móc ngoặc, nịnh bợ, tâng bốc lẫn nhau, trở thành một hệ thống mắc xích chặt chẽ từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, hưởng thụ một cách vô tội vạ, không bằng mồ hôi, sức lao động của chính mình làm ra. Bằng chứng là hiện nay, sự phân cực giàu nghèo dữ dội do làm giàu một cách bất chính không loại trừ một đối tượng nào đã phát sinh, ngự trị một cách công khai, trước dư luận bất bình của xã hội.

Đêm đã khuya, họ bắt đầu chuyển sang phòng giải trí. Bất ngờ, họ bắt gặp tôi đang mở cuộc băng hồi chiều đã quay để làm tư liệu riêng. Mọi người cùng chào xã giao vui vẻ. Tôi đứng lên định tắt máy, họ cùng lúc hỏi tôi:

- Phim nước nào đó con? Mỹ hay Hồng Kông?

- Dạ, phim tư liệu nghề nghiệp của con.

Họ thất vọng, một ông trao cho tôi lon bia làm động tác chúc mừng gặp gỡ. Bỗng nhiều người ồ lên như thể gặp một điều gì thích thú.

- Năm Niên!

Một ông nói chính xác hơn, giọng bỡn cợt, kiểu hát tuồng:

- Người không trứng dái!

Ông khác cung cấp thêm thông tin mới:

- Đã vậy còn sanh tật. Không biết hai ông bà già có xơ múi gì được với nhau không? Còn cái bà kia nữa, già mà không nên nết, vẫn còn ham cái “khoản kia”.

Tôi quá đỗi ngạc nhiên, cảnh này cũng giống như cảnh hồi chiều tôi bắt gặp và ghi được! Tôi muốn chạy vào phòng caméra ra,  nhưng tôi bỗng giật mình dừng lại, khi nghe ba tôi xúc động nói:

- Tội nghiệp, lúc đọc quyết định khai trừ Đảng, ông đang lên cơn tăng-xông, nghe xong ông té xỉu, mang tật tới bây giờ.

Tôi hiểu thêm một chi tiết mới về con người mà tôi quan tâm: ông là một người phản bội!

Bia ngấm vào người, tôi nghe lâng lâng. Tôi thấy mình đang trở thành một con người khác, ngụp lặn trong sự tham lam, vô tâm, tôi tắt máy, lấy cuồn băng ra, vội vã rời khỏi nơi này, để trả lại cho họ niềm vui đang bốc lên cao.

IV

MẤT NGỦ

Tôi chui vô mùng, nhưng không tài nào ngủ được. Tôi biết giờ này mà ở trong nhà thì tôi sẽ hóa điên mất. Tôi ra khỏi nhà, như một người mộng du, tôi không thể điều khiển hành động mình bằng lý trí, mà như có một sự thôi thúc, bức bách nào đó ở bên ngoài lý trí và bản thân tôi.

Như vậy là cho tới bây giờ, tôi chỉ biết một phần rất nhỏ về ông. Ông là một người sống âm thầm, không muốn bất cứ ai tham gia vào để khuấy động đời tư, điều mà ông gọi là nơi tự do tuyệt đối và bí ẩn của sự thật.

Muốn tiếp cận được ông rất khó, thường là những sự tình cờ trong một lúc nào đó, khi cơn tỉnh táo chợt đến, vượt lên trên sự lú lẫn thường xuyên của ông. Con người ông như một khối năng lượng khổng lồ, có sức hút tất cả những gì xung quanh tạo thành một khối thống nhất. Và khối năng lượng ấy âm thầm tỏa sáng, trả lại nơi nguồn sinh ra, cho đến khi còn lại cái hạt cơ bản, phơi bày bản chất thật của nó.

Cũng chẳng có gì phải nôn nóng, vội vã, hay tin ông và đi theo ông. Và tôi đã tuân theo cái quy luật không thể cưỡng lại ấy. Tôi cảm thấy như mình có tội, bởi vì, nếu tôi không vô tình mà có ý thức sớm hơn một chút, lúc mà ông còn hoàn toàn tỉnh táo thì cuộc tìm kiếm này có thể sẽ trọn vẹn hơn.

Rồi như một người học trò hạng bét của lớp, tôi cố gắng lần theo, bằng sự tưởng tượng, bằng sự suy đoán, bằng những đêm mất ngủ để tìm hiểu, để góp nhặt những mẫu chuyện, những câu nói nghiêm túc hoặc đùa cợt, vô tình hay cố ý của bất cứ một ai, và những lời nói của ông khi tỉnh táo, lúc lú lẫn. Nghiền ngẫm thật kỹ, suy nghĩ thật kỹ lời ông mang tính triết lý, tổng kết của một đời người luôn luôn đau đớn vì lầm lạc, vì oan ức của mình, của người để đau khổ, để chuộc tội, để chứng minh bản chất thật của mình.

Tôi quyết định viết lại chuyện này, không phải là để minh oan, khôi phục lại danh dự cho ông hay phê phán sự giản đơn, sự vô tâm trong cách nhìn con người của những người có quyền thế, có tiếng nói quyết định đến số phận của con người, mà là để có tư liệu thật về con người ông, cả đúng đắn lẫn sai lầm, cũng như những người đã quyết định số phận ông, cho dù người đó là ba tôi hay ai khác. Tôi nghĩ là khi nhìn nhận một sự thật thì không có quyền khoanh vùng cấm, bởi nó không còn là chuyện tình cảm của người này hay người khác mà là sự thật khách quan. Vì vậy, tôi chấp nhận một sự thật dù là một sự thật đau lòng, không thể nào nói khác đi được. Và chuyện này có thể chỉ có một mình tôi biết mà chẳng có một ai quan tâm. Tôi không mong muốn gì hơn là được giải tỏa nỗi lòng cho mình, cho ông, để tâm hồn được thanh thản, không còn thấy sự căng thẳng, nặng nề.

Tâm trạng muốn giải thoát cứ lớn dần, càng lúc làm cho con người tôi căng ra như sắp nổ tung. Tôi không chịu nỗi nữa, nếu như... đêm nay không có trăng...

Trăng!

Ánh trăng đêm nay thật sáng, ánh sáng phản quang của vũ trụ có màu sáng xanh hơi lạnh, tôi có cảm giác rờn rợn nhưng hấp dẫn. Thức với đêm, tôi có ảo giác thời gian và không gian như dừng lại và sâu hơn. Từ ảo giác đó, tôi bỗng có sự liên tưởng thú vị và táo bạo, muốn thoát khỏi không gian và thời gian hiện tại để hướng về một thế giới bí ẩn nào đó đang hiện diện bên ngoài thế giới của chúng ta. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn bởi ảo giác và cảm giác đó. Và trăng đã dẫn dắt tôi đi.

Hình ảnh của đêm.

Đó là những đống rác hôi hám, nơi những con chó đói sục sạo kiếm ăn, chỗ kiếm sống của những em bé, người già nghèo khổ, là tiếng mời mọc của những cô gái bán thân, là tiếng cười dâm dật của những người tìm thú vui trong hoan lạc, là nụ cười chìu chuộng, giấu ở bên trong dòng nước mắt của những em gái trẻ trong các tụ điểm, nhà hàng bia ôm, là những người ăn xin không cửa nhà, co ro dưới gầm cầu, bên vỉa hè, là tiếng rên rỉ não nề của những băng nhạc khơi gợi sự đau khổ, kích dục, mời mọc khoái lạc...

Tôi muốn vượt qua khỏi những hình ảnh ảm đạm đó để tìm nơi giải thoát bằng những hình ảnh đẹp đẽ, hạnh phúc có thật trong cuộc sống, nhưng những hình ảnh ấy chỉ làm tôi xúc động trong chốc lát, như một cơn khoái cảm ngắn ngủi qua đi, và chỉ để lại sự chán chường sau đó, còn nỗi thống khổ không chỉ làm tôi xúc động, sợ hãi mà nó còn ám ảnh, dằn xé không thể dứt ra khỏi một cách dễ dàng.

Tôi đang bồng bềnh trong một con tàu trên sông ảo giác. Tôi cảm thấy đêm không đáng sợ, không buồn như người ta hay tưởng tượng mà đêm thật sự là hạnh phúc. Lần đầu tiên tôi chạm vào được sự im lặng, tôi thấy và nghe rõ sự tinh khiết qua đi. Sự im lặng bao giờ cũng biểu hiện cho sự trong sạch và tinh khiết, bởi nó là bản chất thật, không sự ô nhiễm nào có thể làm cho nó bị pha trộn. Nó không biết nói mà chỉ biết hiện hữu tất nhiên như một vật chất đã và đang tồn tại trong vũ trụ. Tôi biết rằng, khi chạm được vào sự trong sạch và tinh khiết thì đó là một điều khủng khiếp nhất, bởi vì chúng không thể cùng tồn tại với loài ô nhiễm, nó là sự đối lập để loại bỏ lẫn nhau. Và đó chính là nguyên nhân xảy ra bi kịch trong đời sống con người.

Đang đắm chìm trong sự im lặng, bỗng tôi thấy từ rất xa một vì sao nổ tung, một đốm lửa bay thẳng về phía tôi, lực ma sát của vũ trụ làm nó cháy thành một vệt dài xé đêm. Càng đến gần, đốm lửa càng nhạt dần, rồi mất hẳn lực sáng, chỉ nhìn thấy một khối thiên thạch đó phát ra một lực đẩy dữ dội, hất tung tôi lên cao, rồi nó tiếp tục lao đi và mất hút. Còn tôi đang lao xuống một vực thẳm đen ngòm. Bây giờ tôi chẳng còn hy vọng có một sự bám víu ngẫu nhiên nào nữa, nhưng vực thẳm nào cũng có đáy. Tôi thấy ở bên dưới đầy những cọc nhọn, rắn rít, thú dữ đang đói mồi, há miệng chờ đợi. Tôi tuyệt vọng kêu lên.

- Trời ơi!...

Tôi thấy mình đang đứng giữa ngã ba quốc lộ. Một chiếc xe vận tải đang lao tới! Tôi điếng hồn phóng nhanh vào trong lề, đụng ngay một vật đen ngòm, ngồi lù lù như một bóng ma, mang theo nỗi sợ hãi khiếp vía của một người vừa thoát chết. Tôi chưa kịp hoàn hồn thì cái bóng đen lên tiếng:

- Chào một con người hạnh phúc!

- Ai?

Tôi quát thật lớn bằng tất cả sự sợ hãi để tự trấn tĩnh mình.

- Cháu vừa được chứng kiến một cái chết ở trong vũ trụ phải không?

Tôi định thần lại. Qua giọng nói vừa ngọt vừa êm và đúng với tâm trạng của tôi lúc đó làm cơn sợ hãi tan biến. Tôi bình tĩnh nhìn kỹ cái bóng, dần dần hiện lên là một con người mặc quần cụt, ở trần, đang ngồi trong tư thế say mê ghi chép một cái gì đó dưới ánh trăng. Tôi lạ lùng vì thấy không có sổ và viết, nhưng vì sao ông lại đọc được trong ý nghĩ của tôi. Và tôi đã nhận ra cái bóng ấy.

- Ông Năm!

V

SỰ IM LẶNG LÊN TIẾNG

Như có một sự ngẫu nhiên nào đó đã nối giữa tôi và ông bằng cuộc gặp gỡ bất ngờ này, cuộc gặp gỡ mà cả ông và tôi đều không có một ai hẹn trước. Trong suốt một tiếng đồng hồ trò chuyện, ông vẫn ngồi trong tư thế đó. Tôi lấy làm lạ, ông nói sổ của ông là không gian, viết của ông là tia nắng mặt trời. Đây là lúc sự im lặng lên tiếng để ông thu nhận hết tất cả những gì mà cuộc sống đã đi qua đời ông. Tính khó hiểu của ông không phải bất cứ ai cũng có thể hòa nhập, chỉ có những người biết cảm thông, hiểu được tâm trạng mới có thể nghe được những gì ông muốn nói.

- Con người ta không được sống giả dối, phải tôn trọng sự thật và phải biết yêu sự thật. Sự thật sẽ giúp con người nhận rõ lỗi lầm và tội ác.

Ông nhắc lại câu nói cách đây đã mấy chục năm, khi ông còn là một con người bình thường. Có lẽ, ông đã mang câu nói đó trong suốt cuộc đời mình, làm ngọn cờ, làm mục đích, làm niềm tin và lý tưởng để sống, không biết ông có đạt được mong ước hay không, dù chỉ có mình ông theo đuổi.

Tôi tranh luận.

- Nhưng sự thật mà ông quan niệm và theo đuổi, chỉ là im lặng của lãng quên.

Ông bỗng mất bình tĩnh, từ giọng nói ngọt ngào chuyển sang giận dữ.

- Tao là kẻ có tội đối với dòng họ tao! Tao đã không tự bảo vệ nổi hạt giống của mình, để cho kẻ thù hủy hoại sự ham muốn, và biến tao vĩnh viễn không còn tồn tại trên cuộc đời này nữa!

Tôi hiểu sự phẫn nộ, giận dữ của ông không nhằm vào tôi mà ông trút tất cả để tự dằn xé bản thân mình. Ông cho lỗi đó là lỗi của ông chớ không phải của người khác gây ra cho ông. Tôi nghe và thấy trong giọng nói giận dữ của ông đầy nước mắt. Cũng âm điệu giận dữ đó, ông tiếp tục thét lên:

- Tao còn một tội lỗi lớn khác nữa là cả cuộc đời đau khổ của tao, tao đã không chứng minh được tính công dân của mình để cho người ta chấp nhận được con người thật của tao, cho dù là một sự tha thứ. Có phải sống chỉ là một sự giả trá với nhau không? Như vậy sống để làm gì? Hả?...

Ông hỏi không nhằm vào một cái gì cả. Ông thét vào không gian và thời gian đang chứa đựng ông. Ông thét vào thế kỷ, vào thời đại của ông, của thế hệ ông đã tạo dựng nên. Lần đầu tiên, tôi thấy cái phần bên trong của con người, nó có một sức mạnh phi thường mà thể xác không thể nào chứa đựng nổi. Tôi hiểu thêm, vì sao con người có sức chịu đựng ghê gớm đến như vậy? Rồi tôi kết luận được điều này: khi tâm hồn phẫn nộ thì thể xác chỉ là một tên nô lệ.

Bây giờ, tôi đang bước vào cái thế giới mà ông gọi là quá khứ. Điều này ông không nói ra mà do người nghe chuyện tự hiểu, tự phân biệt lấy, bởi ông đang đặt quá khứ và hiện tại ra bên ngoài không gian và thời gian hiện tại, để đi vào rồi trở ra mà chẳng cần biết thế hệ nào, thời đại nào. Lịch sử và hiện tại đối với ông chỉ có một thời điểm.

Tôi thực sự bị cuốn hút từ lời nói của ông mang đi. Tôi thấy có lúc ông là một đứa trẻ đang cười vui với hạnh phúc, có lúc là một thanh niên đang oằn oại, đau đớn vì sự mất mát không gì bù đắp nổi, có lúc là một người đứng tuổi đang bị dằn xé bởi lỗi lầm, có lúc là một ông già bệnh tật, khắc khổ, im lặng vì sự vô tâm của con người đối với con người. Những gương mặt ấy đang biến dạng theo từng giai đoạn, từng thời kỳ, từng hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống, nó khắc sâu những dấu ấn vào tâm hồn ông, làm cho thể xác khô héo vì sự chịu đựng quá sức mình. Những dấu ấn ấy khắc sâu cả nỗi đau khổ, dằn dặt của chính ông và sự vô tình, cố ý của người khác đã gây ra cho ông.

Âm thanh tiếng nói của ông là phương tiện đưa tôi xuyên qua cánh cửa thời gian một cách nhẹ nhàng để bước vào cái thế giới đó. Tôi đang ở trong một vùng của quá khứ dày đặc bóng tối và ánh sáng, nơi của lầy lội và thanh cao. Tôi cảm thấy nhẹ nhàng vì tâm trạng sắp được giải tỏa, ở đây có đầy đủ tất cả những gì đã xảy ra, và mọi cái đều được khẳng định từ cái đúng lẫn cái sai lầm. Có điều nó chỉ nằm đó và im lặng.

Tôi biết cái mà mình đi tìm.

VI

VÒNG TRÒN THỨ NHẤT

Tôi bị sức hút của vòng tròn thứ nhất: Đó là cảnh tượng của địa ngục trần gian. Tôi có nên ghi lại hình ảnh này không? Có thể đây là sự xúc phạm thô bạo đến chỗ thầm kín, riêng tư và là chỗ đau đớn nhất của đời ông. Nhưng rồi tôi nghĩ khác, vấn đề là không còn nỗi đau của riêng ông mà là nỗi đau của con người.

Tôi hiểu rằng, khi chạm vào nỗi đau của người khác bằng sự xúc động chân thành thì đó là sự cảm thông, chứ không phải là sự vô tình, dửng dưng của một người ngoài cuộc. Hơn nữa, tôi đã vượt qua biết bao điều tốt đẹp lẫn sự xấu xa mới đến được nơi đây, mới có thể đau được nỗi đau của người khác.

Con đường đi đến đây không phải bằng lòng dũng cảm, bằng sức mạnh, hay bằng sự giàu sang về vật chất mà chỉ bằng tình yêu thật sự. Trước khi bước vào để tận mắt nhìn thấy sự thật, tôi đã phải trải qua một cuộc thử thách tinh thần căng thẳng ghê gớm. Tôi đã chống trả vất vả, mệt nhoài đến mụ mẫm cả người để cho sự giả dối lên tiếng thanh minh đủ điều. Nó là những âm thanh, những tiếng động lớn nhỏ của hỗn xược, tru tréo. Tôi dùng tấm chắn bình tĩnh để phớt lờ, chịu đựng cho nó lướt qua, cố gắng xua đuổi không để lại dấu vết. Đến khi những âm thanh, những tiếng động đó chán chê bỏ đi xa dần rồi mất hẳn. Bây giờ, cái còn lại duy nhất là sự im lặng: sự thật ở đó.

Tôi rùng rợn và khinh bỉ, xấu hổ lẫn lầm lạc khi chính mình lại là đồng loại với con người. Trước mắt tôi là cảnh tra tấn con người mà tôi cho là độc ác nhất trong mọi đồng loại, bởi vì, con người là một đồng loại duy nhất có lý trí, vì vậy, sự độc ác của nó là sự độc ác có ý thức.

- Vì sao mày theo Việt Minh?

- Vì lẽ phải!

- Mày là con trai còn lại duy nhất của địa chủ C.?

Người thanh niên tái mặt, dường như anh linh cảm sắp có chuyện chẳng lành xảy đến với mình.

- ...!

- Mày đã đi ngược lại lý tưởng của dòng họ mày và ba mày.

- Lý tưởng sẽ biến đổi theo qui luật khách quan của lịch sử và dòng chảy của thời đại. Tôi bị dòng chảy đó cuốn đi.

- Anh mày bị Việt Minh xử tử, má mày bị họ tìm bắt để “mổ bụng dồn trấu”. Mày không căm thù họ sao? Tao cho mày thêm một ngày suy nghĩ, rồi khai ra đồng bọn của mày!

- ...!

Hôm sau, chúng lột quần anh ra, dùng dùi cui đánh vào bộ phận sinh dục của anh, cố ý nhằm vào hai dịch hoàn mà đập, cho đến khi chúng tin rằng hai dịch hoàn không còn nguyên vẹn nữa mới thôi. Để cho chắc ăn, chúng đặt bộ phận sinh dục anh lên một thớt gỗ, một thằng cố kéo hai dịch hoàn anh ra, thằng kia cầm chạy nện.

Anh ngất xỉu vì quá đau đớn. Chúng tống anh vào tù. Ngày hôm sau, trong cơn đau tột đỉnh của thể xác lẫn tâm hồn, chúng gọi anh ra ký tên vào hồ sơ, trả lại tự do.

Sự thật tiếp tục lên tiếng. Lần này tôi nghe và thấy qua giọng nói của chính ông:

“Ta nghĩ rằng, đối với dòng họ ta, ta không phải là người phản bội. Ta tự hào và khâm phục sự tận tụy của ông tổ ta, một thầy thuốc bằng lương tâm nghề nghiệp của mình, đã truyền lại cho con cháu sự giàu có. Ta không thể lấy ông nội ta để noi gương, vì các ông đã dựa vào thực dân đế quốc, làm việc cho chúng, bóc lột nông dân, vơ vét để duy trì và phát triển thêm cơ nghiệp, đưa sự giàu sang lên tột đỉnh. Mỗi bước các ông đi, nông dân phải cúi đầu run rẩy. Ta ghê sợ con người. Tại sao con người lại sợ con người? Ba ta đã trưởng thành vào thời kỳ cuối cùng của chủ nghĩa thực dân cũ đang trên đà tan rã. Ông là một người nhu nhược thích ăn chơi, hút sách. Có lẽ chính vì vậy mà ông bị hiếm muộn con cái? Năm người vợ chỉ cho ông được bốn đứa con. Con trai người vợ lớn, anh Hai của ta, lớn lên làm tay sai cho thực dân, hung hăng, ác ôn không những đối với người ngoài mà còn tàn bạo ngay cả với những người ở trong dòng họ ruột thịt, bị cách mạng xử tử, thả trôi sông.

Ta là con trai dòng thứ hai, người còn lại duy nhất nối dõi dòng họ. Từ khi có má ba, bã đã truyền cho ông một vài ảnh hưởng của lòng tốt. Lần đầu tiên địa chủ C. giảm tô cho những nông dân nghèo khổ, thiếu ăn nợ lại mùa sau. Có lẽ vì vậy, mà cái lần cách mạng tìm để giết ba má ta, lòng tốt đã báo trước để ông bà lẩn trốn. Lúc đó chị em ta đang ở trong mùng. Cách mạng không giết trẻ con.

Ba ta làm chủ gia đình mà không khiến nổi ai cả, để cho những người trong nhà nổi loạn, xâu xé lẫn nhau để giành giựt của cả, họ sát phạt má con ta, loại bỏ ra khỏi ngôi nhà, mảnh đất của ông bà để lại. Ta âm thầm buồn bã bỏ nhà, một mình ra đi mang theo những suy nghĩ và hình ảnh ghê tởm đó.

Trong suốt cuộc đời ta, ta là hiện thân của sự thất bại, là hình ảnh thảm hại giữa đồng loại con người. Đó là sự trả giá cho cuộc kiếm tìm lối thoát của một con người lẫn trốn đau khổ, mang trong mình niềm hy vọng và thất vọng”.

VII

MỘT MÌNH

Như vậy là ngay những ngày đầu tiên va chạm cuộc sống, ông đã phải chịu đựng được một nỗi đau lớn mà không một ai có thể chia xẻ được.

Tôi cảm động và yêu quí nhân cách của con người ông. Tôi như thấy một sức sống mãnh liệt và cô đơn giữa những người thân thuộc trong dòng họ của ông, giữa những năm tháng xáo động của lịch sử xã hội, để chuẩn bị một biến cố lớn, một sự thay đổi toàn diện, một cuộc đổi đời quan trọng của ông và của toàn xã hội. Và sự kiếm tìm cuộc sống của ông mang ý nghĩa của thời đại, cháy lên thành một niềm tin của sự khát khao, định hướng ở phía tước, mặc dù lúc đó đối với ông chỉ mới là sự hiện diện, chưa được định hình rõ ràng mà do sự thôi thúc, bức bách muốn thoát khỏi cảnh đau lòng xâu xé ở bên trong gia đình, dòng họ đã dồn nén quá sức chịu đựng của bản thân ông.

Lúc đầu tôi định tâm sẽ ghi chép lại tâm trạng cô đơn này của ông bằng sự suy nghĩ của mình. Tôi cho đây là giai đoạn bi quan nhất về sự đau khổ, sự chịu đựng của ông. Tôi khâm phục sự vượt qua ấy, để ông trở thành một con người bình thường giữa những con người bình thường khác. Nhưng khi chạm được dòng suy nghĩ của ông, tôi nhận ra sự xúc động của tôi còn quá ít, và chưa đúng hẳn để có thể hiện lại tâm trạng lúc ấy của ông. Tôi sợ tôi sẽ làm vỡ đi một tâm trạng căng thẳng, bấn loạn mà lúc đó cho đến bây giờ đối với ông là một nỗi đau mất mát, không gì có thể bù đắp nổi. Sự mất mát ấy là sự mất mát cả cuộc đời ông, khoảng đời còn lại sau này chỉ là cái bóng ma vất vưởng, chờ đợi cái ngày cuối cùng để hủy diệt sự có mặt vô hồn của ông. Nhưng tâm trạng này nó chỉ lặn ở bên trong của một bên ngoài hân hoan, vinh dự và khí tiết. Khi dồn sức cho một sự sống còn nào đó, đau khổ không còn ý nghĩa nữa mà nó biến thành hạnh phúc lớn tự nguyện.

Và tâm hồn tổn thương của ông lên tiếng thay cho sự suy nghĩ nông cạn của tôi:

“Từ đó, giấc ngủ ta luôn luôn bị quấy phá, bị ám ảnh bởi hai hình ảnh kỳ lạ. Cứ vừa chợp mắt thì ta lại thấy một cô gái nét mặt buồn bã nhìn ta như trách móc, và nỗi buồn đó bám riết theo ta, đẩy ta đến cùng đường. Tâm hồn trong trắng của cô gái khát khao gọi mời ham muốn làm tình với câu hỏi và trả lời tự nguyện: Mình có con đi anh!

Hình ảnh cô gái biến mất. Rồi một đứa trẻ bụ bẫm dễ thương, ôm lấy cổ ta, trèo lên lưng, lên đầu ta mà cỡi, tiếng cười của nó hiện lên hình ảnh của một gia đình hạnh phúc. Diễn biến tâm trạng của ta qua cơn mơ như vậy cứ suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, nó tra tấn tâm hồn đau khổ của ta như một quan tòa kết án tử hình kẻ phạm tội. Ta chạy trốn hình ảnh ấy bằng những đêm mất ngủ.

Sống là sự dấn thân tự nguyện bằng bản năng của các loài sinh vật. Đừng bao giờ đòi hỏi cuộc sống đã cho ta một cái gì? Và ta đã cho cuộc sống một cái gì? Tâm hồn ta lang thang trong cõi lặng im, mang theo câu hỏi và câu trả lời nặng nề như thế. Ta cảm nhận sự thật bằng chính sự hoài nghi và bằng sự khẳng định khó hiểu ấy. Lúc nầy, ta cũng như người đang treo lơ lửng trên một con đường lạ lẫm, dốc cao, đầy vực thẳm ở bên dưới mà chưa biết được cái đích của nó ở phía trước. Ta tự tìm kiếm nơi đến của sự lãng quên, để mong được xoa dịu, để ẩn náu, để giam mình.

Ta tôn thờ thời gian đã tạo ra ta, đã tạo ra rất ít nhiều điều tốt đẹp, biến thành của quý hiếm để hấp dẫn tham vọng con người, để con người lợi dụng, đúc kết nên từ lừa mị, thủ đoạn, nhào nặn thành lý tưởng. Rồi ta lại căm thù thời gian vì cũng chính nó tạo ra thêm quá nhiều cái ác, đánh lừa con người bằng sức mạnh, bằng trí tuệ, bằng sự giàu sang, biến tốt xấu thành hai cực của sự đấu tranh đối lập, để giành giựt sự sinh tồn.

Cuộc sống là một con đường và ta là một con đường. Hai con đường ấy là hai lối đi song song. Ta không chỉ chiêm nghiệm cuộc sống mà ta sống với nó bằng chính bản thân ta, nhưng cuộc sống..., xét cho cùng, tất cả đều do tâm địa con người. Chính con người mà thành ra chuyện tất cả.

Cuộc sống quả thật đầy đủ và cũng thật là sòng phẳng. Cứ như thế, con người bị thuần hóa bằng sự giả dối và lãng quên. Rồi người ta dễ dàng bỏ qua những gì đã trở thành quá khứ, để lại bắt đầu cho một cuộc đời khác!”.

VIII

VÒNG TRÒN THỨ HAI

Ông đã bước qua một chặng đường bằng nỗi đau của riêng ông, để đạt được một niềm tin tưởng mới. Bắt đầu từ đó, ông trở thành một con người vững vàng được quyền đem cuộc đời mình ra để cống hiến mà không vẩn đục một sự hoài nghi nào.

- Ta yêu cái thời trước đây quá! Lúc ấy, ở đâu cũng thấy lòng tốt và sự hy sinh. Ai cũng quên cả bản thân mình, dành với nhau mà chết thay cho đồng đội!

Ông thả hồn trở về thời đại của thế hệ ông. Theo dòng suy tưởng của ông, tôi thấy hình ảnh của lòng dũng cảm mà ông và những người cùng thời đã chiến đấu suốt hai thời kỳ không ngừng nghỉ. Ông đã trả qua tất cả sự ác liệt của những trận đánh lớn nhất trong lịch sử chiến tranh tại vùng đồng bằng này. Ông lạ lùng không hiểu vì sao ông được may mắn trở về, trong khi nhiều đồng đội của mình đều vĩnh viễn ở lại. Có những điều tưởng chừng như không có thật nhưng lại là sự thật.

- Thời đại của ông là thời đại của lòng cũng cảm! Đó là trí thông minh và sức mạnh để dành thắng lợi. Còn bây giờ, ngoài lòng dũng cảm, sự giàu có sẽ quyết định tất cạ. Sự giàu có, sứ mạnh và tri thức là khẩu hiệu của tương lại.

Tôi so sánh. Ông lại thét lên như bản tính cực đoan vốn có:

- Bất kỳ một thời đại nào cũng cần phải có những con người trung thực, biết hy sinh, nhưng bộ phận ưu tú ấy gần như đã tổn thất gần hết trong chiến tranh rồi! ngày nay đang thiếu một bộ phận những con người đó!

Điều này thì tôi không bào chữa. Tôi băn khoăn... nhưng đó lại là một sự thật.

Tôi bước vào vòng tròn thứ hai - ở đây lưu giữ những sự kiện cùng thời với tôi mà tôi không hề hay biết. Tôi như một người mù. Một người đã già nua, trải mấy chục năm tìm kiếm cuộc sống, ông đã toại nguyện với sự kiếm tìm đó. Trên lưng ông mang một chiếc bòng của ngày ra đi, trở về quê hương, mang nặng một nỗi buồn khép kín. Lý do bi kịch đời ông là lúc ra khỏi tù, ông đã ký tên nhận làm mật báo cho giặc.

Ông nhớ lại, lúc ấy ông ký tên để được trả tự do, để sớm được trở về hoạt động cách mạng, ngoài ra, ông không có ý nghĩ nào khác. Và bản lý lịch của đời ông tiếp theo được ghi bằng máu, bằng lòng dũng cảm của một người cách mạng, chiến đấu hết mình với một lòng tin tưởng tuyệt đối, đã được đồng đội chứng minh, đã được tiếp nhận vào đội ngũ những người cộng sản trong thời kỳ lịch sử đen tối nhất ở miền Nam. Lần theo lịch sử đời ông, có thể xem như có hai cuộc đời khác nhau, tách biệt. Hiểu theo hướng này là theo chiều sâu tâm lý khách quan của vấn đề, để đánh giá tâm trạng con người trong một hệ thống mâu thuẫn phức tạp giữa có lý và phi lý của quá trình diễn biến tư duy con người. Cuộc đời thứ nhất: Đó là một thanh nien còn non trẻ đang đi tìm lý tưởng, có thể chưa vững vàng trong cách giải quyết những vấn đề lớn hơn bản thân cuộc đời mình. Cuộc đời thứ hai: Đó là một con người được tôi luyện trong cuộc sống của tổ chức, có lý tưởng dẫn đường.

Ông âm thầm tự đánh giá sự thật về con người ông như thế. Chính sự đánh giá đó, ông xem như đã phản bội, đầu hàng. Ông không thể sống trong sự hoài nghi, khắc nghiệt của mọi người. Ông đã tự giải tỏa sự hoài nghi đó để nhận lấy bi kịch chỉ một mình mình mà thôi.

Sự trả giá này thật là nghiệt ngã, mọi sự lầm lạc đều phải được phanh phui và phải được trả giá một cách sòng phẳng. Hãy chấp nhận sự có lý ở trong sự nghịch lý, và xem nó như một chuyện bình thường xảy ra trong cuộc sống. Chính suy nghĩ đó đã tiếp thêm cho ông sức sống. Rồi thời gian khuất lấp tất cả mọi đúng đắn lẫn sai lầm. Dòng đời cứ thong thả trôi đi, còn người lầm lạc thì tự dằn xé, tự tìm sự cảm thông trong câm lặng để mà đau đớn, để mà chuộc tội, để tự bộc lộ sự thật khép kín của mình trong cái vòng tròn im lặng của lãng quên.

Ông bộc lộ định hướng sống của mình.

- Con người ta sống mà không có một hy vọng gì thì cuộc đời coi như bỏ đi, chẳng có ý nghĩa gì cả.

Tôi tìm hiểu.

- Như vậy hy vọng của ông Năm là gì?

- Đó là sự cảm thông.

Đây là câu nói lập lại ý nghĩa trong những lời bộc bạch của ông ở phần đầu câu chuyện, đã trở thành quan điểm sống của riêng ông.

- Sự cảm thông sẽ cảm hóa con người và thế giới xích lại gần nhau hơn.

Suy nghĩ của ông mang tầm tư tưởng lớn của thời đại.

Sự im lặng tiếp tục lên tiếng. Tôi thấy hình ảnh cuối cùng trong cái vòng tròn này là hình ảnh của hạnh phúc. Đối với tôi, đây là hình ảnh hiếm hoi sẽ không có sự lặp lại lần thứ hai trong cuộc sống này: Ông già tật nguyền đang đỡ đần tất cả những gì bà già bệnh hoạn yêu cầu. Bà chỉ còn da bọc xương vì căn bệnh xơ gan cổ trướng thời kỳ cuối cùng đang giết dần giết mòn cơ thể. Hai cơ thể héo hắt ấy bỗng hiện lên một phiên bản của hai con người đầy đặn, thật đẹp như một cặp vợ chồng trẻ hạnh phúc. Tôi hiểu là tôi đã nhìn thấy được tinh anh của tâm hồn họ. Họ dựa vào nhau không phải bằng thể xác đang kiệt lực mà bằng một tâm hồn lành lặn, đầy sức sống. Chỉ có sự cảm thông của tâm hồn mới có thể gắn bó họ với nhau một cách cao đẹp như vậy.

Ông về với bà trước vài tháng, khi bà bắt đầu bị căn bệnh quái ác bắt bà phải ngồi một chỗ, không có người chăm sóc. Bà ngồi như vậy suốt gần sáu tháng nay, vì cái bụng trương  lên đau đớn, không thể nào nằm được nữa, vậy mà bà cứ giục ông?

- Anh Năm, các con về chưa?

- Tám cứ yên tâm mà chờ! Chắc ngày mai các con sẽ về tới!

Má Tám!

Tôi kêu lên. Người mẹ đã từng có một thời hạnh phúc với chồng và sáu đứa con trai. Chiến tranh đã cướp mất tất cả. Bà chỉ còn lại trơ trọi trong căn nhà vắng người trống trải, với bảy tấm bằng liệt sĩ. Ông Năm bỗng đứng dậy một cách gấp gáp, rời khỏi tư thế của một người ngồi viết mà từ lúc đầu tôi và ông bất ngờ gặp nhau.

- Điều bí mật của sự thật và lòng tin là Người Đàn bà đó! Cháu hãy đến đó mà tìm. Còn ta, bây giờ, ta đã được giải thoát.

Tôi chưa kịp hiểu hết ẩn ý trong lời ông nói, hơn nữa, lúc đó tôi đang bận tâm về tình cảnh của người mẹ chiến sĩ đang cơn hấp hối.

Nhân vật mà tôi đang theo dõi từng đường đi nước bước là ông Năm Niên, coi như đã được giải tỏa và kết thúc. Nhưng cũng chính ông đã làm phá sản câu chuyện này, vì có một người khác xuất hiện, mà theo ông, cái điều bí ẩn của sự thật và lòng tin vẫn còn ẩn giấu, vẫn còn nguyên thủy của sự bí mật mà tôi phải lần lại từ đầu. Tôi sẽ không thể sống yên ổn và thoát khỏi nỗi ám ảnh của sự vô tâm, nếu tôi bỏ dở nửa chừng câu chuyện nơi đây...

IX

MỘT THẾ GIỚI ĐÃ CHẾT

Sáng hôm sau, tôi ra bến xe để trở về tòa soạn. Tôi bàng hoàng khi nghe mọi người xôn xao về cái chết của ông Năm Niên. Người ta nói rằng ông bị trúng gió mà chết, vì hồi hôm có người thấy ông thức khuya ở giữa trời đêm mà ở trần. Có thể có một sự trùng hợp ngẫu nhiên nào đó, nhưng tôi biết rõ hơn ai hết điều này: “... ta đã được giải thoát!” Có phải ông đã dự báo trước điều này, khi tôi bị một ảo giác về vụ nổ của một vì sao trong vũ trụ? Ông không nói đó là sao rơi hay sao xẹt như dân gian coi đó là điềm gỡ của người chứng kiến, mà ông gọi là: Một cái chết trong vũ trụ. Còn tôi, tôi gọi đó là Một Thế Giới Đã Chết.

X

MÁ TÁM

Cùng một lúc, tôi nhận được ba thông tin: Thứ nhất là, viết hồi ký về một cán bộ lãnh đạo của tỉnh. Thứ hai là viết về một vụ án giết người rất dã man mà kẻ giết người là một cậu trai chưa đến tuổi vị thành niên. Thứ ba, là cái chết của một bà mẹ chiến sĩ.

Hai thông tin đầu thuộc về trách nhiệm mà tòa soạn phân công, tôi có thể chọn để viết một trong hai bài đó. Bài thứ nhất thuộc loại bài bắt buộc không thể thiếu được vì yêu cầu chính trị của báo, là bài trọng tâm, chủ đề chính của số báo đặc biệt này. Bài thứ hai không phải là trọng tâm của báo nhưng là chuyện hấp dẫn thu hút sự quan tâm, tìm hiểu của nhiều người, nó có một khả năng “câu” độc giả bằng việc tiêu thụ, và chắc chắn báo sẽ in tăng thêm số lượng, là vấn đề “sống còn” của tờ báo.

Thông tin thứ ba không thuộc trách nhiệm của tôi và của tòa soạn, mà là một dịp tình cờ qua người quen ở quê ra chơi, đã cho tôi biết: Má Tám, người mẹ chiến sĩ đang trong cơn hấp hối, sẽ chết trong vòng từ một đến hai ngày trở lại đây. Cái chết của bà là vì mấy tháng trước đây, tôi đi công tác ở đó, tôi đã ghé qua hai lần, khi ấy cơn bịnh của bà đã bộc phát nhiều rồi, và chuyển sang những cơn đau đớn dữ dội triền miên. Căn bệnh xơ gan cổ trướng đang đi vào thời kỳ cuối cùng. Có thể nói bà đang chết dần. Hình ảnh ấy cứ ám ảnh tôi mãi. Một hình ảnh buồn thương: Một bà mẹ chiến sĩ mà lại chết trong sự cô độc, chẳng có người con chiến sĩ nào ở bên cạnh.

Tôi phân vân. Tôi có thể xin phép nghỉ năm để đến ngay với bà. tôi chưa có ý định sẽ viết một cái gì về bà, tôi chỉ muốn khuây khỏa sự xúc động tự nhiên đeo đẳng trong lòng tôi về tình ảnh của bà mà thôi. Về hai bài trên, đồng nghiệp của tôi có khối người xung phong để chờ nhận sự phân công.

Tôi đem chuyện kể cho vợ nghe về dự định của mình. Cô ta cho tôi một bài học ở đời và ra lệnh:

- Thôi đi anh. Anh đừng có dại dột. Anh phải nhận viết một trong hai bài đó. Đây là cơ hội của anh!

Tôi nổi nóng:

- Nhưng anh muốn biểu hiện nội tâm thật của chính mình, không thích giả trá, anh thích viết cái gì mà sự xúc động của nội tâm anh thôi thúc. Em đừng có xen vào chuyện của anh!

Biết mình hơi quá lời, vợ tôi nhẹ nhàng:

- Anh hãy nhìn lại thực tế bản thân mình một chút. Anh hãy nghe em nè: Anh lấy tư liệu viết xong bài cho báo, chịu khó thức đêm, thêm bớt cho thật rùng rợn, kéo dài thêm vài trăm trang, mang bản thảo ném cho các nhà xuất bản, chắc chắn là cầm trong tay hàng cây vàng. Em chắc là anh cũng biết nhưng sao anh lại tránh né?

Tôi băn khoăn. Thật sự hiện nay viết truyện vụ án dễ kiếm tiền hơn. Nhiều báo bị cấm nhưng vẫn có thể luồn lách được giấy phép, khoác nhiều chiếc áo khác nhau, đua chen khai thác chuyên tình tiền, tự tử, đâm chém, hãm hiếp. Họ cố ý khai thác cho thật lâm ly, cho thật rùng rợn để câu khách kiếm tiền. Tôi không phản đối viết chuyện vụ án, vì đó là vấn đề đạo đức, vấn đề đi tìm chất người trong mỗi con người. “Tội ác và trừng phạt”, “Anh em nhà Karamazốp” của Dostoiepsky, “Đỏ và đen” của Stendhal là những bộ tiểu thuyết lớn nhất của mọi thời đại, không phải bắt đầu bằng những vụ án giết người đó sao? Tôi không có ý định so sánh sự vĩ đại của hai con người đó mà tôi muốn đề cập về trách nhiệm của con người đối với con người.

Đúng như lời của vợ nhắc nhở, nhìn lại cuộc sống gia đình, tôi thấy cô có lý. Trong cuộc sống gia đình, tôi là một người rất vụng về, tất cả một tay vợ tôi quán xuyến.

Cô lại giải thích cho tôi nghe cái lợi của bài thứ nhất:

- Thời đại bây giờ có ông lớn nào mà không thích người ta tâng bốc mình? Cứ viết thật tốt là con người liêm khiết, chí công vô tư. Khi các ông đứng trên đỉnh của lời khen ngợi rồi mặc tình mà nhờ cậy. Chỉ có lợi cho anh thôi, có thiệt thòi gì mà sợ?

- Có thiệt chứ sao không? Tôi cãi.

- Thiệt cái gì?

- Anh chẳng còn cái tính trung thực của mình nữa!

- Tính trung thực thì được cái quái gì? Ở đời chỉ có tiền là trên hết. Nghèo quá bị mất uy tín!

Tôi không đồng ý với quan điểm của vợ tôi, nhưng tôi chán ngấy cái kiểu đấu lý của cô ta. Tôi nghĩ không dễ dàng như cô đã nghĩ. Mỗi người có một tạng riêng, nếu không tha thiết đến thì khó làm việc gì cho ra hồn, dù là giả dối. Nhưng thôi, để còn mấy ngày phép cho cô.

Tôi nhờ sự phân công của tòa soạn. Và tôi chọn viết bài thứ nhất.

Tôi biết hẹn lãnh đạo lớn rất khó. Đầu tiên, tôi điện thoại qua thư ký của ông. Tôi được trả lời: ba ngày sau sẽ cho biết ý kiến. Ba ngày sau, tôi đến trực tiếp gặp anh thư ký thì được yêu cầu phải làm một đề cương chi tiết, để ông xem và chuẩn bị những vấn đề nào cho buổi làm việc được gọn và nhanh. Một tuần sau, đề cương của tôi được chấp thuận, nhưng ba lần nữa qua tay thư ký của ông tôi vẫn chưa làm được việc gì, lý do lãnh đạo quá bận.

Tôi vội trổ nghề nhà báo của mình bằng cách đường đột ngột ngoài giờ làm việc, vào ngay phòng của ông mà không hẹn trước. Sau khi biết tôi, ông vui vẻ hẹn buổi tối chủ nhật. Như vậy là ông quá bận nên mới làm việc ngoài giờ, buổi tối chủ nhật. Tôi cảm thấy bất ngờ và yên tâm hơn khi gặp được ông.

Ông có dáng dấp của một tướng lĩnh, khỏe mạnh, hồng hào, hoạt bát và cởi mở. Tôi vừa bước tới, ông đã lên tiếng:

- Ngay chỗ nhà báo đang đứng đó, ngày tiếp quản, trong lúc đầu hàng, tên tỉnh trưởng đã đánh rơi chức vụ, bỏ lại ba cái bông mai trắng nằm lăn lóc ở đó.

Ông có trí nhớ nắm bắt chi tiết của một nhà văn. Tôi vào hẳn trong phòng, ngồi xuống ghế, ông tiếp:

- Phòng này, trước kia là của cô vợ bé tay tỉnh trưởng. Y sợ ở ngoài thời buổi giặc giã dễ bị ám sát và vợ lớn đánh ghen, mất mặt. Vợ bé của y là vợ của một liệt sĩ bên ta, không biết y o ép thế nào, riết rồi cô này lại chịu lấy y. Khi cô lấy y xong rồi, bên mình sợ mất người nên tổ chức gặp người vợ liệt sĩ thường xuyên. Cô này trở thành nội tuyến quan trọng để báo cho ta nhiều tin tình báo chính xác về ý đồ càn quét của địch. Y biết nhưng vì quá yêu thương cô nên lờ đi, ngày tiếp quản, y không chạy trốn mà ở lại bàn giao chính quyền trọn vẹn, không ngoan cố giấu giếm.

Tôi thầm phục người vợ liệt sĩ đã bị người khác o ép nhưng rồi lại biến kẻ o ép mình trở thành con cừu non ngoan ngoãn.

Ông bắt đầu ngay vào vấn đề qua những mẩu chuyện tưởng đâu bên lề nhưng rất sinh động như vậy.

- Đúng ra, hồi ký về một chiến dịch lịch sử lớn lao này là cả một quá trình chuẩn bị mấy chục năm. Những người làm nên chiến dịch không thể nào kể hết. Riêng tôi, lúc ấy được giao nhiệm vụ lãnh đạo chiến dịch cướp chính quyền của một tỉnh. Tất cả tư liệu là ở đây, tôi có thể dựa vào nó để nhớ lại và kể chỉ trong vòng hai giờ ngắn ngủi. Các sự kiện đó đã trở thành tư liệu lịch sử, đã được khẳng định, chỉ cần giở ra xem lại thì sẽ biết tất cả, nhưng sẽ kém đi hình ảnh thật và sinh động của bản thân nó, bởi vì nó đã đi qua trí nhớ của một người.

Tôi nhìn quyển sổ nhật ký của ông, thầm khen ông là một người cẩn thận. Đó là trí nhớ của ông, trí nhớ của lịch sử. Từ trong quyển sổ đó, qua tiếng nói của ông, tôi thấy hiện lên những đoàn quân hùng tráng, cùng chung một lý tưởng, mang chân lý của thời đại xộc vào tận sào huyệt của kẻ thù, dựng lên một ngọn cờ chiến thắng.

Như đã dự đoán, ông thể hiện lại một cách mạch lạc và đầy đủ, không đầy hai tiếng đồng hồ. Nhiệm vụ của tôi coi như đã hoàn thành hơn chín mươi phần trăm. Tất cả đều nằm trong băng ghi âm và sổ ghi chép nghề nghiệp của tôi. Tôi yên tâm về trách nhiệm của mình đối với tòa soạn.

Qua tiếp xúc với ông, tôi bật lên một hướng mới, tôi muốn phát triển thêm bài viết này một phần nữa, đó là những con người mà ông gọi là: “... những người làm nên chiến dịch không kể hết” ấy. Tôi mạo muội đề xuất ý kiến với ông, ông nói:

- Nhưng bây giờ thì không thể được. Để tôi còn khơi lại trong tiềm thức của mình nữa chớ. Tối ngày mai. Được không? Tại nhà riêng của tôi!

Tôi thực sự yêu mến vì tính tình cởi mở và dễ dãi khi có công việc cần thiết của ông.

Ngôi nhà sang trọng được bao bọc bởi một hàng rào kiên cố, vẻ uy nghi, ném ra sức thu hút làm cho mọi người phải mơ ước. Sự bố trí, bày biện đồ đạc trong nhà đầy đủ đạt đến đỉnh cao của nguyện vọng và mơ ước tuyệt đối. Ở đó là thế giới của sự giàu sang, của một thiên đường thu nhỏ. Chiếc cổng sắt nặng nề hé mở sẵn có lẽ để đón tôi.

Từ ngoài nhìn vào qua lớp cửa kiếng, tôi thấy ông đi đi lại lại trong phòng khách, vẻ suy tư. Tôi không dám đột ngột cắt đứt dòng suy nghĩ của ông. Rồi ông đi nhanh hơn về bộ ghế salon, lấy bàn tay phải vỗ vỗ lên trán của mình. Cử chỉ ấy cho tôi biết là ông đã nhớ lại một kỷ niệm nào đó rất sâu sắc của đời mình.

- Ôi thật là tội nghiệp cho trí nhớ của tôi. Nếu tôi không còn nhớ lại những chuyện này thì đó là một tội lỗi, ngang hàng với sự phản bội, xấu xa. Trí nhớ của con người có hai phần: ý thức và tiềm thức. Khi ta chú ý, quan tâm nhiều về một vấn đề nào đó thì nó sẽ ưu tiên nằm trong trí nhớ, để ta khắc sâu, tìm cách mà đối phó, đó là ý thức. Khi ta vô tâm trước một việc gì, thường nó bị rơi vào quên lãng, lúc đó trí nhớ lặng im nơi tiềm thức. Khi có ai đánh động và khơi lại thì nó sẽ bùng lên và sống lại một cách mãnh liệt trong trí nhớ của ta. Chính cháu là người đã khơi dậy tiềm thức của tôi.

- Như vậy là bác Hai và cháu đã có một chỗ để gặp nhau.

Tự nhiên tôi và ông chuyển sang cách xưng hô thân mật, không còn khách sáo nữa. Tôi thấy ông vui hơn khi được sống lại quãng đời đầy kỷ niệm của mình.

- Có bao giờ cháu quên nghĩ về mẹ không?

- Mẹ ở một nơi thiêng liêng nhất trong ta, mọi suy nghĩ và hành động của ta đều xuất phát từ mẹ. Mẹ luôn luôn thường trực trong ý nghĩ, có những lúc ta hành động vì việc gì đó lớn hơn bản thân ta, ta tưởng đâu rằng không có mẹ, nhưng không có mẹ không thể vượt qua được cái gì lớn hơn của bản thân mình.

Lần đầu tiên, từ lúc gặp gỡ, tôi thấy ông thoáng buồn.

- Vậy mà có lúc bác lại quên!

- Từng tuổi này mà bác vẫn còn mẹ ở bên mình, thật là một diễm phúc lớn, còn gì sung sướng hơn?

Tôi chúc mừng ông.

- Không, bác muốn nói đến một người mẹ khác.

- Mẹ chiến sĩ?

Ông im lặng trong sự đồng tình, và tiềm thức mang những câu chuyện về người mẹ đi qua trí nhớ của ông.

Trong kháng chiến gian khổ, ít có ai mà không có một lần ở trong ngôi nhà của má Tám và ăn những bữa cơm do bàn tay của má nấu nướng. Những lúc lực của ta mạnh, nhà má là trụ sở làm việc và hậu cần của cách mạng. Cơm nước một tay má lo, bệnh họa một tay má nuôi. Má không những nuôi những người trực tiếp đánh giặc mà còn nuôi cả vợ con của họ. Vợ của ông hai lần sanh con đều ở tại nhà của má. Có má, những người vợ yên tâm lo cho mẹ tròn con vuông. Không có thức ăn, má lò dò xách cần câu kiếm từng con cá đem về kho cho vợ của ông trong những ngày yếu ớt để nuôi con. Những người vợ của các cán bộ khác sanh con, má cũng lo chu toàn như vậy. Mà là tai, là mắt, là tấm bia che chở cho các con khi có hiểm nguy.

Đêm khuya, sự im lặng trong một không gian thu hẹp, càng làm tăng thêm sự thiêng liêng của câu chuyện. Cánh cửa của quá khứ mở ra, tôi thấy lại tất cả những người chết hiện về, mỗi người góp vào một câu chuyện về cuộc đời mình, trở thành lịch sử của cuộc đời riêng của má Tám.

Má Tám kể lại hạnh phúc và những đám tang liên tiếp của gia đình:

- Đây là chồng và sáu đứa con trai của má trong những năm 1968.

Thay lời má, những người chết nói về sự ra đi của mình.

- Một hôm, giặc tràn vào căn cứ. Tụi nó phát hiện được hầm bí mật của ba, chúng xúm nhau lại khui hầm. Chúng kêu đầu hàng nhưng ba có một trái lưu đạn và một khẩu súng ngắn. Ba tính cách lừa chúng để thoát thân. Ba im lặng dụ cho chúng tới gần miệng hầm, thình lình, ba tốc nóc hầm, tung lựu đạn và cầm khẩu súng ngắn phóng lên mặt đất. Lựu đạn nổ, nhiều tên chết và bị thương, chúng tán loạn, rồi hoàn hồn trở lại truy đuổi theo ba. Bọn chúng không thấy ba chém vè dưới đìa mà chỉ nghi, rồi lựu đạn ném xuống, súng xả xuống. Cơn đau rất ngắn ngủi, ba cảm thấy toàn thân như rạn nứt, đầu óc hoa lên, thần kinh như đứt vụn ra, trạng thái nhẹ nhàng bay bổng, ba thấy ba trở về với vợ con.

Người con lớn thứ nhất tiếp lời ba:

- Tôi thứ hai, nhưng lại là người cuối cùng ra đi sau các em tôi. Tôi hoạt động trong vùng địch kiểm soát. Một đêm, có một đồng đội bỗng nhiên biến mất, do mất cảnh giác và do thời gian quá gấp, tôi di chuyển chỗ ở mới không kịp. Thằng Bé dẫn theo trung đội dân vệ, khui hầm bí mật được đào ở giữa một cây rơm, nơi mà nó cùng tôi đâu lưng nhau chia sẻ gian khổ. Chúng bắn vào cây rơm, kêu đúng tên tôi ra đầu hàng, nhưng chúng được trả lời bằng những loạt đạn. Chúng biết không khuất phục được tôi nên châm lửa đốt cây rơm.

Những anh còn lại kể về cái chết ít đau đớn hơn của mình: Anh Ba đi về thăm má bị một trái pháo nổ dọc đường, trúng miểng. Anh Tư làm hộ lý, đang băng bó cho thương binh bị máy bay bắn. Anh Năm, anh Sáu, anh Bảy ở cùng đơn vị, đi đánh vào phi trường, cả ba người cùng nằm lại và mất xác.

Trong chiến tranh, chuyện hy sinh là bình thường, nhưng ít có người mẹ nào lại chịu nỗi đau quá lớn, liên tục và dồn dập đến như vậy. Chưa hết, sự ác liệt của chiến tranh liên tục dội vào má. Những năm bình định của giặc, nhà má là nơi tập trung bom đạn. Năm lần bị cháy, năm lần được dựng lên, ngôi nhà như một cây gai trước mắt kẻ thù. Chủ nhà cũng chung số phận, bị bắt, bị tra tấn, những cơ quan và hầm bí mật không bao giờ bị lộ. Người chết cũng chẳng được yên thân, ba lần má gom gáp lại thịt xương của chồng để chôn lại vì B52 cày trúng.

Cả tôi và ông đều không chịu nổi sự hồi tưởng đầy bi kịch của gia đình má Tám. Cắt ngang sự hồi tưởng ấy là một sự lặng im kéo dài. Tôi lên tiếng hỏi:

- Như vậy đã có một thời bác là con của má Tám?

Ông tái mặt vì những lời nói vô tình của tôi. Tôi hiểu lời nói của tôi thật là tàn nhẫn nhưng đúng lúc và đúng chỗ.

- Không - phải - một - thời - mà - là - mãi - mãi.

Lời ông ngập ngừng khẳng định, mang tâm trạng của một người con đang sám hối. Tôi tiếp tục tấn công vào nơi lòng tốt của ông đang được khơi dậy.

- Nhưng bác biết hiện nay mẹ của bác sống ra sao không?

- Sáu tháng trước má có ra thăm tôi. Tôi thấy má già yếu và ốm hơn trước.

Ông trả lời tôi bằng cử chỉ lúng túng của một trẻ thơ.

- Đúng rồi! Ông nhớ rất chính xác - tôi đổi cách xưng hô - sau khi đi thăm ông, về đến nhà, má Tám nằm liệt giường, rồi ngồi suốt mấy tháng nay vì cái bụng trương lên đau đớn, không thể nằm được nữa. Má nói rằng, trong tất cả các con, má trông chờ ông nhiều hơn cả, vì ông hiền lành và biết thương người. Và tôi thấy gương mặt đang chết dần của má Tám gắng gượng vượt lên trên cái chết, dồn lên đôi mắt, lấp lánh ánh sáng của sức sống đang tắt dần, để cố theo dõi ông. Đến giờ sắp chết má vẫn tin rằng ông và các bạn ông vì bận bịu công việc, không có thì giờ rảnh để về thăm má, lúc má sắp chết, dù chỉ một lần cuối cùng!

Bây giờ ông chỉ còn đủ sức để nghe mà không thốt nổi lấy một lời. Tôi phán một câu cuối cùng vào tâm hồn của đứa con đang chết lịm đi vì xúc động:

- Và đôi mắt ấy đã khép lại vĩnh viễn rồi! đúng nửa tháng nay! Chắc chắn là mang theo hình ảnh của ông!

Tôi biết từ bây giờ trở đi sẽ có một nỗi đau lớn ám ảnh, đeo đẳng suốt cuộc đời ông. Tôi chua chát nhìn ông đang tự trừng phạt mình. Tôi đi ra khỏi ngôi nhà của ông mà không ngoái lại, trong lòng xáo động bởi một nỗi buồn thương kỳ lạ.

Trở về nhà, trong một tâm trạng thổn thức, dồn dập như vừa trải qua một cuộc chạy đua, tôi lao vào bàn làm việc, viết một mạch trọn vẹn buổi gặp gỡ với ông. Tôi yên tâm về bài viết của mình.

Khi báo in xong, tôi ngạc nhiên khi thấy bài báo chỉ còn lại phần đầu. Tôi được biết lý do là phần sau không cần thiết, nếu đem phổ biến có thể gieo tư tưởng bi quan, bế tắc. Viết như vậy để làm gì? Cho ai đọc? Nên viết những vấn đề mà người ta đang phấn khởi và quan tâm.

Tôi tự hỏi: Như vậy người ta quan tâm điều gì?

XI

MA VÀ NGƯỜI

Do cá tính bẩm sinh hay do hoàn cảnh sống của mình đã tạo nên trạng thái cô đơn triền miên trong tôi? Tôi không hiểu. Tôi muốn chạy trốn. Rồi tôi lại bám lấy nó. Tôi thả mình theo dòng sông cô đơn lạnh giá, không có bến bờ dừng lại.

Con người mâu thuẫn phức tạp là vậy, có lúc muốn chối bỏ một cái gì đó không phải của bản thân mình, nhưng đã trở thành một phần của bản thân mình thì lại nhu nhược, trù trừ trong sự dứt khoát, để lại kéo dài bi kịch do chính mình tạo ra. Tôi nghe sự phản ứng từ bên ngoài và bên trong tôi: Một con người tự sát, một kẻ đã tự biến mất khỏi sự tồn tại của mình với thế giới cuộc sống. Tôi chấp nhận! Nhưng tôi không cho hẳn điều đó là hoàn toàn đúng. Bản chất của con người là cô đơn! Chính vì vậy, mà con người đi tìm kiếm mối quan hệ, tìm kiếm sự chia sẻ, niềm cảm thông, để xoa dịu bớt nỗi cô đơn vốn có của mình. Mối quan hệ, sự chia sẻ, niềm cảm thông thuộc về lý trí, thuộc về hiện tượng ở bên ngoài, không vững chắc bởi những mâu thuẫn khó hiểu ở bên trong con người, nó biểu hiện bằng sự xung đột của đỗ vỡ và hối hận, lỗi lầm và tự nguyện.

Trong cuộc sống đơn độc, tôi nhìn thấy nội tâm của chính mình, của người khác và nhìn rõ bản chất thật của cuộc sống xung quanh tôi. Kiểm chứng này, tôi đã đúc kết từ những công trình, những tác phẩm sáng tạo của các vĩ nhân qua các thời đại, mà nguồn gốc của nó là sự đơn độc và khắc khổ của tư duy trong tâm hồn, nỗi đau của cá nhân, của nhân loại luôn âm ỉ chảy trong suốt cuộc đời trăn trở, đau đời của họ.

Tôi so sánh, tôi mặc cảm, tôi cực đoan, tôi lẫn trốn, tôi tuyệt vọng, tôi muốn vươn tới sự vô biên, tôi không thiết đến những gì mà sự đúng đắn đương thời khẳng định và áp đặt. Tôi chờ đợi một cái gì mà mình chưa gặp, chưa thấy, chưa biết bao giờ. Tôi lang thang trong đêm. Tôi lang thang giữa ban ngày, giữa sự thức giấc, bừng dậy của muôn loài, giữa những cái chết liên tục của những đoạn đời cô độc của chính tôi, và phía sau những cái chết đó là một niềm tin vô tư.

Không phải là một buổi tối mà nhiều buổi tối và cả ban ngày, một mình tôi lang thang qua các ngả đường của thị xã không mục đích với những ý nghĩ nặng nề đó của chính tôi. Những con đường ngắn ngủi nối liền nhau như một vòng tròn chật chội khép kín, lẩn quẩn chẳng đưa con người đi đến đâu. Tôi đã trôi theo cái vòng tròn ấy bằng một bản năng, bằng quán tính của lối sống nhạt nhẽo, vô vị theo một lối mòn đã chết, không một định hướng. Tôi nghĩ, chẳng lẽ con người ta chỉ sống bằng nỗi lo âu trong sự bế tắc của hiện tại và tìm lối thoát cho sự bế tắc bằng giấc mơ hạnh phúc ở tương lai?

Khi quan tâm nhiều, suy nghĩ nhiều hay bị xúc động mạnh, tôi thường rơi vào tâm trạng như thế. Tôi thấy cuộc sống thật là vô nghĩa, không còn tồn tại nữa. Tôi thấy thần tiên bay lượn, ma quỷ hiện hình giữa ban ngày và trong những giấc ngủ chập chờn ngắn ngủi, lẫn lộn mang theo nhiều hình thù đẹp đẽ, kỳ quái với những bộ mặt quen thuộc, lạ lẫm, đạo đức, vô tư, gay gắt, buồn phiền, sám hối, hung dữ. Mỗi gương mặt là một cuộc đời riêng đầy bí ẩn vây quanh lấy tôi. Tôi nhận ra những gương mặt đó là một con người có thật mà tôi đã từng gặp, từng cảm thông, có người đã chết, có người còn sống, có người tôi chỉ nghe qua lời kể mà chưa từng gặp mặt lần nào nhưng đã lưu lại ấn tượng sâu đậm trong tôi. Và tôi nhận ra thêm những gương mặt mà tôi từng phê phán, chẳng thích thú gì khi được gần gũi, hay nói đúng hơn là tôi cảm thấy căm ghét. Thật là kỳ lạ, bỗng nhiên các gương mặt ấy hòa hợp nhau, trở thành một gương mặt khổng lồ, tôi bỗng lạ lùng nhận ra đó là gương mặt của chính tôi đang bị biến dạng. Một gương mặt được xây dựng từ nhiều gương mặt khác nhau mang các đức tính bẩm sinh của cái tốt lẫn cái xấu, từ nhiều cuộc đời thật, in dấu vết cụ thể của nhiều thế hệ, nhiều giai đoạn biến động của lịch sử đã qua và hiện tại. Rồi gương mặt đó bị xóa nhòa đi, khi ẩn, khi hiện một cách ma quái, từ nơi đó, tôi nghe phát ra từ một giọng nói âm âm như từ một vực thẳm vọng lên:

- Ngài lạ lùng và ngạc nhiên lắm, phải không? Tôi chính là bản chất thật của cuộc sống con người. Hãy đi theo tôi, tôi sẽ trao cho điều bí mật của sự thật và lòng tin!

Tôi giật mình nhận ra tác giả của câu nói ấy.

- Ông Năm! Nhưng mà ông đã chết rồi mà?

- Không, tôi không phải là con người thật mà ngài lầm tưởng. Tôi là thế giới nội tâm của con người, là ý nghĩ, là trí nhớ của ngài. Chính ngài đã sinh tôi ra trong suy nghĩ và hành động của ngài. Tôi là chiếc chìa khóa của cuộc sống, tôi sẽ giúp ngài hiểu được bản chất của nó mà ngài đang kiếm tìm.

Tôi đang còn trong tâm trạng thảng thốt thì cảm giác mới, hình như là trạng thái không trọng lượng thì phải? Tiếp theo là sức ném thật mạnh, tôi thấy mình ở ngay trong một ngôi nhà lạ, cực kỳ sang trọng mà trong cuộc sống và trong trí tưởng tượng, tôi cũng chưa bao giờ nghĩ tới. Ngôi nhà như một cung điện cổ xưa, được kiến trúc bởi một bàn tay sáng tạo thần kỳ, tạo nên từ một hạt kim cương khổng lồ, kích thước bằng một quả núi lớn.

Tôi còn bàng hoàng về sự sang trọng đó thì ở giữa ngôi nhà hiện lên dòng chữ thật lớn, chói lọi: Tòa án lương tâm! Tôi nghe giọng nói ban nãy cất lên:

- Xin mời ngài vào ghế chủ tọa.

Giọng nói mang một mệnh lệnh tuyệt đối, lập tức người được chỉ định ở ngay trong vị trí của mình mà không có thời gian để tự tìm đến nơi, hoặc trừ trừ, do dự.

Tôi hoàn toàn chưa biết chuyện gì nữa sẽ tiếp tục xảy ra thì bốn chiếc ghế khác ở vị trí bị can xuất hiện: chiếc ghế thứ nhất mang tên Vô Tư, chiếc ghế thứ hai mang tên Sự Thật, chiếc ghế thứ ba mang tên Vô Tâm và chiếc ghế thứ tư mang tên Lãng Quên. Xung quanh bốn chiếc ghế được bao bọc bởi một hàng chữ khác: Nơi Ngự Trị Của Sự Vĩnh Cửu! Dòng chữ tạo thành một hàng rào thiêng liêng của danh dự và phi danh dự.

Tôi nghe vẫn giọng nói đầy mệnh lệnh đó cất lên, kêu đúng tên những người mà tôi đã từng quan tâm về họ. Tôi thấy má Tám ngồi trong chiếc ghế Vô Tư. Má vẫn gầy yếu nhưng nét mặt tươi vui, thanh thản, nhẹ nhàng như một bà tiên. Ông Năm Niên ngồi trong chiếc ghế Sự Thật, vẫn trần trụi trong chiếc quần lỡ vắn lỡ dài, nhưng linh hoạt, không có vẻ lú lẩn, điên khùng và khổ sở. Ba tôi ngồi trong chiếc ghế Vô Tâm, vẫn bình thản như không có gì lo lắng, vẫn nét mặt hơi lạnh lùng yếu đuối, nhưng trông ông không được vui. Bác Hai ngồi trong chiếc ghế Lãng Quên, vẫn dáng vẻ bệ vệ, rực rỡ của một người đầy quyền lực, ông đang khóc và sám hối.

Đột nhiên, những hình ảnh đang sống động đó và những âm thanh đầy quyền lực kia biến mất, chỉ còn lại là sự im lặng tuyệt đối. Bốn người ngồi trên bốn chiếc ghế hóa thành những bức tượng sống động. Mỗi người tự bộc lộ rõ bản chất thật của mình bằng chính cuộc sống mà họ đã trải qua. Và chính những bức tượng đó là biểu tượng mang những tên gọi vĩnh cửu, trở thành những mảng đời riêng của cuộc sống con người, không thể nào giấu giếm.

Bây giờ chỉ còn lại là ý nghĩ của tôi. Và tôi nghĩ không cần thiết phải có một phiên tòa kết án bằng lời nói. Không có cuộc phán xử nào nghiêm khắc hơn cuộc phán xử im lặng. Ý nghĩ của tôi kết luận. Tôi ném ý nghĩ của mình vào cuộc sống, để mong dứt bỏ mọi nỗi buồn và điều bất hạnh, nhưng tôi chẳng bao giờ làm được việc đó. Tôi biết có thể đây là câu chuyện nặng nề và rối rắm, nhưng lời nói, câu văn có thể sửa chữa được, còn cảm xúc thì không thể nào lặp lại và lại càng không thể sửa chữa. Tôi không phải là người tự nghĩ ra câu chuyện này mà do tự thân nỗi buồn và điều bất hạnh bắt ý nghĩ của tôi tách ra khỏi lý trí, tìm đến sự thật của con người, và ý nghĩ của tôi đã tiếp cạan được điều bí ẩn đó là gì? Đó là sự im lặng của con người đồng tình với sự im lặng của thời gian! Và sự im lặng bao giờ cũng thật hơn ở những lời nói. Những cái chết im lặng của con người tiếp tục ra đi. Cuộc sống vẫn ồn ào, tất bật hướng về phía trước. Nỗi buồn, điều bất hạnh vẫn ám ảnh trong ý nghĩ của tôi, mang theo hình ảnh thật của con người. Còn lại là sự giả dối, cũng ám ảnh tôi, nhưng nó mang nỗi sợ hãi, vô tình, lãng quên để tàn phá tâm hồn con người, qua hình ảnh ghê rợn của những bóng ma.

                                                     SaĐec, tháng 9 năm 1991

                                                                         NHH

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
     
  Nguyễn Huỳnh Hiếu ( HVHNT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • TRANG THƠ VNĐT (16/11/2018)




  • SỐNG VỚI ĐAM MÊ (16/11/2018)









  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)





  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |