Thứ Hai, ngày 18 tháng 11 năm 2019        
     
 
   Tạp văn
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  22/11/2018  
  KIẾP CON TRÙN Hồ Văn  
         Mới về thăm quê, tôi liền gọi điện cho thằng bạn “tủy” còn hơn cả bạn cốt vì nó nằm ở trong xương, để nhâm nhi ly cà phê, rồi ôn nhắc chuyện xưa, hỏi han công việc, đôi khi chém gió khơi khơi cũng thú. Nó trả lời gọn khô: Tao đang đi câu cá. Quá bốn mươi tuổi, đầu đã hai thứ tóc mà khoái chi cái trò con nít. Hay nó cũng học đòi giống lão Khương Tử Nha ngồi cầm cây cần câu không có lưỡi để chờ thời. Già rồi cứ nghĩ mình còn trẻ lắm. Phong đoán biết tôi đang giận lẫy nên gọi lại: Mày chạy qua quán cà phê Đỏ Đen nghen, xuống mấy cái bàn dưới mé sông. Tao đợi. Thoáng nghe tên quán cà phê tự dưng tôi cũng thấy phát ghét: đỏ đen trò đời, đỏ đen một kiếp con người. Đã là bạn thân nên đôi khi có những giận hờn vu vơ rồi trôi đi tất cả. Như con sông Tiền cuồn cuộn chảy, qua mấy mùa giông bão vẫn rót những giọt phù sa cho vùng đất quê mình. Nhờ nó nhắc chuyện câu cá tôi mới nhớ Cao Lãnh đang vào độ mùa nước lên. Học trong sách người ta bảo một năm có bốn mùa, còn miền Tây chỉ có hai mùa mưa-nắng. Với tuổi thơ tôi và thằng Phong cũng có hai mùa, nhưng là mùa khô và mùa nước. Mấy năm nay lũ không chịu về, cuộc sống người dân thật đơn điệu, có chút gì đó thiêu thiếu. Giống như tôi về quê mà không gặp thằng bạn thân hơn cả xương cốt vậy.  
 
 



     

Phong nhìn dáo dác xung quanh rồi ngắt một miếng mồi đựng trong chiếc hộp bằng thủy tinh, xinh xắn giấu kỹ dưới gầm bàn, vắt thật chặt, cẩn thận móc vào lưỡi câu, quăng mạnh một cái, vút lên cao, bắn ra xa, rơi giữa dòng sông, cách bờ khoảng 20 thước. Quay sang tôi, nó tự tin bảo:

- Bãi mồi này tao nuôi được hai ngày rồi. Bữa nay thế nào tụi cá cũng dính chấu. Kiếm vài con vồ đém cỡ bắp vế về kho lạt, lai rai là hết sảy luôn.

- Bây giờ câu cá khác so với ngày xưa - Tôi nói.

- Sao khác vậy bạn.

- Ngày xưa cá đi kiếm mồi, còn bây giờ mồi đi dụ cá.

- Ừ hén, mày nói đúng.

- Mồi câu cá làm bằng thứ gì mà tao thấy hình như quý lắm. Có vẻ bí mật không muốn cho người khác biết.

- Hàng độc đấy. Dân câu cá chuyên nghiệp phải có bí quyết chế tạo mồi riêng. Mấy ngày nay tụi nó cứ kè kè theo tao xin tí mồi về khám quá. Tại sao chỗ quán này chỉ có mình tao câu dính cá.

- Nghiên cứu chi cho cực khổ. Lấy con trùn móc vô lưỡi câu là xong chứ gì.

- Bạn nghĩ sao ra ngồi ở cái quán xinh đẹp, lịch sự như thế này mà đem ba cái thứ dơ bẩn, hôi thúi đó bên mình.

- Mầy chê con trùn tanh hôi, bẩn thỉu. Ngày xưa nhờ nó mà tao với mầy có tiền mua tập sách, có tiền mua cà rem để mút mút vào những khi trời nắng gắt, xài không hết còn mang đi bao mấy con nhỏ ngực mới nổi trái chàm, mặt mày toàn lang ben, lác biến ở xóm kề bên. Bà Hai Ấu nhà không có miếng đất chọi chim nhưng nuôi năm đứa con học hành thành đạt nhờ nghề đào trùn đem đi bán. Nhờ con trùn mà đất quê mình tơi xốp, cây cối tốt tươi,…

* * *

Phong ngồi thừ ra đấy. Nó mới nói có một câu mà tôi dập một tràng. Chắc nó thấm. Mắt nó đang hướng ra dòng chảy con sông đang lừ đừ trôi về hướng cầu Đình Trung, rẽ xuống dưới Xóm Bún. Nơi mà ngày xưa mỗi mùa nước lên, tờ mờ sáng tôi và Phong cùng bọn trẻ dậy thật sớm chuẩn bị dụng cụ để đi đào trùn đất, bán cho mấy tay câu chuyên nghiệp ở chợ đổ xuống mua ào ào. Lũ tràn về nước vây bốn bề tứ phía, tụi trùn quắn, trùn hổ, trùn chuối, trùn cơm dắt díu nhau tìm khu đất khô khô để trú mình. Cứ chọn đại một miếng đất sau nhà, lấy cây len nhỏ cầm tay dùng để trồng hoặc vô chưn cây thuốc lá, cây bắp, dưa leo,… kẹt kẹt lấy cái dao yếm chặt thịt, chặt củi để đào xới. Nghĩ cũng tội cho loài trùn. Con người dù có nghèo đến rớt cái mùng tơi nhưng khi chết thân xác còn được liệm trong cỗ quan tài với nhiều màu sắc, ánh sáng rực rỡ. Còn con trùn trước khi mang đem cho người ta làm mồi câu cá chỉ toàn đựng trong những thứ vứt đi, lăn lóc bên lề đường, hố rác, hay xó xỉnh nào đó. Chẳng hạn như cái miểng vùa, người ta nạo lấy cái dừa hết rồi. Chúng tôi chặt lá chuối tươi bao bọc bên ngoài, lấy dây niềng lại, thắt thành chiếc quay để xách. Cho một ít đất tơi vào tụi trùn để chúng đừng bò lung tung. Đó cũng coi như một bữa ăn ân huệ cuối cùng cho kiếp con trùn. Người mua chỉ cần móc một lớp đất bên trên thì thấy dòng họ nhà trùn quấn chặt nhau thành một cục to ở dưới đáy. Dẫu sắp chết chúng không nỡ rời nhau.

Đất để đào bắt trùn khi con nước càng lên cao thì ngày càng hẹp và hiếm. Vì vậy luôn có những cuộc đụng độ, chia lãnh thổ trong bọn trẻ xóm tôi. Thằng nào đến xí trước thì gạch lim (giới hạn) thành những hình tròn, hình vuông tùy theo địa hình như trong trò chơi cò chẹp để giành phần. Đứa nào đến sau không còn chỗ, nên đứng đấy ôm len, miểng vùa, mặt mày buồn xo, bí xị. Có bữa Thằng Hai Ghẻ con lão Tư Sỉn còn khóc sướt mướt. Giọng của nó run run: Hôm nay, em mà không đào được trùn để bán lấy tiền mua rượu cho ba là ổng không cho ăn cơm, đuổi ra khỏi nhà. Thấy thương nó quá, bọn tôi chia cho một miếng đất rộng, còn ra tay đào kiếm trùn giúp nó. Nhưng trước đó còn dạy đời: Mai mốt nhớ đừng ngủ nướng nghen, siêng năng lên một chút. Nó lấy tay quệt nước mắt hòa cùng nước mũi nói: “Em có dậy trễ đâu. Hôm nay má bị bịnh, em phải chạy lên chợ, hốt mấy thang thuốc ở phòng mạch Tám Tài, rồi mới chạy ra đây.

Nhớ thằng Tuấn Chuột mỏ nhọn nhọn, răng chìa ra y như con chuột cống. Nó mà ăn bún thì cả Xóm Bún này phải nể phục. Nó dùng hai tay cầm lấy tô bún có chang nước sền sệt, chu mỏ lên, làm một cái rột, gần hơn nửa tô bún chạy tuột vô bao tử của nó, rồi lấy tay vỗ vỗ vào cái bụng ễnh ương chình ình thấy phát ghét. Nhiều người cá độ đã thua nó vì cách húp bún nhanh như chớp này. Riêng tôi chẳng sợ gì nó. Tôi kêu Phong là bữa nay mày thách ăn bún với thằng Tuấn Chuột. Thế nào cũng thắng. Phong gặng hỏi lại mấy lần: Thiệt hông. Nếu thua mày trả tiền đó. Trước cuộc thi ai ăn bún nhanh nhất, thằng Tuấn Chuột còn đòi chấp Phong Nhí, biệt danh của thằng bạn hơn cả chí cốt của tôi. Nó chu cái mỏ, phun nước miếng phèo phèo: Chuyến này bọn bây thua tao chắc rồi. Chọn thằng nào không chọn, đi chọn cái thằng nhỏ con, khờ khạo để đấu với tao. Kha kha. Nói xong, Tuấn Chuột hất hàm, khinh địch nên chỉ cầm tô bún bằng một tay đưa lên mỏ húp cái rột. Hơn nửa tô bún biến mất tiêu. Thằng Phong xanh mặt mày, lấy tay khều khều, lí nhí nói: Nó còn phong độ như ngày nào. Sao giờ. Thua là cái chắc. Tôi nhếch môi tiến lại gần thằng Tuấn Chuột, giả bộ hốt hoảng, lo sợ, mặt nhăn nhăn, lấy tay chỉ chỉ vào miệng của nó:

- Trời ơi có mấy con trùn chỉ, trùn cơm đang dính bên mép miệng của mầy kìa. Ghê quá.

- Đúng rồi, có bốn năm con luôn. Kinh khủng thiệt.

Thằng Phong hiểu ý nên cũng hùa theo tôi. Tuấn Chuột nghe nhắc đến mấy loại trùn đó là ớn rồi, bây giờ còn dính trên miệng của mình nữa. Nó lấy tay quẹt lia lịa, rồi ụa ụa mấy cái, nôn thốc nôn tháo ngay tại bàn. Tôi lấy đôi đũa làm quạt như Khổng Minh Gia Cát Lượng, khom mình vừa nhìn vừa nói: Trong tô bún của mày cũng có hàng chục con trùn nè. Sao kỳ vậy ta. Thằng Phong khóc sướt mướt kiểu Lưu Bị: Tội nghiệp thằng Tuấn quá tụi bây ơi. Nó ăn phải con trùn. Tuấn Chuột nghe nói có mấy con trùn trong tô bún của mình thì càng ói. Nó ói ra mật xanh luôn. Ói như ba của thằng Hai Ghẻ, nhậu ghiền, nhậu hai ba ngày mà không có thứ gì vô bụng. Qua cơn ói, tay chân bủn rủn mà từng thớ thịt trong cơ thể cũng run lên bần bật. Nếu cộng hưởng lại, nó có thể quật chết một thân xác con người. Thằng Tuấn Chuột ngã bẹp xuống đất, hai tay đập phành phạch lên mặt chiếc ghế tre, rồi cố giơ lên trời, vừa khóc hu hu, vừa thét lớn: Tụi bây đừng có nói nữa. Tao chịu thua. Nó bụm mặt rồi bịt lỗ tai lại để khỏi nghe tiếng reo hò mừng vui của tụi nhỏ Xóm Bún. Lần đầu tiên trong đời chứng kiến có người như Phong Nhí chưa xuất chiêu ăn bún đã chiến thắng thằng Tuấn Chuột.

Thân phận thằng Tuấn Chuột cũng có khác gì những đứa trẻ ở Xóm Bún này. Cũng phải đi đào trùn để bán, có chút tiền để lấy le với mấy đứa con gái ở ngõ trên, làng bên, xóm dưới. Nhưng tôi và thằng Phong không thích nó ở chỗ: mỗi lần cùng nhau đi đào trùn là nó hay tranh đất, giành cho mình một phần lãnh thổ riêng nhưng khai thác đâu có hết. Thời gian mà nó gạch lim chia đất là thời gian tôi và Phong đào trùn. Đào được hai ba vùa là bọn tôi đi về, bỏ nó trơ trọi một mình thật tội nghiệp. Mà đất này đâu có phải của ông cố nội thằng Tuấn Chuột để lại mà nó giành. Cự cãi nhau cho sướng cái miệng, chủ đất hay được xách cây ra phang, rượt đuổi chạy xịt khói đít. Thằng Tuấn đôi khi đứng lại cãi bướng với người ta: Con đâu có giành đất, con chỉ đào trùn bán lấy tiền thôi mà. Chủ đất bặm môi, lấy cây nhá nhá hăm dọa: Không có trùn triết gì ở đây cả, toàn bọn phá hoại, đào xới lung tung, nước lũ cuốn lấy hết đất tao kìa. Thấy Tuấn Chuột tiu nghỉu, buồn buồn, tôi cũng đế thêm cho nó thấm: Đó. Mầy thấy chưa. Vấn đề không phải là ở chỗ đất ít hay đất nhiều, rồi cứ ngồi đó mà ôm khư khư không cho ai nhảy vào. Quan trọng là ở chỗ kiếm được bao nhiêu con trùn ở trong miếng đất đó.

Trong số các loại trùn, thằng Tuấn Chuột chỉ thích mỗi loại trùn quắn. Nó hiền khô, đụng vô là co lại, có vẻ dễ bị ăn hiếp nhứt. Trùn quắn mà đi câu cá rô mề, cá trê vàng, chạch lấu là khỏi chê. Còn trùn hổ to mà dữ. Đạp phải là nó xịt cho một thứ chất dịch có độc, thấm vào chân tay nổi mụn nước, ngứa ngáy gảy hoài mà không thấy đã sướng. Có lần thằng Tuấn Chuột bị trùn hổ địt vào bàn chân. Nó khó chịu nên kêu tôi bày cách trị. Tôi lấy khúc củi còn cháy dở dí dí vào chỗ trùn xịt. Nó sướng lâng lâng, mắt lim dim. Đến khi lửa thấm vào lớp da dầy dưới lòng bàn chân nên nóng kinh khủng. Nó chạy cà nhắc một vòng khắp sân mà không hết, liền nhảy ùm xuống sông. Ngoi lên mặt nước, chu cái mỏ nhọn lên bờ chửi tôi chí chóe.

Thân hình thon nhỏ li ti, ngoằn ngoèo của con trùn cơm, trùn chỉ giống giống như những sợi bún. Nhất là khi chúng bị lạc trôi trên dòng nước dập dềnh. Thằng Tuấn Chuột phát hiện ra điều này nên tuyên bố chắc nịch: Trùn ở xóm mình thường bán đi nơi khác. Bởi ở đây con cá dưới sông ăn bún tưởng trùn, ăn trùn tưởng bún. Giọng nó chùng xuống, buồn buồn nói: Đôi khi tao thấy mình cũng giống như cọng bún thiêu, mấy con trùn cứ bám mãi vào vùng đất này. Nhưng khi bỏ đi nơi khác lại trở thành miếng mồi cho người ta. Bởi vậy khi nghe tin thầy Hùng vận động bọn trẻ tụi tôi đi học trên Xóm Chùa, thằng Tuấn Chuột xung phong ngay. Học để biết chữ, đổi đời, để đọc được mấy quyển truyện, tờ báo cũ mà người ta cho mướn ở cái “tum sách” dưới dốc cầu Đình Trung, hay bên cạnh trường Vĩnh Phú. Chuyến này đi đào trùn không thèm ăn cà rem luôn, dành dụm tiền mướn mấy quyển sách diễm tình, diễm lệ ướt át như mưa rơi, rồi thuộc làu những lời thoại trong đó. Nói chuyện với mấy đứa con gái xóm bên cạnh. Thế nào tụi nó cũng mê tít cho coi.

Mang tiếng là trường, nhưng phòng học được tận dụng từ mấy gian nhà chùa bỏ trống, nằm cạnh dưới gốc cây bồ đề to đùng. Lúc đầu không có bàn ghế, học sinh cứ ngồi bệt dưới đất. Chúng tôi phải tranh nhau giành giật mấy miếng gạch tàu, mấy cục gạch ống, gạch thẻ nằm lăn lóc ở góc sân nầy, xó nọ để lót chỗ ngồi và viết chữ cho sạch đẹp. Thấy trong chùa toàn đồ xưa cũ, mạng nhện giăng phủ, khói nhang nghi ngút đầy vẻ linh thiêng, nên thằng Tuấn Chuột cũng cho rằng đất chùa cũng là đất cổ, vô cùng quý hiếm. Mà đất cổ không biết con trùn có sống được hay không? Trong khi cả lớp đang đồng thanh đọc chữ, ráp vần theo cây thước của ông thầy, thằng Tuấn chuột lấy tay khều khều bên hông tôi nói nhỏ:

- Ê mậy, nó xuất hiện.

- Ai vậy?

- Tụi trùn cũng theo mình đi học kìa.

-  Thằng quỷ, đất nào mà không có nó. Con trùn ăn đất nhả phân như con tằm ăn lá dâu, nhả sợi tơ cho đời.

Tự dưng sao tôi thấy mình nói chuyện văn hoa hay quá. Thấy sướng cả người. Đang phiêu phiêu bỗng bị cây thước gỗ của thầy Hùng gõ lên đầu kêu cái “cốc” khô khốc đau điếng, giúp tôi hoàn hồn trở về thực tại. Thằng Tuấn Chuột ngồi kề bên, nhăn nhăn mặt, rụt cổ mà chờ đợi mấy tiếng “cốc, cốc” như tiếng mõ kệ kinh trong chùa giống tôi. Nhưng hên thật, thầy mới nhá cây thước lên cao thì phía trên có tiếng thét, tiếng la làng,  khóc rú lên của tụi con gái, tạo nên một hợp âm vang ngân nghe ghê rợn. Có đứa mặt xanh như tàu lá chuối, môi run run, tay chân giần giật. Té xỉu. Bởi mấy con trùn đất bất ngờ ngoi lên chui vào tập sách, quần áo của chúng. Thằng Tuấn chu mỏ chuột, khoái chí, kề tai tôi nói the thé: Tụi con gái lớp này còn khiếp, khi biết mấy món quà ăn vặt tao mua tặng là từ tiền bán mấy con trùn ở Xóm Bún của bọn mình.

Tôi nhớ hồi ấy, mấy cơn mưa đầu mùa thường bất ngờ tuôn đổ ầm ào, xối xả. Không thấy những cánh phượng hồng nở sớm rung rinh trong gió, mà chỉ nghe tiếng kêu “ềnh oang” của tụi ễnh ương ở sau chùa át cả tiếng chuông ngân, tiếng mõ kệ kinh chiều. Nước ngập bốn bề tứ phía. Tụi trùn ngoài sân trường, trong mọi ngõ ngách, xó xỉnh chịu không nổi phải ngoi lên và thi nhau bò lỗn ngỗn vào trong phòng học. Bọn con gái la chí chóe. Chớp lấy cơ hội, thằng Tuấn Chuột thể hiện sở trường của mình, ra tay nghĩa hiệp,  trổ tài bắt trùn trước bao ánh mắt khâm phục của mọi người. Nó lấy cái lư hương bị sứt mẻ bỏ lăn lóc trong hốc cây bồ đề rồi bỏ một chút đất vào trong đó để làm đồ đựng trùn. Tuấn Chuột di chuyển đến chỗ nào là bầy con gái trong lớp nép mình, xếp hàng đi theo phía sau.

Tuấn Chuột còn pha trò học theo mấy ông sư trong chùa. Trước khi bắt trùn, nó cầm cái lư hương xá xá mấy cái, miệng lầm rầm khấn vái: Nam mô a di đà phật. Mấy con trùn đang bò lút nhút dưới nền phòng học khi nghe tiếng niệm phật của Tuấn Chuột mà nằm im ru cho nó bắt. Tụi con gái thấy vậy cùng vỗ tay tán thưởng. Riêng mấy thằng con trai Xóm Chùa thì ghen tị. Để chứng tỏ bản lĩnh của mình, tụi nó lấy gạch, đá, cành cây và dùng chân để chà xác, đập tan bành thân xác con trùn. Mùi tanh tưởi nồng nặc bốc lên. Tôi thấy vậy can ngăn: Tụi bây ở Xóm Chùa sao không biết từ bi. Giết chi mấy con trùn tội nghiệp. Hãy đuổi chúng nó đi. Hay bắt về làm mồi cho cá cua ăn còn có nghĩa. Thằng Tuấn Chuột chu chu cái mỏ nhìn tôi ra vẻ đồng tình. Trong cơn bực tức, tôi quay sang nghĩ xấu nó: Mầy cũng có anh hùng nghĩa hiệp gì đâu, muốn bắt mấy con trùn đem bán lấy tiền, rồi mướn mấy quyển sách diễm tình, diễm lệ, học lời thoại trong đó để ghẹo mấy đứa con gái trong lớp nầy.

            Sau chuyến bắt trùn ấy, thằng Tuấn Chuột được thầy tuyên dương người tốt, việc tốt. Nó trở thành nhân vật nổi như cồn. Mấy đứa con gái dễ thương, liếc nhìn Tuấn Chuột bằng một ánh mắt đầy ngưỡng mộ. Bọn con trai Xóm Chùa thấy vậy mà không chịu nổi, luôn mang trong lòng một sự ghen tức. Quá đáng hơn, mỗi khi chơi mấy trò chơi con nít, tụi con gái chỉ mời gọi, níu kéo cho bằng được Tuấn Chuột. Nó còn được đãi mấy món ăn vặt mà hồi đi học chỉ cần nhìn thôi, đã chảy nước miếng. Nhìn kĩ thằng Tuấn Chuột có đẹp trai gì đâu, mấy cái răng hô chìa chìa ra, tụi tôi hay chọc, lớn lên có thất nghiệp về Bến Tre nạo dừa, chứ quê mình nhiều củ súng, ngó sen nên đâu có mấp mấp như mấy bà già mom móm. Một vài lỗi lầm của nó trước đây được cho là to lớn, giờ trở thành nho nhỏ, không quan trọng, bỏ qua.

Thầy Hùng từng dạy người có tài phải rèn đức, nhưng Tuấn Chuột càng ngày càng lộ cái tật xấu mà bọn trẻ cùng chơi với nó ai cũng biết. Đó là chuyện nó bắt đầu đến trường thật sớm để giành lãnh thổ ngay trong lớp học. Tuất Chuột lấy cục than tổ bố trong lò nấu bún, gói lại cẩn thận, mang vô trường, gạch thành những ô vuông to đùng, giống như khi tranh giành đất để đào trùn. Vì nể nó có công được thầy khen nên ai thấy chỗ của nó đều dạt ra. Lúc đầu Tuấn Chuột chỉ giành một chỗ, nhưng thấy im, không ai cự lại, nên gạch thêm hai ba ô chỗ ngồi khác. Nhưng đít của nó chỉ có một, nên xài làm sao cho hết. Tôi và Phong khuyên mãi mà nó không chịu nghe:

- Mầy mà làm kiểu đó, tụi Xóm Chùa ghét đánh rồi sao. Hay lỡ có chuyện gì trầm trọng hơn, tụi tao không bênh vực, bảo vệ mày nữa đâu.

- Chuyện tao làm tao biết. Tụi bây đừng xía vô.

            Việc giành chỗ ngồi của Tuấn Chuột không thoát khỏi sự quan sát của thầy cô, nhất là sự mách lẽo dồn dập của tụi Xóm Chùa. Sau buổi học chiều, thầy Hùng mời riêng nó lại. Biết là có chuyện lớn, tôi và Phong đâu nỡ bỏ bạn bè, nên thập thò núp ngoài cửa sổ nghe lén. Thầy nói:

            - Em có công lao thầy khen ngợi. Nhưng đừng ỷ vào đó rồi muốn làm gì cũng được.

            - Dạ. Em có làm gì đâu thầy.

            - Em làm gì tự biết. Mà thầy đã nghe bạn bè của em nói hết rồi. Mấy ngày nay, tôi cũng nhìn thấy chuyện đó là có thật.

            - Em có làm gì đâu thầy.

            - Không làm gì à. Em nhìn đi. Mấy cái ô vuông gạch bằng than đen là của ai. Em nên nhớ đất này không phải của em.

            - Đất này là của chùa mà thầy.

            - Đất này là của chung. Em không được giành lấy cho riêng mình, rồi để trống.

            - Em làm vậy là…

            - Em không thể đổ cho bất kì lí do nào để rồi tranh giành chỗ ngồi kiểu đó. Ngày mai em phải chấm dứt ngay. Thầy hứa sẽ không truy cứu trách nhiệm. Còn bằng ngoan cố, tôi sẽ làm cho ra lẽ.

            Thầy Hùng bực bội gom vội mấy quyển sách và dụng cụ dạy học vào cái tụng tự may bằng vải bước nhanh ra khỏi phòng học, nên đâu nghe được tiếng khóc rú lên kèm theo những cơn nấc nghẹn ngào của Tuấn Chuột. Vậy mà thằng Phong Nhí chạy vào còn nói: Thấy chưa, tụi tao khuyên mầy mà không chịu nghe. Chuyện lớn rồi đó. Giành chi mấy cái chỗ ngồi để thầy bực tức. Tuấn Chuột lấy tay vuốt nước mắt, nước mũi chảy dài, ra vẻ như không có chuyện gì:

            - Thầy không cho tao nói hết. Tụi bây cũng chẳng hiểu tao. Ngày mai tao nghỉ học luôn.

            - Mày không muốn đổi đời, sống hoài ở Xóm Bún bằng cái nghề đào trùn. Không học chữ sao đọc được mấy lời thoại hay để ghẹo tụi con gái. Tao thấy tụi nó đang mê mầy dữ lắm. Tôi nói.

            - Đến nước nầy mà tụi bây còn tếu được à. Tao nói nghiêm túc đó.  

            Sáng hôm sau không thấy Tuấn Chuột trong lớp, đợi hết buổi học, tôi và Phong chạy nhanh sang nhà nó thì thấy trống trơ. Hỏi thăm mới biết, gia đình nó đã bỏ xứ, cuốn gói lên xuồng, chống thẳng vô Tháp Mười để giăng câu, thả lưới và cắt lúa mướn cho người ta. Nghe nói trong đó đất đai bao la, cá tôm nhiều vô kể. Chắc thích hợp hơn với việc phát triển nghề trùn. Số thằng Tuấn Chuột không phải số hưởng mà. Nó vừa nghỉ xong thì mấy phòng học được sửa chữa, lót gạch, quét vôi, kéo về mấy chục bộ bàn ghế còn thơm tho mùi gỗ mới. Lâu lâu thấy mấy đứa học trò giận nhau hay lấy phấn chia ranh giới trên mặt bàn, làm tôi nhớ đến thằng Tuấn Chuột vô ngần.

* * *

            Thông thường những bạn cốt hay xương tủy cũng là người bạn tri âm. Trong đầu tôi đang nghĩ về đứa bạn cũ, thì bất ngờ Phong quay sang hỏi:

- Nhắc đến con trùn, mày có nhớ thằng Tuấn Chuột không vậy. Tự dưng sao tao nhớ nó quá.

Phong Nhí ngừng giây lát để móc mồi vô lưỡi câu, quăng ra giữa dòng sông rồi nói tiếp:

- Con cá chết vì thói quen. Mỗi bến câu phải nghiên cứu kỹ coi chỗ này nó thường ăn gì thì mình chế biến mồi ấy. Chúng có thể thoát khỏi trăm nghìn cạm bẫy bủa giăng, nhưng trước món ngon đúng sở thích thì không kìm lòng cho được. Con người cũng thế. Như thằng Tuấn Chuột có công trạng chỉ qua một lần bắt trùn, nhưng vẫn giữ thói quen chia lãnh thổ, ôm khư khư đất. Dẫu biết rằng đất này không phải là của riêng ai. Để cuối cùng bây giờ không biết trôi dạt về đâu.

- Tuấn Chuột không xấu như tụi mình nghĩ. Việc nó giành chỗ ngồi lúc đi học là âm thầm giúp đỡ mọi người đó. Đừng trách nó nữa.

- Ủa, mày nói vậy nghĩa là sao? Phong gặng hỏi tôi.

Cách đây khoảng trên chục năm. Tôi theo chân đoàn khảo sát, nghiên cứu các viện đê bao ở Tháp Mười. Dù mới đầu mùa lũ, nhưng gặp thêm mấy trận mưa lớn do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới nên vài tuyến đê bao xung yếu bị vỡ, ảnh hưởng đến mùa màng, đời sống của bà con vùng sâu, sống chủ yếu bằng cây lúa. Dưới cơn mưa lất phất, một anh kỹ sư mặc áo mưa, xoắn quần để lộ hai bắp chuối trắng hồng, đứng trên bờ chỉ chỉ nói:

- Nước từ thượng nguồn tràn về quá nhanh. Mà hệ thống sông ngòi kênh rạch không đủ để chứa, đưa nước đi nhanh ra biển. Dòng sông, con rạch ở đây bây giờ giống như con rắn chúa, con trăn khổng lồ cảm thấy khó chịu trong sự chật chội; phiêu mình trên đồng lúa, cựa quậy, vùng vẫy, mong sao được thoát khỏi nơi nầy.

- Con trăn, con rắn gì đâu kỹ sư. Nó giống mấy con trùn quắn, trùn hổ, trùn cơm,…quấn lấy nhau,  bám chặt vào đất quê mà sống. Cứ tranh nhau làm đê bao, viện lúa kiểu này thì dòng kênh, con rạch vốn chưa đủ lớn, giờ thêm chật chội, nhỏ nhoi, mong manh dễ vỡ vô cùng.

Con nước tới mùa, rất muốn được tung tăng trải lòng mình với xứ bưng biền, để được nhả những giọt phù sa. Nhưng hễ thấy nó chùng chình không chịu trôi nhanh ra biển lớn là người ta lại lo sợ. Bởi bên trong đê bao là ruộng lúa, vườn cây bạt ngàn, đang chờ gặt hạt, hái trái. Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào người nông dân mặt độc một chiếc áo đã sờn vai, đầu đội nón lá, quần xoắn bên thấp, bên cao, chân đen sì, lộ ngấn phèn. Hình như, mưa gió đối với anh không hề hấn gì, bởi anh đã quen rồi. Nghe nói tới con trùn, tôi nghi nghi, nhưng tiến lại gần thấy cái mỏ chu chu thì đích thị là nó:

- Tuấn Chuột. Phải bạn không?

- Ai mà biết cả biệt danh hồi nhỏ của tui nữa trời.

- Tao nè, Khổng Minh, bún tưởng trùn. Nhớ chưa.

 - Ờ nhớ rồi. Bây giờ làm chức gì? Thấy trắng trẻo, phong độ dữ. Giá như hồi đó tui cố gắng học tập thì bây giờ đâu có cực khổ, tối ngày chui nhủi bám đất, bám vườn.

- Thôi mà, mỗi người đều có số. Rồi đây, nông dân mình cũng sẽ đổi đời cho coi.

            - Chừng nào?

            Câu hỏi gọn khô qua chất giọng mộc mạc ấy của Tuấn Chuột tiếp tục ám ảnh tôi, khi mà một câu hỏi lớn về nó trải qua thời gian dài mới có lời giải đáp: Dưới mấy cái ô vuông mà nó giành đất trong lớp học hồi xưa có rất nhiều trùn hổ. Ai mà ngồi xuống đó sẽ bị chúng địt cho thúi đít, thúi khu.

Tôi đang kể say sưa, bất ngờ thằng Phong Nhí hỏi một câu vô cùng ngớ ngẩn:

            - Bây giờ con trùn có còn sống trong đất không ta?

            - Sao không còn. Hỏi kỳ vậy?

            - Tại lâu lắm câu cá không xài mồi trùn. Cá bây giờ kén ăn như con người vậy.

            Con trùn thời nào mà không cần đất. Và đất cần nó để được tốt tươi. Nhưng vì vô tình hay cố ý mà người ta quên đi điều đó. Câu hỏi khơi khơi của Phong Nhí đã giúp tôi giải đáp được điều trăn trở của Tuấn Chuột. Nhưng không biết, bây giờ nó ở nơi đâu. Tuấn Chuột có còn tiếp tục bám đất quê, hay vì thương hiểu nỗi lòng của con nước lũ miền Tây, mà ôm lấy nó, cùng trôi suông ra biển lớn.

                                                                                 Mùa nước, 2018

                                                                                          H.V

 
     
  Cộng tác viên ( BÁO VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |