Thứ Ba, ngày 20 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Tác giả
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  14/10/2010  
  Cả đời tôi luôn luôn đi theo Đảng  
 

 Như vậy là sau ba mươi năm kể từ ngày mình tham gia cách mạng, trải qua không biết bao nhiêu gian nan, thử thách tôi đã chạm tay vào điều mình mơ ước. Đó chính là độc lập tự do của dân tộc ta.

                                                                                                                                                         (Trích) 

 
 
 

                                                                                                   Hồi ký của ông Huỳnh Nghĩa (tức Huỳnh Trung Dân

                                                                                                         – nguyên thiếu tá – Chính trị viên tiểu đoàn 502)

Năm 1944, tôi tham gia hoạt động cánh mạng ở Long Điền (nay thuộc Chợ Mới – An Giang). Năm 1947, tổ chức điều tôi về Tân Phú giữ nhiệm vụ thơ ký văn phòng Uỷ ban Kháng chiến Hành chánh huyện Chợ Mới. Tân Phú hồi đó rất rộng, thuộc tổng Phong Thạnh Thượng (gồm các xã Bình Thành, Tân Phú, Tân Thạnh, An Phong, An Phú, Phú Thành hiện nay) của quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên. Và cũng bắt đầu từ đó tôi đã gắn bó cuộc đời mình với Đồng Tháp cho đến tận bây giờ.

            Cuối năm 1946 đầu năm 1947, Tân Phú thành lập Mặt trận Liên Việt bao gồm các tổ chức, đoàn thể cứu quốc và nhiều tầng lớp yêu nước cùng chống lại thực dân Pháp càn quét và chiếm đóng trở lại. Do ta lúc đó chủ trương tìm mọi cách cản trở địch hành quân nên đường sông, tàu chiến Pháp không đánh sâu được vào Tân Phú. Chúng phải dùng bộ binh tràn vô thực hiện ba mục tiêu là : cướp sạch, phá sạch và đốt sạch. Đồng thời, sau mỗi trận hành quân, chúng còn lùa ép bà con tín đồ Hoà Hảo, Cao Đài về Mỹ Luông sống trong vùng chiếm đóng của chúng. Nhân dân Tân Phú, trừ một số bà con bị o ép phải sang Mỹ Luông, hầu như đại bộ phận còn lại đều di tản vô Láng Tượng cùng các lực lượng kháng chiến của ta vừa chiến đấu vừa sản xuất. Từ Láng Tượng đến ngọn Tân Phú ngoài lực lượng của xã ra, còn có các cơ quan của huyện, tỉnh ; các lực lượng võ  trang như bộ đội huyện, Quốc vệ đội (Đội bảo vệ tỉnh uỷ)  ; các đại đội 1027, 1029, 1030, 1032 của Trung đoàn 115… Láng Tượng những năm 1947 đến 1954 là vùng độc lập do ta kiểm soát nên từng được mệnh danh là “Việt Minh là Láng Tượng, Láng Tượng là của Việt Minh”. Chính vì nguyên nhân đó, Tân Phú trở thành một trong những mục tiêu bị địch thường xuyên đánh phá. Có nhiều lần chúng huy động cả xe Jeep, xe bọc tháp, máy bay đổ quân càn quét để đánh bật các cơ quan, lực lượng của ta ra khỏi Tân Phú. Tuy nhiên, khu Láng Tượng vẫn được giữ vững.

            Năm 1954, phần lớn vùng ngoài giáp lộ 30 của Tân Phú là vùng địch kiểm soát. Vùng hậu cứ năm sâu bên trong thuộc khu tập kết 100 ngày của ta. Trước tình hình mới, chính quyền và đoàn thể cách mạng ta tuyên bố công khai giải tán nhưng vẫn rút vào hoạt động bí mật. Hồi chín năm, đảng bộ Tân Phú có trên 170 đảng viên thì sau chín năm còn lại chưa đầy năm mươi đảng viên. Thậm chí, có lúc ác liệt nhất, Tân Phú còn lại chưa được mười đảng viên. Để tiếp tục duy trì, đảng bộ Tân Phú năm 1956, thực hiện chủ trương tinh gọn nên chuyển thành chi bộ do đồng chí Lê Văn Nghị là Bí thư. Tôi được cử làm Chi uỷ viên.

            Năm 1959, huyện uỷ Thanh Bình chuyển về đóng tại Bắc Dầu. Chi bộ xã Tân Phú  được củng cố và chia thành 2 chi bộ nhỏ là  chi bộ A và chi bộ B. Nói là nhỏ nhưng Tân Phú khi đó bao trùm lên cả khu vực rộng lớn gồm Tân Công Sính, Phú Đức, Phú Hiệp vô tận kinh Hoà Bình giáp Vĩnh Châu, bên kia thì giáp với Tân Thành, gò tre Mười Tải (Phú Cường) hiện nay. Tôi được phân công phụ trách Bí thơ chi bộ Tân Phú A gồm những đồng chí hoạt động bất hợp pháp. Chi bộ dựa vào vùng căn cứ Bắc Dầu chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển lực lượng du kích, dân quân tự vệ và hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.

            Tình hình ngày càng cam go hơn khi chính quyền Diệm thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng. Sau kế hoạch gom dân ở lập khu trù mật An Phong thất bại, chúng chuyển sang cho thí điểm khu trù mật Tân Phú. Tổ chức Đảng ở Tân Phú bị đánh phá ác liệt. Chi bộ B gồm các đồng chí hoạt động hợp pháp gần như tan vỡ. Tuy vậy, sau khi có Nghị quyết 15 của trung ương Đảng và nhất là khí thế chiến thắng Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung, Tân Phú cũng náo nức vùng lên. Tôi họp chi bộ gồm các đồng chí Hai Nghị, Sáu Sơn… bàn kế hoạch phát động Tân Phú đồng khởi. Phong trào Đồng Khởi ở Tân Phú kéo dài 3 ngày 3 đêm đã giúp cho các tổ chức Nông dân giải phóng, Phụ nữ giải phóng, Thanh niên giải phóng xây dựng được lực lượng nòng cốt để phát triển sau này.

            Cuối tháng 6/1960, tôi cùng với đồng chí Hai Nghị tiếp tục lãnh đạo lực lượng khoảng 500 người tổ chức biểu tình chống đàn áp, bắn phá và bắt lính khiến bọn tề xã hoang mang, sợ hãi không dám thẳng tay như trước nữa.

            Tháng 1/1961, MTDTGP huyện Thanh Bình được thành lập. Cuộc mít tinh chào mừng  diễn ra trong vùng giải phóng của ta ở ngọn rạch Tân Phú huy động được cả ngàn người tham gia. Trống hội múa lân, đốt pháo, cờ phướn sáng cả một đêm. Tôi được phân công giữ nhiệm vụ Chủ tịch Uỷ ban MTDTGP huyện Thanh Bình. Thế nhưng chưa bao lâu, huyện uỷ Thanh Bình cho hợp nhất hai chi bộ A và B của Tân Phú lại thành một chi bộ và điều tôi trở về nhận nhiệm vụ Bí thư chi bộ Tân Phú mới. Tôi đã cùng anh em, đồng chí củng cố và xây dựng lại phong trào đấu tranh chính trị. Tân Phú những năm 1962 – 1963 liên tục nổ ra nhiều cuộc biểu tình thu hút có khi lên đến hàng ngàn người đòi chính quyền Diệm ngưng bắn phá, không được dồn dân lập ấp thấm chí còn đưa người lên tận Sài Gòn đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh.

          Năm 1963, tôi được rút về công tác quân sự với nhiệm vụ mới là Phó bí thơ huyện uỷ kiêm chánh trị viên huyện đội Thanh Bình. Rồi sau đó chuyển sang Ban công tác chính trị của tỉnh đội. Cuối năm 1968 là chánh trị viên tiểu đoàn 502.

 

 

*

*  *

 

            Tôi về tỉnh đội Kiến Phong năm 1966 thì sang năm 1967, ta đụng phải trận 37 tàu trên kinh Nguyễn Văn Tiếp. Khi đó, tôi là Phó chủ nhiệm ban chính trị tỉnh đội phụ trách công tác chính trị tiền phương nên không trực tiếp cùng tiểu đoàn 502 chiến đấu. Mặc dù vậy, nhưng tôi cũng hình dung ra phần nào sự ác liệt của trận đánh đi vào lịch sử này.

            Năm 1968, tôi có mặt cũng tiểu đoàn 502 đánh vào biệt khu 44 và căn cứ hậu cần của chúng ở Cao Lãnh. Sau đó, tiểu đoàn tiếp tục tham gia đánh trả cuộc hành quân càn quét của địch ở Thiện Mỹ, Út Mới – chánh trị viên tiểu đoàn hy sinh. Ban chủ nhiệm tỉnh đội phân công tôi sang phụ trách thay anh. Đó là thời điểm cuối năm 1969 đầu năm 1970, khi mà tiểu đoàn 502 lâm vào tình trạng cam go và gian khổ nhất. Sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 của ta, địch tung ra nhiều đòn đánh trả. Chúng chủ động mở nhiều trận càn quét để tìm và tiêu diệt lực lượng của ta. Vùng hậu bối Kiến Văn dài từ Mỹ Long Hiệp lên đến Mỹ Xương, Mỹ Hội tiểu đoàn 502 có lúc một tháng phải chống càn đến 28 ngày. Sáng, bộ “tam sên” chúng lên quần đảo. Trực thăng “cá nóc” bay sà xuống thấp có khi đứng im một chỗ, cánh quạt quay vù vù như muốn lật tung cả mặt đất lên. Khi phát hiện ra mục tiêu của ta, khi là một cái áo đang phơi còn sót lại, khi thì những lối mòn trên cỏ hoặc mấy tấm vạt xuồng khi nhấn chìm nổi trên mặt nước là chúng lập tức oanh tạc. Trực thăng “cá lẹp” dùng hoả tiễn bắn xối xả xuồng những điểm chúng nghi ngờ. Nửa tiếng sau, máy bay trực thăng từ hướng Vĩnh Long hoặc Sa Đéc đổ quân xuống lục soát thậm chí suốt cả ngày mới chịu rút đi.

            Trước tình hình đó, Ban chỉ huy tiểu đoàn thực hiện chủ trương của tỉnh uỷ là bảo toàn lực lượng và xây dựng chiến thuật mới bằng cách phân tán lực lượng thành từng đại đội. Nơi nào ác liệt quá thì đại đội phân tán thành từng trung đội. Các chiến sĩ mỗi người được cấp phát một tấm tăng và một tấm nylon che mưa. Ngày thì ở theo từng gốc cây. Nắng lên thì nương theo bóng cây để che nắng. Tối đến dùng tăng căng ra theo kiểu cà rèm xuồng để ngủ. Cứ vậy mà cấm cự với giặc hết ngày này qua ngày khác. Tuy nhiên, việc tổn thất lực lượng, khí tài, quân trang, quân dụng là không thể tránh khỏi. Sau một trận chống càn, xuồng hư hại không vận chuyển được, anh em phải đi bộ. Nhiều khi soong nồi bị bắn bể, tối về không còn gì để nấu cơm. Chiến tranh ác liệt đến nỗi nhiều khi không có thời gian rảnh rỗi. Tôi còn nhớ có một câu chuyện giờ nghĩ lại đủ mọi trạng thái bi hài. Số là bà con Mỹ Long Hiệp thấy anh em mình thiếu ăn, uỷ lạo cho một con heo. Heo nhận về chưa kịp mừng thì phải chống càn suốt ngày này sang ngày nọ. Đi đâu cũng chở theo. Vừa đánh giặc, vừa phải bảo vệ người lại phải bảo vệ heo. Kéo dài suốt hơn nửa tháng, không có thời gian để xẻ thịt. Chừng thư thả một chút, nhìn đi nhìn lại con heo sổng dây chạy mất hồi nào không biết. Ai nấy buồn tiu nghỉu vì hụt mất một bữa ăn tươi.

            Lực lượng bổ sung cho tiểu đoàn lúc đó chủ yếu là bộ đội địa phương quân các huyện và thanh niên ba sẵn sàng chi viện từ miền Bắc vào. Anh em ở địa phương thì quen thuộc địa hình nên chỉ cần qua công tác huấn luyện cơ bản như lăn, lê, bò, trườn, phóng lựu đạn là có thể chiến đấu được ngay. Cực nhất là anh em từ Bắc vô. Dù đã được huấn luyện các kỹ thuật quân sự rất kỹ nhưng lại không thích nghi kịp với môi trường, không am hiểu địa hình nên khi tham gia chống càn luôn luôn bị động. Cực nhất là dạy anh em biết bơi (lội). Nhiều người mất cả tháng trời chưa tự mình bơi qua sông được, gặp nước là run bắn người lên. Khi chiến đấu xong, lạc đội hình lại không biết nhắm hướng tìm về, phải cử người quay lại kiếm.

            Đánh giặc đã cực như vậy. Ăn uống còn cực khổ, thiếu thốn hơn. Ba bốn tháng trời, tiểu đoàn không nhận được lương thực, nhu yếu phẩm, tiền bạc trên cấp xuống mà phải tự lực hoàn toàn. Gạo không đủ ăn ngày hai bữa thì một bữa cơm, một bữa cháo. Đơn vị nào sáng chống càn thì nấu cơm thiệt sớm, ăn no bụng rồi mỗi người một vắt mang theo với muối tiêu. Nhiều khi, đói bụng giở cơm ra ăn thì vắt cơm thấm nước rã ra thành từng hột. Đành nhịn đói chiến đấu tiếp. Khu vực kinh I hồi đó cá nhiều vô số. Bộ đội ta bắt cá nấu cháo ăn trừ cơm. Số nào ăn không hết thì đào đất làm thành cái lu rộng lại rồi nhờ cơ sở đem ra ngoài bán đổi lấy gạo. Cứ vậy làm tới mà bám trụ hết ngày này qua ngày khác.

            Lại nhớ, giao thừa năm 1970, anh em đại đội 3 của đồng chí Tuấn Kiệt phải nấu chuối ăn thay cơm chiều rồi nấu thêm một nồi chuẩn bị đón giao thừa. Dì Chín Dẫu, má vợ y tá Tâm của đơn vị vô thăm con rể nhìn thấy anh em khóc ròng. Rồi bà quày quả về ngay trong đêm chợ gạo vô tiếp tế cho bộ đội. Những tấm lòng đùm bọc, chở che, sẵn sàng san sẻ cho anh em chiến sĩ mình những năm ấy như dì Chín Dẫu không sao kể xiết. Chúng tôi, những người lính tiểu đoàn 502 hồi đó đều dựa lưng mình vào nhân dân để sống và chiến đấu.

 

 

*

*  *

 

            Tháng 5/1970, tôi được Ban chỉ huy tiểu đoàn bầu làm đại biểu chính thức đi dự Hội nghị Đại biểu tỉnh Đảng bộ Kiến Phong lần thứ I. Trong hội nghị này, tôi trúng cử tỉnh uỷ viên. Tỉnh uỷ chủ trương phải có 1/3 cấp uỷ viên phụ trách quân sự. Ban chỉ huy tỉnh đội được củng cố. Đồng chí Tám Mai phụ trách tỉnh đội trưởng, đồng chí Năm Nhượng phụ trách chính trị viên, đồng chí Năm Vinh phụ trách hậu cần, đồng chí Ba Lê Hiếu tỉnh đội phó phụ trách dân quân. Tôi được phân công phó chính trị viên tỉnh đội.

            Cuối năm 1970, Bộ tư lệnh khu 8 gọi tôi và đồng chí Ba Lê Hiếu về khu để triển khai nghị quyết mới. Tối, anh em tôi ngồi uống trà nói vui với nhau: Tụi mình đi chuyến này như Kinh Kha qua sông Dịch. Mà rõ ràng là khó khăn, nguy hiểm thật. Từ kinh I lên Hồng Ngự phải đi ngang qua kinh xáng An Long. Hai bên bờ kinh, địch rải thuốc phát hoang sâu vô cả trăm thước, trống trơn, không còn một ngọn cây, bụi cỏ. Dưới sông, hạm đội nhỏ của chúng tuần tra liên tục. Đoàn chúng tôi khi ấy, ngoài giao liên, điện đài, bảo vệ và một số đồng chí hệ dân chánh đảng quá giang về khu tổng cộng khoảng 10 xuồng, mỗi xuồng 3 người. Đêm tranh thủ đi, ngày tản ra tránh sự tuần tra, lùng sục của giặc. Suốt gần ba đêm thức trắng mới đến kinh 61 giáp với Kiến Tường. Anh em bên tổ điện đài khi đi lúc nào cũng cảnh giác, luôn mở máy truyền tin theo dõi tình hình địch ở phía Kiến Phong. Nào ngờ, những thông tin bên phân khu 41 của chúng anh em không nắm bắt kịp. Đoàn vừa đến đầu kinh 61 thì đụng phải trận càn lớn của bọn phân khu 41, có cả trực thăng yểm trợ. Có lẽ, chúng phát hiện ra dấu vết của ta trước đó nhưng mình không nhận ra. Cả đoàn tản ra, nhận xuống và men theo những vạt tràm hai bên bờ kênh lội sâu vào bên trong tránh địch. Lúc đó, khoảng tháng 10 âm lịch nên nước trên ruộng còn rất nhiều. Có nơi đứng lút đầu. Phải bám vào những cọng cỏ mồm để ngoi lên thở. Ba anh em giao liên bị chúng bắn chết tại chỗ. Số anh em khác bị chúng bắt tra tấn chịu không nỗi nên khai ra tôi và anh Ba Lê Hiếu. Xà quần với chúng tới chiều, anh Ba Lê Hiếu trốn khỏi, còn tôi bị chúng bắt.

            Bọn địch bắt được tôi lập tức đưa ngay về Cần Thơ khai thác. Điều tra tới lui từ Sài Gòn xuống Cần Thơ rồi lên Sài Gòn, suốt ba tháng liền tôi phải sống biệt giam trong phòng tối không thấy ánh sáng. Chừng thấy không khai thác được, chúng đưa tôi ra ngoài để chuẩn bị hồ sơ giải ra nhà từ Hàng Dừa ở Phú Quốc. Mấy ngày đầu mới ra trại tạm giam để chờ ngày đưa đi, hai mắt tôi nhìn đâu cũng lờ mờ tưởng chừng hư luôn. May thay, từ từ rồi mắt tôi cũng sáng lại. Đảng uỷ nhà tù Cần Thơ biết tôi được ra khỏi phòng biệt giam lập tức bắt liên lạc. Đồng chí Nguyễn Chân – Bí thư Đảng uỷ nhà tù Cần Thơ (sau ngày miền Nam giải phóng là thiếu tướng) cho triệu tập một cuộc nhờ tôi báo cáo lại cho anh em trong tù toàn bộ nội dung Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng. Cuộc họp trong nhà tù Cần Thơ hôm đó tôi còn nhớ có Muôn (tức Nguyễn Thái Dũng – nguyên Giám đốc Sở Lao động Thương binh Xã hội tỉnh Đồng Tháp) và Tám Kiển (tức Phạm Hồng Kiển – nguyên Giám đốc Đài Phát thanh Truyền hình Đồng Tháp) làm thư ký để ghi chép những nội dung tôi triển khai làm tài liệu cho anh em ta trong tù.

            Một tuần lễ sau, chúng đưa tôi lên máy bay đi Phú Quốc. Mặc dù biết rằng ra đó là mười phần chỉ còn một phần sống trở về nhưng trong lòng tôi không hề sợ hãi. Trước khi bị đày ra Phú Quốc một ngày, nhân có buổi thăm nuôi cho tù nhân ở trại giam Cần Thơ, Đảng uỷ nhà tù đã tổ chức buổi tiệc chia tay ngay tại nhà nấu ăn của trại giam. Sau khi nghe tôi phát biểu những tâm huyết của mình. Lâu quá rồi quên nhưng đại khái lúc đó tôi nói mình là người của Đảng, sống cũng là người của Đảng, chết cũng là người của Đảng. Sau buổi liên hoan, Đảng uỷ nhà tù giao cho tôi ám hiệu để bắt liên lạc với Đảng uỷ nhà tù Hàng Dừa. Lúc đó, lòng tôi như ấm lại. Trước cái chết đang chực chờ trước mặt nhưng tôi không hề thấy mình cô đơn. Anh em đồng chí vẫn còn tin tưởng tôi, Đảng vẫn thấu hiểu tấm lòng trung kiên của tôi đối với Đảng.

            Chiếc máy bay hạ cánh xuống sân bay Phú Quốc. Những người tù cộng sản chúng tôi vừa bước chân chạm đất đã bị một trận đòn xối xả. Dùi cui, roi mây, gậy gộc bọn chúng đánh vào chúng tôi từ mọi phía. Đòn phủ đầu ngay khi bước chân vào nhà tù Hàng Dừa của bọn cai ngục nơi đây khiến tôi cảm thấy mình càng phải kiên cường hơn, gan lì hơn để chống chọi lại bọn chúng. Một năm sau khi bị đày ra Phú Quốc, tôi được anh em bầu giữ chức vụ Bí thư chi bộ nhà tù tỉnh Kiến Phong, rồi bí thư Liên chi bộ nhà tù các tỉnh Tây Nam Bộ và cuối cùng là Phó Bí thư Đảng bộ Nhà lao Hàng Dừa. Có thể nói, đây là những năm tháng mà tình cảm đồng chí, đồng đội thắm thiết hơn bao giờ hết.

            Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, tôi được nằm trong danh sách những người thuộc diện trao trả tù binh. Sau khi xác minh, thẩm tra lại toàn bộ những hoạt động của mình trong thời gian bị địch bắt giam, đại tá Lương Tuấn Khang thay mặt Thường vụ Quân uỷ Quân khu Tả ngạn ký quyết định công nhận liên tục tuổi quân, tuổi Đảng cho tôi trong thời gian bị địch bắt. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Thêm một lần nữa Đảng hiểu được lòng tôi. Và chính nhờ niềm tin son sắt của mình vào Đảng, vào cách mạng đã giúp tôi có thêm nghị lực để vượt qua tất cả những gian khổ trong thời gian bị tù đày.

            Tôi được học tập và điều trị ở miền Bắc hơn 8 tháng. Đầu năm 1974, anh em thuộc diện trao trả tù binh như chúng tôi thành lập Đoàn trở về miền Nam khoảng 400 người. Đoàn chia ra nhiều trung đoàn. Tôi được phân công nhiệm vụ chính trị viên của Đoàn. Cuối năm 1974, chúng tôi về đến Trung ương Cục miền Nam đóng ở suối Tha La (Tây Ninh). Đầu năm 1975, tôi  về lại khu 8 nhận nhiệm vụ phái viên chính trị của Phòng tuyên huấn - Cục chính trị khu 8. Lúc này, tình hình chiến trường miền Nam đang nóng lên từng ngày. Tin tức chiến thắng từ ngoài kia mỗi lúc mỗi khiến cho chúng tôi bừng bừng khí thế vùng lên giải phóng quê hương mình. Cục chính trị khu 8 phân công tôi là phái viên chính trị của khu xuống trực tiếp cùng với Ban chỉ huy Trung đoàn 1 đang nhận nhiệm vụ chiếm giữ đoạn quốc lộ 1A từ ngã ba Trung Lương xuống Bắc Mỹ Thuận để cắt đứt con đường tiếp viện từ Cần Thơ lên Sài Gòn. Lúc đó đã là tháng 3 năm 1975. Vậy mà, hàng ngày trên đoạn đường này, cuộc chiến đấu giằng co giữa ta với địch vẫn còn ác liệt. Đêm ta ra đánh chiếm. Ngày chúng chi viện lực lượng đánh bật ta ra khỏi địa hình. Cứ như vậy hơn chục ngày ròng rã. Bên ta thương vong cũng không phải ít. Bản thân tôi lúc đó luôn bám sát Ban chỉ huy trung đoàn để cùng anh em vạch ra chiến lược và kịp thời động viên các chiến sĩ cố gắng thực hiện bằng được nhiệm vụ của mình. Cuối cùng thì Trung đoàn 1 cũng đứng chân được ở đây.

            Trưa 30/5/1975, sau khi hay tin tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, tôi cùng cả Trung đoàn 1 chạy bộ từ Trung Lương lên giải phóng Tân Hiệp ngay chiều tối hôm đó. Rồi lại cùng Trung đoàn chạy vòng về giải phóng Mỹ Tho rựng sáng ngày 1/5/1975. Hai ngày sau thì tiếp quản luôn căn cứ huấn luyện Đồng Tâm. Đến giờ phút đó, tôi thật sự trút đi gánh nặng trong lòng mình vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của một phái viên chánh trị của khu ở trung đoàn. Tâm trạng của tôi lúc đó lâng lâng không sao tả được. Như vậy là sau ba mươi năm kể từ ngày mình tham gia cách mạng, trải qua không biết bao nhiêu gian nan, thử thách tôi đã chạm tay vào điều mình mơ ước. Đó chính là độc lập tự do của dân tộc ta.

                                                                                                                   

 
     
  Hữu Nhân ( Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • TRANG THƠ VNĐT (16/11/2018)




  • SỐNG VỚI ĐAM MÊ (16/11/2018)









  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)





  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |