Chủ Nhật, ngày 23 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Truyện vừa
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  08/04/2011  
  Tình người (phần III)  
 

Căn trại của Hậu cũng giống như nhiều căn trại khác của bà con bám đất. Đó là hai mái lá, đầu nầy đòn dông là cửa vô ra, đầu kia trùm lên miệng công sự đấp nổi kiểu chữ A, để tiện việc chun vô công sự khi có bom đạn, đồng thời che miệng công sự khô ráo, khi mưa không bị ướt. Trại cất thấp, người đi vô đi ra phải cúi lưng xuống. Chừa đường đi vô ra ở giữa, hai bên mái trại kê trệt trên mặt đất hai tấm vạt tre; một bên Hậu và thằng Tài ngủ, một bên dành cho Liên và Mai.

Chuyện đau lòng xảy ra ở căn trại nầy vào đêm mười hai tháng tư âm lịch.

 
 
 

Cũng giống như mọi tối, sau khi giăng và tấn mùng, rọi đèn bắt muỗi ở hai mùng xong, Hậu máng cái đèn hột vịt lên cây cột vừa tầm tay, vặn nhỏ ngọn cho ánh sáng chỉ lờ mờ, rồi hai chị em nằm ở hai mùng bàn chuyện với nhau một hồi mới ngủ.

Đêm nay trăng chưa tròn nhưng sáng. Ánh trăng trong xanh phả xuống xóm làng một màu hiền dịu. Ánh trăng xuyên qua cành cây kẻ lá hắt vào căn trại làm nó bớt âm u. Nằm trong mùng, Hậu vẫn cảm nhận được ánh sáng trong lành ấy. Hậu nhớ thời con gái những đêm trăng như thế nầy không sao ngủ sớm  được . Hậu cùng các bạn gái cùng trang lứa tụ lại trước sân nhà ông Chín, bày ra đủ thứ trò chơi, cười giỡn hả hê. Bây giờ trong hoàn cảnh chiến tranh, tội nghiệp bọn trẻ chẳng được giỡn chơi như thuở đó.

Ánh trăng đẹp khiến người ta khó ngủ và suy nghĩ những ước mơ đẹp. Nằm nghiêng vừa quạt nhẹ cho Tài ngủ, Hậu nói vọng qua với Liên :

- Chị tính vài ba ngày nữa, bữa nào êm, mình ăn cơm chiều sớm, chị chở em với con Mai vô thăm ông bà nội nó . Chắc hổm rày ông bà nội trông nó dữ lắm.

Trong lòng Liên rộn lên niềm vui chen lẫn nỗi buồn. Vui vì từ hôm sanh con Mai cho tới nay được hơn hai tháng, đủ sữa bú nên con bé hồng hào, bắt đầu sổ sữa, ngủ nhiều, ít khóc và chẳng có bịnh hoạn gì. Riêng Liên, nhờ ăn uống đầy đủ, thoải mái nên có da thịt hơn. Việc đó rõ ràng là nhờ sự nuôi dưỡng, đùm bọc của Hậu . Hậu thương mẹ con Liên, không nề hà cực khổ, gánh vác mọi việc lớn nhỏ cho Liên được yên dạ, rảnh rỗi lo săn sóc con. Buồn là đứa bé không còn cha. Tội nghiệp, chưa ra đời nó đã mất cha. Chiến tranh gây ly tán, buộc ông bà nội nó cũng không được gần gũi hàng ngày, chơi với cháu . Nhớ bà ngoại  con Mai trước kia bắt Tấn phải cưới Liên rồi mới đi bộ đội, còn có ý muốn sớm có được cháu ngoại, được nhìn thấy mặt cháu rồi chết cũng yên lòng. Nhưng cơn bịnh già quái ác đã không để bà được sống tới nay để biết mặt cháu và Liên chẳng phải như nhánh cây lìa cội, trôi giạt như vầy. Nên khi nghe Hậu nói sẽ đưa mẹ con Liên vô thăm ông bà nội, Liên vui mừng lắm. Liên hình dung ông bà nội được bồng đứa cháu nội bụ bẫm trên tay, chắc ông bà vui dữ lắm. Mấy tháng nay, Mỹ ngụy phản kích mạnh, đánh lấn ra các vùng ven và vùng giải phóng, ngày nào bom pháo cũng giội xuống ì ầm đó đây. Con rạch nơi Hậu ở cũng trong tầm đánh phá của chúng. Dù vậy, bà con nơi đây vẫn kiên cường bám đất sản xuất và chiến đấu, coi công sự chắc hơn nhà tốt, quyết một tấc không đi, một ly không rời mảnh đất quê hương mình .

 Đêm càng sâu, càng thanh vắng. Hậu, Liên cũng như mọi người đều yên giấc. Bỗng từ hướng chi khu Kiến Văn  có tiếng pháo bắn đung, đung ...Cả Hậu và Liên theo phản xạ tự nhiên thức giấc, chưa kịp có phản ứng gì thì tiếng xè...ụp tới, một tiếng nổ nhức óc. Trái đạn pháo nổ cách trại của  Hậu không tới mười thước. Đất bị xới tung lên, cây cối bị miểng pháo  chém nát lìa văng rào rào vô căn trại. Chiếc đèn hột vịt bị hơi gió giựt mạnh, tắt phụt. Hai đứa bé giựt mình khóc ré lên. Liên chồm dậy kêu :

- Chị Hậu ơi !

Không có tiếng Hậu trả lời. Chỉ có tiếng của thằng Tài khóc. Trong mùi khét lẹt đến lợm giọng của thuốc đạn và khói bụi, Liên quờ quạng tìm hột quẹt, vén mùng ra, bật hột quẹt đốt lại ngọn đèn. Một cảnh tượng khủng khiếp hiện ra. Mùng Hậu bị sụp một đầu, chụp lên thằng Tài đang quơ tay tìm lối ra như con cá đang mắc chài. Hậu nằm nghiêng, co hai chân, bất động. Biết chuyện chẳng lành, Liên guộn đầu mùng xô qua  một bên. Trời ơi, trán phía phải của Hậu bị một miểng pháo xuyên vào, máu đỏ chảy tràn ra. Hậu chết tức khắc, không kịp có một phản ứng nào ! Liên quỵ hẳn xuống. Đột ngột quá ! Khủng khiếp quá ! Làm sao đây ? Sau một hồi chết điếng, lặng đi, Liên bật khóc và la lớn lên :

- Bớ bà con ơi ! Chị Hậu bị pháo bắn chết rồi ! Bà con ơi ! ...

Nghe tiếng pháo nổ hướng trại Hậu và lắng tai nghe, chú Ba ở trại mình cách đó non trăm thước, nghe văng vẳng tiếng la khóc hãi hùng của Liên, chú rời miệng công sự, cầm cây đèn pin vừa rọi, vừa chạy lúp xúp về hướng đó. Có tiếng chân ai chạy đùi đụi sau lưng chú .

- Có chuyện gì vậy anh Ba ?

- Chú Tư hả ? Pháo nổ đằng trại con Hậu, có tiếng người khóc ...

Càng gần, tiếng khóc càng rõ hơn .

- Bà con ơi ! Pháo bắn chị Hậu chết rồi bà con ơi ! ...

Tiếng khóc la thất thanh của Liên hòa trong tiếng khóc thét hoảng sợ của hai đứa bé.

Chú Ba tới. Chú Tư tới. Hồi sau nhiều người khác nữa tới ...

Trông cảnh tượng thương tâm đó, chú Ba vụt gào lớn :

- Trời ơi ! Người nhân hậu, hiền lành như vầy mà nó cũng giết chết nè trời ! Mỹ ơi, mầy tàn ác quá, Mỹ ơi !

Thấy hai đứa nhỏ khóc quá, chú Tư nói như quát với Liên:

- Mầy bồng hai đứa nhỏ qua trại chú Ba. Chuyện ở đây để tụi tao lo !

Liên như một cái máy không hồn, tay bồng con Mai, tay xốc nách thằng Tài, đi lò dò, lạng quạng trong ánh trăng sắp lặn, lần về hướng trại chú Ba ...

 

x

                                                                x     x

 

Sau một loạt cao điểm tấn công vô thị xã Cao Lãnh, chi khu Kiến Văn, giải phóng một loạt xã xung quanh thị xã, đầu tháng 5-1968, tiểu đoàn 502 mở cuộc tấn công vào chi khu Thanh Bình .

Trận đánh không dứt điểm. Đơn vị rút về bãi Cai Vạn xã Tân Thạnh, ngày sau đánh bọn Biệt động quân 41 từ Cao Lãnh được tàu chở tới đổ bộ lên . Đánh nhau từ chín giờ sáng tới chiều tối. Cả trận địa chìm ngập trong khói mù bom đạn, ùng oàng tiếng nổ . Lúc cùng tiểu đội xuất kích băng qua cánh đồng rượt bọn địch, Hùng bị thương phần mềm ở cánh tay trái. Vết thương không nặng nhưng sau khi kết thúc trận đánh, Hùng phải chuyển về trạm quân y điều trị.

Những ngày ở quân y là thời gian thật yên tĩnh, để Hùng có dịp nhớ về quê, nơi vợ con mình đang sống. Những kỷ niệm từ ngày thương nhau, ngày cưới, đến ngày Hùng đi bộ đội ... cứ lần lượt diễn lại, diễn tới diễn lui ...Càng nhớ, Hùng càng thấy tình cảm vợ chồng mình ngày thêm sâu đậm .

Hai người quen và thương nhau bắt đầu từ lần cùng đi phá ấp chiến lược ở ấp Mỹ Tây. Hậu mặc bộ bà ba đen, quần vo hai ống lên gần tới gối. Chiếc khăn rằn trùm đầu, quấn quanh cổ và buộc mối sau gáy. Tay xách cuốc, Hậu hăm hở vung từng nhát cuốc mạnh mẽ bang bờ ấp chiến lược, không thua anh con trai nào. Hùng cầm búa vừa chặt, vừa xô ngã sập xuống mấy đoạn rào tre. Nó lung lay rồi ngã rạp xuống. Bị chấn động, một trái lựu đạn của địch gài gần đó bật nổ. Hùng nhào lại ôm xô Hậu ngã xuống, lấy thân mình che miểng đạn.  Đất bắn rào rào phủ lên hai người. Mấy giây sau, Hùng buông Hậu ra, lắc lắc đầu cho đất rơi xuống, hỏi ngay :

- Cô có sao không ?

Hậu đã lấy lại bình tĩnh, ngồi dậy, phủi bụi đất, nói nhỏ :

- Em không sao. Anh có sao không ?

Hùng lúc đó mới thấy thèn thẹn, vừa có cảm xúc sung sướng rất mới lạ là đã ôm cô gái chưa quen lắm vào lòng mình . Việc làm ấy hoàn toàn ngoài ý muốn, mà từ ý thức vốn có  bảo vệ đồng đội của mình khi sự cố bất ngờ xảy ra, dù trước mặt mình là ai, thanh niên hay cụ già. Có điều đây lại là một cô gái. Cái cảm giác va chạm vào thân thể người khác giới, bây giờ Hùng mới nhận ra, mới thấy tim mình đập rộn rã. Hậu cũng vậy, tự nhiên được một người con trai ôm vật xuống, che đạn cho mình, khiến Hậu vừa thấy phải cám ơn, cảm phục, không trách mà còn có cảm giác một luồng hơi ấm chạy dọc sống lưng, làm Hậu bàng hoàng, sung sướng. Hai người để ý đến nhau, dần dần thương nhau từ sự cố ấy .

Đám cưới của  Hùng và Hậu cũng diễn ra bình thường như các đám cưới khác trong vùng giải phóng lúc chiến tranh. Buổi chiều, khi thông thường địch không càn quét nữa, không khí bình yên, nhà trai, nhà gái mới dọn bữa cơm có làm gà, làm vịt, có chút rượu để đãi đằng bà con họ hàng, lối xóm. Mượn chỉ được có hai cái bàn tròn, Hùng gỡ hai bánh xe trâu lâu rồi không dùng để sau vách nhà, chùi rửa làm hai mặt bàn, chặt bốn khúc chuối chôn làm chưn bàn, lót đỡ mấy tấm ván ngắn ngắn thay ghế ngồi, rồi trải tấm ni lông  lên thay khăn trải bàn. Đứng chống nạnh ngắm nghía, Hùng nói tự khen mình :

- Có ai biết là bánh xe trâu đâu !

Bà con, bạn bè đến dự ăn mặc như thường ngày, không ai chưng diện. Đãi xong, tối mới làm lễ. Không có lễ rước dâu, mà bà con hai họ tựu chung lại một điểm làm lễ, là nhà Hùng. Một bàn thờ Tổ quốc, giữa có lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng treo sát vách. Trên bàn, một hộp lon guy-gô thay bình bông, cắm mấy bông sen búp có nở có. Thân tộc hai bên và bà con cùng ngồi trệt theo hai hàng dọc trên mấy chiếc đệm trải nối dài trước sân. Giữa là bình ly uống nước và các dĩa bánh. Cái đèn măng-sông thường ngày đem cất giấu, giờ được đốt treo lên trước cửa nhà, vừa rọi sáng bên trong nhà, vừa rọi sáng trước sân.Một cái khạp da bò và một cái nón lá được đem đến để gần cái đèn, phòng khi có máy bay thì hạ xuống, để đèn vô khạp, úp nón lá lại để che ánh sáng.

Chú Hai Kim Trưởng ban Tuyên Huấn xã điều hành buổi lễ.Việc đầu tiên, chú tuyên bố bố phòng. Nếu có máy bay tới, đèn được phân công chú Tám Muôn hạ xuống che giấu, mọi người cứ ngồi yên tại chỗ. Nếu có pháo bắn gần thì người ngồi dãy bên trái tạt xuống bờ mương bên trái, ngồi bên phải tạt xuống bờ mương bên phải. Rồi chú tuyên bố lý do buổi lễ, giới thiệu thân nhân hai họ và khách dự. Chú đọc bài diễn văn ngắn và giới thiệu chú rễ, cô dâu. Hậu vẫn mặc bộ đồ bà ba vải đen, nếu ai để ý thì thấy có khác là trên hai trái tai có đeo đôi bông lấp lánh dưới ánh đèn, vật cưới duy nhứt của đàng trai. Vẻ mặt Hậu vui tươi, mỉm cười hơi e thẹn, mắt lóng lánh nhìn hàm ý cám ơn mọi người.Trông Hậu đẹp hơn hằng ngày. Hùng - chú rễ - đứng sát bên  cạnh Hậu, vẫn mặc cái áo sơ mi màu xanh, nét mặt rạng rỡ, hai tay hơi lúng túng cứ nắm lại rồi duỗi thẳng ra, rồi nắm lại ... Hai người cúi đầu đáp lại tiếng vỗ tay rôm rốp chào mừng của khách. Ông Ba vuốt râu, nhìn và nói với chú Năm ngồi bên :

- Hai đứa xứng đôi quá !

Hùng thay mặt đôi vợ chồng mới nói lời cám ơn đại diện Mặt trận và bà con tới dự và chúc mừng, hứa hẹn sẽ thương yêu , lo cho nhau đến suốt đời. Khi tiếng vỗ tay chấm dứt, chú Hai Kim kính mời mọi người dùng trà bánh và xem văn nghệ, do mấy cô chú thanh niên trong xóm  biểu diễn. Mở đầu là tiết mục hò lờ .

Thanh Nguyên, cây văn nghệ của ấp đứng lên điều hành chương trình văn nghệ. Anh móc trong túi áo ra tờ giấy ghi mấy câu lục bát anh vừa sáng tác, lấy giọng và hướng dẫn mọi người hò theo. Giọng anh trong trẻo cất lên :

- Chúc mừng chị Hậu anh Hùng ,

Mọi người hòa theo :

- A li hò lờ !

- Kết duyên chồng vợ ,

- A li hò lờ !

- Tình nồng hơn rượu đế quán bà Hai !

Mọi người cười ồ lên vì câu dí dỏm và hòa theo :

- Hò lơ hó lơ lắng tai nghe chúng tôi hò lờ ...

Phần văn nghệ buổi lễ vui nhộn, đầy ắp tiếng cười kéo dài đến hơn mười giờ đêm, bà con mới lần lượt ra về, mang theo niềm vui đầm ấm .

Đêm "động phòng", vợ chồng Hùng vẫn ngủ cái mùng một nóc cũ vốn có, trên chiếc chiếu cũ, gối cũ, hai người quyện lấy nhau làm một, tâm tình suốt đêm ...

Những chuyện đó đã thành kỷ niệm, giờ đã cách xa hơn bốn năm rồi !

Hùng dự định hai hôm nữa xuất viện, Hùng xin phép về quê thăm vợ con vài ngày rồi sẽ trở lại đơn vị .

Nhưng chiều hôm đó, Cường chiến sĩ trong tiểu đội của Hùng tới thăm và đem lá thơ của đồng chí đại đội trưởng gởi cho Hùng. Hùng vui vẻ hỏi thăm tình hình tiểu đội rồi xé bao thơ, móc lá thơ xếp làm tư ra đọc. Những tưởng tin vui, nào ngờ lời thơ ngắn gọn báo tin vợ Hùng bị pháo bắn chết cách đây một tuần. Những dòng chữ như nhảy múa trước mắt Hùng. Hùng đứng sững tại chỗ, tai như nghe sét đánh, hai nắm tay run run như cầm không nổi vì sức nặng của lá thơ, hai hàm răng cắn chặt, không khóc nhưng mắt mờ nhòe, tim như bị ai bóp chặt. Hùng lắc mạnh đầu xua đuổi cái tin dữ ấy ra khỏi đầu, cố không tin đó là sự thật... rồi ngồi phệt xuống .

Một thoáng sau, Hùng cầm lá thơ đến gặp đồng chí Tư Kiệt trạm trưởng quân y, đưa cho đồng chí xem rồi nói giọng trầm hẳn xuống :

- Xin phép anh cho tôi được xuất viện ngay. Tôi về quê xem tình hình ra sao ...

Anh Tư Kiệt buông thỏng tay cầm lá thơ, nhìn Hùng, hơi phân vân :

- Vết thương đồng chí chưa lành hẳn, lẽ ra ...

Hùng cướp lời :

- Thưa anh, tôi không thể ở lại đây thêm giờ nào nữa, anh thông cảm cho ...

Anh Tư Kiệt an ủi, nói lời chia buồn rồi gật đầu :

- Được ! Đồng chí cứ đi đi. Nhưng nhớ cẩn thận, vết thương chưa thật lành.

Hùng với tay giựt dây hai đầu võng giăng qua hai cây gáo, gom bộ quần áo đang phơi nhét vội vô bòng, vừa buộc miệng bòng vừa nói với Cường :

- Em trở về đơn vị, báo cáo với đồng chí đại đội trưởng vết thương của anh sắp lành và anh xin phép được về quê ba hôm .

Thật ra, trong bức thơ, phần cuối đồng chí đại đội trưởng có viết câu cho phép Hùng được về phép bốn ngày, nhưng Hùng chưa đọc hết .

Không kịp ăn cơm chiều, vì mặt trời đã ngã hẳn xuống đọt tràm, Hùng tháo cái bình ton trên dây nịt , mở nắp, lại nồi nước nấu chín dùng để uống, lấy cái ca múc nước rót đầy bình ton để mang theo. Hùng mang bòng lên vai, đội cái nón vải, vội vàng đi. Đường về tới nhà xa hơn mười lăm cây số, phải lội qua mấy con kinh, con rạch, băng qua mấy cánh đồng ... Tin vợ bị pháo bắn chết thành một lực đẩy vô hình nhưng vô cùng mãnh liệt, khiến Hùng phăm phăm bước đi, không có trở ngại nào ngăn cản được . Vốn thông thuộc địa hình trong vùng, Hùng định hướng nhắm con đường thẳng mà đi.

Hùng lội ngang con kinh trước trạm xá . Nước ngập tới bắp vế. Bùn lún nhưng có nước nên dễ rút chân lên  để đi. Lên bờ bên kia kinh , để y nước ướt hai ống quần dài và bùn trét một lớp dày kín  hai bàn chân, Hùng nhìn giang cây bên kia cánh đồng  cách xa cỡ bốn cây số , xốc lại cái bòng rồi phăm phăm bước ra ruộng, nhắm hướng cắt xéo  cánh đồng , đi thẳng .

Đất cày lồi lõm . Lúa sạ đã châm kim . Qua mấy cơn mưa nên đất ướt mềm trơn trợt . Hơi cúi người về phía trước , Hùng đạp từng bước. Mười đầu ngón chân phải  quặm lại bấm xuống đất cho khỏi trợt té. Sức  mạnh dồn xuống hai chân nên rất mau mỏi. Nắng chiếu xiên qua nửa mặt bên phải. Hùng kéo vành nón thấp xuống cho ánh nắng  không rọi vào mắt, bớt chói . Vì suốt tuần nay nằm ngồi một chỗ, ít vận động nên mới đi cỡ năm trăm thước , Hùng đã cảm thấy mệt , hơi thở phì phò, bước chân hơi run. Cái hung tin vợ chết và lòng dạ như lửa  cháy mong sớm  về tới nơi, đã hối thúc Hùng dấn bước và hai chân  dần dần quen hơn  đi trên đất cày nhão nhoẹt, bước vững hơn, hơi thở cũng đều đặn hơn .

Mất một tiếng đồng hồ  băng đồng, Hùng mới lọt vào giang cây. Dừng lại trước bờ con kinh rộng và sâu mà Hùng phải lội qua, Hùng ngồi bệt xuống đám cỏ , lột nón vải lau mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt rồi quạt nhẹ cho mát. Chờ cho hơi thở gần bình thường, Hùng mở bình ton, vặn nắp đưa lên miệng , ngửa cổ uống mấy hớp cho đỡ khát. Dòm mặt trời đã xuống la đà đọt cây , Hùng mạnh dạn đứng dậy, cởi bòng và dây nịt cầm một bên tay, bước nhanh xuống bãi bùn để lội qua kinh. Nếu có súng, Hùng phải lấy tấm ni long bọc lại bòng, vừa làm phao gát súng , túi đạn lên, lội qua. Giờ chỉ có cái bòng và sợi dây nịt đeo cái bình ton và tấm ni long, nên Hùng xuống nước, ngả nghiêng người  về bên phải, giơ thẳng cánh tay trái nắm cái bòng và dây nịt cao lên khỏi mặt nước, một tay bơi, hai chân đạp nước, lội qua bờ bên kia . Leo lên bờ, cứ để y bộ quần áo ướt nước, đeo dây nịt và bòng lên, thay vì đi theo đường mòn dọc hai bờ kinh có chỗ giáp nhau hình cùi chỏ, Hùng chọn phương án lần ra sau mí vườn, nhắm hướng quê nhà, cắt đồng đi tiếp .

Trời chập choạng tối rồi tối hẳn. Lúc nầy Hùng thấy có phần oải sức , bụng đói cồn cào. Vừa đi, Hùng vừa móc bình ton , mở nắp, ngửa cổ uống. Nền trời đầy sao lấp lánh phả xuống không gian ánh sáng nhờ nhờ. Căng mắt nhìn về phía trước, Hùng cứ lầm lủi đi. Chỉ có tiếng ọt ẹt phát ra theo mỗi bước chân .

Dù cố gắng đi, đến mười giờ đêm Hùng mới lần mò về  tới đất nhà mình . Quần áo ướt sũng. Cố nhìn trong bóng đêm, theo trí nhớ quen thuộc, Hùng đi dọc lối mòn dẫn ra căn trại của vợ. Trời vẫn tối mịt. Căn trại xiêu vẹo lờ mờ hiện ra  trước mắt Hùng. Ở đó không một chút ánh sáng, không một tiếng động, có nghĩa không ai ở đây cả. Hậu chết, chôn ở đâu ? Mộ Hậu đâu ? Còn thằng Tài con mình đang ở đâu ? Hùng nghe lỗ tai mình lùng bùng vì không có câu trả lời. Nén xúc động, Hùng bình tâm suy nghĩ. Phải tới trại Liên hỏi xem sao. Không chần chờ, Hùng lại căng mắt nhìn đi về hướng đất nhà Tấn. Qua nền nhà bỏ hoang, Hùng cảm nhận ra mộ Tấn lờ mờ nhô hơi cao lên đó, chân vẫn bước đi ra phía sau vườn. Căn trại của chú thím Năm hắt ra ánh sáng lờ mờ. Vậy là có người ở. Hùng hồi hộp gọi :

- Chú Năm ơi, chú Năm ! Con là Hùng đây !

Trong căn trại có tiếng người cựa mình và ngồi dậy. Ngọn đèn dầu được vặn lên sáng hơn. Liên vén mùng thò đầu ra, tay vừa bới lại tóc, vừa nhìn ra cửa. Hùng thò đầu vào, nhận ra Liên .

- Anh, Hùng về đây !

Liên nhận ra, bật khóc :

- Chị Hậu chết rồi anh Hùng ơi !

Hùng cởi bòng ra, ngồi thụp xuống.

- Con tôi đâu ?

Liên cố gắng không khóc nữa, chỉ tay vô mùng :

- Nó ở với em đây nè !

Hùng thở dài, trút bớt nỗi lo, khom người bước vô. Liên vén mùng cho Hùng nhìn. Thằng Tài nằm cạnh con Mai. Hai đứa vô tư say sưa ngủ. Hùng vói kéo tấm đấp đấp lại bụng và ngực con, chồm cúi xuống hun nhẹ lên trán và má nó. Tự nhiên Hùng bật khóc. Cái khóc lần đầu của một người lính từng trải trong chiến trận, từng bao nhiêu lần nhìn xác đồng đội hy sinh, thương tâm, đau đớn và căm thù lắm nhưng Hùng không khóc. Bây giờ thấy con côi cút, mất mẹ, xa cha, Hùng không kềm được nữa...

Liên lấy lại bình tĩnh hỏi :

- Anh về khuya quá, chắc đói lắm. Để em nấu cơm anh ăn .

Hùng không can ngăn, ngồi lặng nhìn con rồi nhìn con Mai, hai đứa bé đứa mất mẹ, đứa mất cha mà lòng đau như cắt .

Liên bước ra ngoài trại, rờ lấy cái nồi rồi xúc gạo trong thùng, đi lại khạp nước, múc nước vo gạo.

Khi cái cà ràng củi đã bén lửa cháy sáng lên, Hùng tấn mùng kỹ lại cho hai đứa nhỏ rồi ra ngoài trại, mặc y bộ đồ ướt đã ráo nước, ngồi cạnh Liên, nghe Liên kể đầu đuôi câu chuyện  từ sau ngày chôn cất Tấn đến giờ.

Ánh lửa bập bùng soi gương mặt hai người còn nặng nỗi đau. Giọng trầm buồn, Liên cứ nhìn ngọn lửa  đang cháy, chẩm rãi kể tiếp :

- Chị Hậu được bà con lối xóm chôn ở cái gò phía sau nhà cũ, cạnh gốc cây trâm. Hôm đó, người tới dự đông lắm. Có anh Tám Tâm Bí thư chi bộ  xã, chị Tư Hường Hội trưởng phụ nữ xã và cả tiểu đội du kích ấp cũng đến bồng súng chào ...

Hùng ngồi yên lắng nghe.

- Sau khi anh Tấn hy sinh, ba má em đã nghe theo ý kiến chị Hậu và được chị đưa về ở với anh chị Hai Thái ở Mỹ Đông. Rồi chỉ đón em về bển ở chung với chị. Chị nói đây là ý của anh Hùng . Chị đã hết lòng lo cho em, nhứt là khi em sanh đẻ. Đến khi chị Hậu bị nạn, em nhứt quyết đem thằng Tài về đây ở với em, từ đó cho tới nay ...

Đến lúc nầy, Hùng mới rõ hết mọi chuyện. Hùng hài lòng trước việc Hậu nghe lời anh đón Liên về ở với mình sau khi Tấn hy sinh và hết lòng lo cho Liên. Việc làm đó, Hùng cho là hợp đạo lý, là tình là nghĩa thiêng liêng giữa những người cùng chung  một chiến hào đánh giặc . Giờ Liên lại nuôi con của Hậu và Hùng. Lại là một việc làm chứa chan, ấm áp nghĩa tình. Thằng Tài mồ côi mẹ, có cha nhưng cha đang chiến đấu xa, không nuôi dưỡng được. Có Liên đùm bọc, Hùng thấy yên tâm con mình có chỗ dựa nương , nhưng Hùng vẫn có phần áy náy, vì Liên cũng chỉ một thân, có con nhỏ, một mình chống chọi lại mọi khó khăn giữa thời buổi chiến tranh ác liệt. Nhìn gương mặt Liên hồng lên trước ánh lửa, Hùng cảm thấy thương và kính phục vô cùng. Người lính cầm súng xung trận có chí khí dũng cảm của người lính. Ở hậu phương, những người phụ nữ bình thường chịu đựng đạn bom, cố gắng nuôi con cho chồng yên tâm chiến đấu, âm thầm vượt qua bao gian khổ, không hề than vãn với ai, họ cũng dũng cảm, anh hùng kém ai.

Cơm chín, Liên xới và nhắc nồi xuống  rế, bắt cái nồi cá kho hâm lại cho nóng, múc cá ra dĩa. Liên rửa và xắt hai trái đậu bắp bẻ ban chiều, để cạnh dĩa cá, mời Hùng ăn .

Mọi việc đã sáng tỏ, Hùng thở phào và lúc nầy mới cảm thấy đói, nên tự nhiên cầm lấy chén đũa, và cơm ăn ngon lành ...

Nhìn Hùng ăn, thấy thương quá, Liên nói :

- Ăn xong, anh thay đồ nằm nghỉ. Sáng sẽ tới thăm mộ chị Hậu. Bây giờ khuya quá rồi .

Bữa cơm đạm bạc nhưng trong tâm trạng thư thái, được cởi mở lại trong cơn đói, Hùng ăn rất ngon. Ăn xong, Liên dọn dẹp, rửa chén đũa, Hùng mở bòng lấy bộ đồ, lần xuống cầu mương tắm sơ sơ, thay quần áo rồi lấy cái võng ni lông buộc vào thân hai cây tràm , trèo lên, phủi hai chân , nằm xuống, kéo một mí võng đấp lại. Liên thấy Hùng đã lên võng, trở vô mùng, vặn nhỏ lại ngọn đèn.

Hai người nằm đó, cố giữ yên lặng giữa đêm khuya tịch mịch, nhưng thật ra không ai ngủ được.Trong đầu, bao nhiêu chuyện cũ cứ diễn ra, xô đẩy nhau chưa hết chuyện nầy đã tới chuyện kia. Rồi những dự định sắp tới ... Căng óc quá và vì quá mệt mỏi, Hùng ngủ thiếp đi .

Cho tới lúc bầy chim chí chóe gọi nhau rộn rã trong đám tràm và Liên đã dậy từ lúc nào nấu cơm, Hùng mới thức .

 

x

                                                                x     x

 

Hùng bồng thằng Tài. Liên bồng con Mai. Hai người đi thăm mộ Tấn và về đất Hùng thăm mộ Hậu. Liên cầm theo hột quẹt và bó nhang .

Mộ Tấn luôn được quét dọn lá rụng, nhổ cỏ nên sạch sẽ. Hùng để con đứng xuống, đốt ba cây nhang, đứng trang nghiêm trước đầu mộ lặng im hồi lâu mới xá ba xá, rồi cặm xuống trước mộ. Liên vừa bồng con, vừa ngồi xuống cắm nhang cho chồng. Hùng nhìn cây mai, vui mừng thấy đất dưới gốc nó còn đẫm ướt, chứng tỏ chiều qua nó còn được tưới nước , lá non nở phè ra, khỏe khoắn .

Lại bồng con đi viếng mộ Hậu. Dưới tàng lá cây trâm mát rượi, ngôi mộ hiện ra. Núm đất màu nâu được nện dẽ, biểu hiện có những bàn tay chăm chút cẩn thận. Chùm chưn nhang còn mới cắm trước ngôi mộ. Nền mộ cỏ được dọn sạch sẽ. Hùng nén nỗi đau, cố không khóc, đặt thằng Tài đứng xuống, im lặng nhìn như cố soi qua lớp đất dầy và nắp quan tài, tìm thấy hình hài Hậu - người vợ thân yêu - đang nằm yên trong đó ...

Liên ngồi chồm hỗm, đặt con nằm trong lòng  giữa hai đầu gối, bật hột quẹt đốt nhang đưa cho Hùng. Hùng lặng lẽ cầm lấy ba cây nhang đang tỏa khói, đứng trước đầu mộ, nâng nhang lên trán, trong lòng cất lên những câu nói mà không thốt ra thành lời :

- Em ơi ! Anh về thăm em đây. Giặc Mỹ đã bắt em phải xa anh, xa con. Anh đau lòng và căm thù lắm. Em hãy ngủ yên. Anh thề sẽ trả thù cho em ...

Hùng chẩm rãi cắm ba cây nhang trước đầu mộ Hậu. Khói nhang vẽ những vòng xám ngoằn ngoèo  tỏa lên cao, như muốn đáp Hậu đã nghe được những gì Hùng thầm nói trong lòng.

Tội nghiệp thằng Tài vô tư hỏi Hùng :

- Ba ơi, kêu má vìa đi! Sao má ở dưới hoài vậy ?

Hùng đau đớn vuốt tóc con :

- Má bận việc. Con ngoan đi, rồi má ...

Hùng kịp không nói hai chữ "sẽ về", vì như vậy là dối con và cũng tự dối lòng mình. Hùng siết con vào lòng, áp má mình vào má nó như muốn nói :

- Má không về nữa đâu con ơi !

Quanh quẩn bên mộ Hậu hồi lâu, Hùng phóng tầm mắt nhìn bốn bên khu vườn. Thiếu người chăm sóc, cỏ hoang mọc um tùm. Mấy nhánh cây gáo, trâm bầu bị bom, pháo bắn lìa cành phô màu lá nâu sẫm. Hùng đi lại cái công sự và căn chòi hoang vắng, buồn tràn ngập trong lòng, nhìn nơi Hậu qua đời. Hồi lâu, Hùng thờ thẩn cùng Liên trở về trại Liên, vì con Mai đã ngủ.

Bốn ngày nghỉ phép qua nhanh. Mấy ngày qua, Hùng tìm những việc làm giúp Liên. Bắt lại cây cầu xuống mương để dễ lên xuống xách nước, tắm giặt. Cưa và bửa cho Liên chất đầy một cự củi. Dọi lại mấy chỗ dột trên mái trại. Tát cái mương bắt rọng cho Liên hơn năm ký cá lóc, cá rô để ăn dần. Chiều nào, Hùng cũng bồng con về thăm mộ Hậu, đốt nén nhang cho thêm hơi ấm. Hai bữa trước, Hùng đi lại nhà ông Sáu xin hai cây mai con về trồng phía trước hai bên mộ Hậu. Hùng dọn dẹp mấy cây bị pháo bắn gãy , cắt bớt dây leo phủ phục trên mấy cây chanh, cây ổi .

Liên vui lắm khi có Hùng về bên cạnh, đỡ lẽ loi , lại được Hùng giúp cho những công việc nặng nhọc thay Tấn. Liên lấy hết quần áo của Hùng trong bòng ra, coi kỹ từng cái. Kết lại cái nút áo bị đứt mất. Nhíp lại cái lai quần sút hết đường chỉ. Mạng lại cái vai áo bị rách một đường. Liên mạng thận trọng, khéo léo sao cho không chỉ lành lặn mà còn đẹp. Liên xách cái bòng đi giặt  vì nó dính đầy bùn đất. Liên làm cần mẫn, kỹ lưỡng đúng là công việc của người vợ đầy trách nhiệm lo cho chồng .

Chiều ngày thứ tư, như đã hẹn, chú Ba cầm chai rượu đế trong veo tới cùng Hùng lương sương  để chia tay, mai Hùng về đơn vị . Liên nướng trui xong một con cá lóc lớn. Hùng đã hái một nắm rau đắng, rau cốc, nhổ thêm mấy cọng tai tượng. Hai chú cháu cùng ngồi xếp bằng trên manh đệm. Chú Ba đảo mắt quan sát Liên đang giữ con, vừa dọn chén đũa , bày thức ăn mà nét mặt vui lắm. Chú nhìn Hùng ngồi chễm chệ như ông chủ nhà rót rượu ra ly, bật nẩy ra ý nghĩ : Có phải Trời Phật sắp sẵn cho hai đứa, kẻ chết chồng, người chết vợ được hòa hợp với nhau ? Ý nghĩ ấy làm chú vui, nhoẻn miệng cười và cầm lấy ly rượu giơ lên :

- Vô ! Hai chú cháu mình trăm phần trăm !

Cuộc nhậu kết thúc nhanh. Dù tửu lượng mình khá và thường chơi đến mút mùa, nhưng với tâm lý người từng trải, chú Ba không muốn  bữa nay Hùng say và dành thời gian ít ỏi cho chúng nó tâm sự với nhau.

Chỉ còn đêm nay để rồi rạng sáng hôm sau Hùng trở về đơn vị. Dỗ cho hai đứa nhỏ ngủ xong, Liên và Hùng ra trước căn trại, ngồi trên hai khúc cây Hùng cưa làm hai cái đôn để ngồi, tâm sự.

Trời đêm yên tĩnh. Gió lặng, cây đứng yên như sợ làm xao động thời khắc quí báu gần gũi bên nhau giữa hai người. Chỉ có tiếng côn trùng rả rích và thỉnh thoảng cá đớp dưới mương lách chách. Hùng và Liên cứ lặng im dõi theo suy nghĩ của mình. Hùng muốn nói lời cám ơn Liên đã hết lòng thương yêu, nuôi dưỡng thằng Tài sau khi mẹ nó mất, nhưng miệng cứ mím lại, không thốt được ra lời. Cám ơn thôi chưa đủ và nghe sao khách sáo quá. Rồi cũng tới lúc Hùng cất lời :

- Trước đây Tấn chết Liên đau khổ như thế nào, thì bây giờ Hậu chết anh cũng đau khổ như vậy. Thôi chuyện đã qua rồi, đau khổ hoài cũng chẳng ích gì. Chiến tranh còn, anh không thể rời đơn vị. Con anh, anh chưa gởi gấm thì em đã tự nguyện nhận nuôi dưỡng nó, coi nó như con ruột của em. Anh ghi nhận ân tình nầy và yên lòng ...

Liên ngước lên nhìn Hùng trong bóng đêm lờ mờ :

- Chị Hậu chết, anh chưa về, em đã biết mình phải làm gì cho trọn ân tình. Anh yên lòng trở lại đơn vị. Em đã dạy thằng Tài kêu em bằng má là em đã coi mình là mẹ nó rồi. Tình thương con của chị Hậu dành cho nó thế nào, em cố gắng dành cho nó cũng như vậy . Em hứa ...

Hùng chận lời :

- Em khỏi hứa . Anh hoàn toàn tin ở em. Con anh mất mẹ nhưng lại có mẹ. Anh mừng và yên tâm lắm ...

Có tiếng con Mai cựa mình khóc. Liên vội vã quay vô trại, chun vô mùng dỗ con. Hùng đứng dậy nghe trong người nhẹ nhõm hơn, đi lại, vươn vai hít thở không khí trong lành rồi lấy võng buộc dây hai đầu lên hai cây tràm, ngồi lên, ngã nằm xuống. Lúc nầy, Hùng thấy đêm sao qua nhanh quá, chỉ mấy tiếng đồng hồ nữa thôi Hùng lại xa con, xa Liên, xa mảnh đất quê nhà thân yêu  biết bao kỷ niệm vui buồn, cùng đồng đội lao vào những trận đánh mới .

 
     
  Nguyễn Văn Long ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)








  • THƯ CẢM ƠN! (19/08/2018)

  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |