Chủ Nhật, ngày 23 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Tác giả
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  23/03/2013  
  Nghĩ về văn xuôi Đồng Tháp hai mươi lăm năm cuối thế kỷ XX  
 

 Văn học Đồng Tháp hai mươi lăm năm cuối thế kỷ XX được hình thành và phát triển trên nền tảng kế thừa văn học thời kháng chiến. Trong bài viết này xin được đề cập đến hai thể loại: Truyện ngắn và tiểu thuyết. Bởi vì bất cứ một nền văn học nào cũng được hình thành từ nhiều thể loại đặc trưng của văn học như: Thơ, lý luận phê bình, bút ký, phóng sự, tiểu thuyết, truyện ngắn…nhưng hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết có vị trí đặc biệt bởi sự phản ánh hiện thực và sáng tạo có tính lịch sử, điển hình và khái quát cao.

 
 
 

    Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng cộng sản và nhân dân Việt Nam được kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 30-04-1975 chấn động địa cầu, sau hai mươi mốt năm đất nước bị chia cắt đã hoàn toàn độc lập, tự do. Ngày 30-04-1975 là biểu tượng của hòa bình, thống nhất và dựng xây chủ nghĩa xã hội. Đó không những là mệnh lệnh thôi thúc dân tộc tiến lên xây dựng một xã hội mới công bằng, dân chủ và văn minh mà còn là đề tài rộng lớn, đa dạng, là cảm xúc thời đại để văn học nghệ thuật phản ánh và sáng tạo. Do đó, văn xuôi Đồng Tháp hai mươi lăm năm cuối thế kỷ XX khẳng định là được hình thành trên dòng cảm xúc nhân văn ấy và trở thành dòng cảm xúc chủ đạo từ sự kiện thời đại 30-04-1975!

    Một dân tộc chiến thắng, đối với kẻ thù, đối với những người lầm lỗi mà có một số người mơ hồ, hoài nghi chờ đợi sự tắm máu của người chiến thắng, hay sự ruồng bỏ đối với những con người lỗi lầm, nhưng điều đó không bao giờ xảy ra, mà người chiến thắng với ngọn cờ chủ nghĩa nhân đạo cao cả, sáng ngời tinh thần nhân văn của người cộng sản được khắc họa trong truyện ngắn “ Hạnh phúc” của Huỳnh Công Trường ( Nguyễn Huỳnh Hiếu) và “ Kẻ tử thù của tôi” của Nguyễn Trọng Quí. Nhân vật trong “ Hạnh phúc” là một cô gái có nhiều lầm lỗi trong xã hội cũ, đón chào ngày 30-04-1975 trong sự bi quan, bế tắt đã được  cách mạng cứu chữa và trả lại quyền làm mẹ, được tạo lập sự nghiệp ở một vùng đất mới được hồi sinh. Hình tượng cô gái trong truyện không chỉ là một cô gái mà là tất cả những ai có lỗi lầm trong chế độ cũ đều được cách mạng-ngày 30-04-1975 giải phóng! Chủ nghĩa nhân văn của người cộng sản được khái quát cao cả một lần nữa qua hình tượng người thanh niên muốn trả thù kẻ đã giết cha mình- một chiến sĩ cách mạng- rất tàn bạo là bị mổ sống! Trong “ Kẻ tử thù của tôi” sự dồn nén  trả thù lên đến đỉnh điểm khi tên giết người đang trong cơn say. Con dao trong tay người thanh niên đã sẵn sàng khi điều kiện  đã rất gần ở một khúc vắng chỉ có hai người. Có thể việc giết người này xảy ra không ai hay biết, hoặc nếu thiên hạ có hay biết thì người ta cũng ngầm đồng tình vì kẻ giết người tất nhiên phải bị trả giá! Nhưng sự thôi thúc giết người của người thanh niên lại trở thành người dìu dắt, giúp đỡ một kẻ nát rượu về nhà một cách an toàn. Thực tế bản thân người thanh niên  muốn trả thù nhưng lý trí và lương tâm anh lại hướng về chủ nghĩa nhân đạo, muốn xóa bỏ hận thù! Long nhân đạo ấy bắt nguồn từ truyền thống của một dân tộc anh hùng và luôn luôn hành động hướng về chính nghĩa. Đó là chân lý, là bản chất vốn có của người Việt Nam được kế thừa từ thế hệ của thời đại này qua thế hệ của thời đại khác.

    Hòa bình lập lại, hạnh phúc chung riêng, trong đó có hạnh phúc gia đình, vợ chồng bao năm xa cách, đợi chờ. Niềm vui sum họp đó đã đem lại cho những người may mắn trọn vẹn, choáng ngợp đến không ngờ! Nhưng cũng không ít người, không ít gia đình, người vợ khi họ trở về thì mái ấm xưa, hạnh phúc bao năm chờ đợi làm họ hụt hẫng, đau khổ vì không còn nguyên vẹn như lúc ra đi. Có người vợ, người chồng, người yêu trước cảnh ngộ éo le dậy lên cảm xúc bản năng cá nhân của con người. Họ cũng ghen tuông, hờn giận. Rồi khi cảm xúc nhất thời đi qua, họ thông cảm, khóc cười, ngậm ngùi chấp nhận. Có người nhường nhịn hạnh phúc cho nhau, có người chấp nhận, cầu mong cho người mình yêu được hạnh phúc, nhận về mình phần thiệt thòi. Bi kịch đó xét cho cùng không phải  do người đàn ông hay đàn bà mà là do chiến tranh chia cắt. Bi kịch hạnh phúc gia đình bởi chiến tranh  được nhiều tác giả đề cập qua các truyện ngắn: “ Dấu vết chiến tranh”, “ Trái tim Tháp Mười” của Trần Thị Hoàng Anh; “Mùa bông điên điển năm xưa” của Đinh Thành Nam; “Dòng sông đêm lặng chảy” của hồ Tĩnh Tâm…

    Đón nhận cách mạng, đón nhận chế độ mới, niềm vui sum họp, bi kịch chiến tranh…; việc làm sau đó là là mọi người bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới, hàn gắn vết thương chiến tranh. Cuộc sống mới tuy không còn tiếng súng nhưng còn nhiều khó khăn, thiếu thốn đã nảy sinh so đo hơn thiệt giữa những người cống hiến và hưởng thụ. Mảng đề tài ca ngợi truyền thống đấu tranh anh hùng, sự hy sinh của các thế hệ cha anh là nguồn cảm xúc của văn nghệ sĩ để mọi người lấy đó làm gương sống vì lý tưởng cao đẹp, hòa mình vào xã hội, cộng đồng lao động xây dựng quê hương qua các truyện ngắn: “Chuyện bên hố bom” của Nguyễn Đắc Hiền, “ Bên hàng gáo” của Nguyễn Nam, “ Đám cưới đầu xuân”, “ Hai chị em” của Lê Ngọc, “ Điều em đã hiểu” của Huỳnh Công Trường, “ Bến xưa” của Quỳnh Anh, “ Tinh sổ” của Trần Thị Hoàng Anh…

    Tái hiện lại cuộc chiến đấu anh hùng của quân dân Đồng Tháp để thế hệ sau hiểu được những hy sinh gian khổ, để có hòa bình, để sống và tự hào! Tiểu thuyết “ Bông mận trắng” của Nguyễn Nam đã nêu lên cái vĩ đại của con người Đồng Tháp, cái anh hùng của nhân dân Hòa An, nơi chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên ra đời đã làm cho bọn cố vấn Mỹ xâm lược phải khiếp sợ tinh thần chiến đấu anh dũng, cảm tử của những người cộng sản. Suy cho cùng, cuộc chiến đấu đó đã phân định rõ ràng chính tà: Chính nghĩa thì được lòng dân, được nhân dân đùm bọc, che chở nên giành được thắng lợi. Còn Mỹ-Ngụy là phi nghĩa, bọn chúng phải đối đầu với cuộc chiến tranh nhân dân, vì vậy bọn chúng thất bại thảm hại là lẽ đương nhiên. Cùng đề tài này có truyện ngắn “Viên đạn ba mươi năm” của Vân Sinh đã nêu lên tấm gương khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Ngợi ca truyền thống, tự hào quá khứ hào hùng, truyện ngắn “ Người dạy hát Quốc ca” của Thai Sắc là một tác phẩm gây được ấn tượng. Một người lính bị thương trong chiến tranh, tại cơ sở quân y dã chiến thiếu thốn phương tiện phẫu thuật, bác sĩ dùng cưa thợ mộc cắt bỏ một phần thân thể người mà không có thuốc gây mê. Trong suốt cuộc phẫu thuật, để vượt qua đau đớn khủng khiếp, người lính đã hát bài Quốc ca. Thật dịu kỳ, chính bài Quốc ca đã giúp người lính vượt  qua một ca phẫu thuật ngoài sức chịu đựng của con người. Từ đó trong hồn ông mãi mãi vang lên bài hát hào hùng, thiêng liêng ấy. Bài hát Quốc ca không chỉ là bài hát mà  còn là hồn thiêng sông núi được tạo nên từ máu đỏ da vàng của người Việt Nam, là biểu tượng của niềm tự hào dân tộc, là chân lý, là niềm tin của mỗi con người.

    Chiến tranh biên giới Tây Nam được nhiều tác giả quan tâm sáng tác. Đất nước đang hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới. Một dân tộc khát khao hòa bình, vừa giành được độc lập tự do trọn vẹn, tưởng đâu  được bình yên xây dựng lại quê hương thì cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam do bọn diệt chủng Pôn-Pốt gây ra mà Đồng Tháp có năm mươi hai cây số đường biên giới giáp với nước Campuchia. Trước sau như một, trong chiến tranh hai nước, hai dân tộc từng kề vai sát cánh chống quân xâm lược, cùng hưởng hòa bình. Nay khi bạn gặp hiểm họa, một lần nữa, người lính Việt Nam thể hiện sáng ngời tinh thần quốc tế vô sản, giúp bạn giải phóng đất nước khỏi họa diệt chủng dù có hy sinh xương máu, trong lúc đất nước đang thắt lưng buột bụng, hàn gắn vết thương chiến tranh. Hình ảnh cao cả đó như một chân lý tất nhiên xóa mờ sự xuyên tạc, bôi nhọ của kẻ thù! Hình tượng người chiến sĩ Việt Nam có những hoàn cảnh, chi tiết khác nhau nhưng đều toát lên tinh thần hy sinh sáng ngời qua các truyện ngắn: “Tình yêu”,” Không thể nào quên” của Huỳnh Công Trường; “ Câu chuyện người lính” của Nguyễn Nhân; “Quý hơn bạc vàng”  của Bùi Quý khiêm…

    Từ những năm 1985, ước mơ biến Đồng Tháp Mười thành một vùng trù phú, ý tưởng khai thác tiềm năng Đồng Tháp Mười đã thành hiện thực. Cuộc tiến công  vào Đồng Tháp Mười thực sự đánh thức một tiềm lực kinh tế to lớn của khu vực  và cả nước, khắc phục kịp thời việc thiếu thốn trầm trọng lương thực  của một đất nước, một vùng đất vốn có thế mạnh nông nghiệp là cây lúa, bởi trong một thời gian dài trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu. Sự kiện này được xem như một “cuộc chiến” chống đói nghèo trong thời bình để chứng minh chủ nghĩa xã hội là một quy luật của sự phát triển xã hội loài người. Từ sự kiện này mở ra sự thay đổi toàn diện trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa-xã hội ở một vùng đất vốn bị chiến tranh tàn phá rất khốc liệt và sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Và đã có biết bao tầng lớp con người hy sinh cuộc sống đầy đủ ở đô thị hoặc có chí lớn muốn góp phần xây dựng quê hương. Nổi bật trong đề tài này là các truyện ngắn: “Nền móng”, “Con đường vùng sâu” của Nguyễn Đắc Hiền; “Tiếng đàn dưới chân Gò Tháp”, “Vụ mùa giáp tết” của Trần Quốc Toàn; “Người ở nông trường” của Thai Sắc…

    Năm 1986, sự trì trệ của nền kinh tế bao cấp kéo dài đã không còn phù hợp sự phát triển. Để đất nước thoát khỏi khủng hoảng toàn diện về kinh tế trước bức xúc thực tiễn của nhân dân, Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới, đưa đất nước dần dần thoát khỏi khủng hoảng về kinh tế. Cùng với công cuộc đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được vận dụng, đất nước thật sự chuyển sang một thời kỳ mới, để vững bước đi vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ xây dựng công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Thời kỳ này, bên cạnh các ưu điểm, mặt trái của cơ chế thị trường bộc lộ, sự phân hóa giàu nghèo, chủ nghĩa cơ hội, ham thích quyền lực, sự đấu tranh giữa cái xấu xa và cái tốt đẹp đan xen ngày một sâu sắc để giữ gìn truyền thống dân tộc đối với chủ nghĩa thực dụng, hưởng thụ, suy thoái đạo đức…diễn ra trong cuộc sống đời thường đến các tổ chức trong xã hội. Truyện ngắn thời kỳ này nở rộ cả về số lượng và chất lượng. Đó là các truyện ngắn: “Trong mắt trẻ”, “Tâm tư” của nguyễn Đắc Hiền; “Điều không tưởng” của Phước Giang; “Suất hát đêm giao thừa” của Trần Quốc Toàn; “Cái hầm năm xưa” của Công Đoàn; “Những người áo trắng” của Đỗ Quyên; “Ánh trăng” của Phạm Thị toán… Văn xuôi thời kỳ này một số tác giả có sự tìm tòi trong bút pháp thể hiện, nâng lên tầm triết lý cả trong chủ đề cốt truyện và ngôn ngữ văn học: “Phía sau một đời người”, “Chuyện con người”, “Ma và người” (Truyện vừa) của Nguyễn Huỳnh Hiếu (Huỳnh Công Trường); “Trò chơi kỳ lạ”, “Cây dầu biết nói” của Vân Sinh; “ Mơ” của Trần Thị Hoàng Anh; “ Bức họa ấy có ma” của Nguyễn Trọng Quí…Linh Hiền có truyện “Mùa cá linh” chắc tay, nhập cuộc với cuộc sống bươn chải hàng ngày của người nông dân vùng biên giới đầu nguồn Đồng Tháp.

    Đề cập đến sự khắc nghiệt của thiên nhiên trong mùa nước nổi, những năm nước lụt khủng khiếp, sinh hoạt của con người hết sức khó khăn, trong mùa nước lụt việc chôn cất người chết là một vấn đề thương tâm cho người sống của Đồng Tháp Mười xưa nay. Truyện ngằn “Mùa gác chéo” của Tùng Thiện khắc họa được một chi tiết đắt về vấn đề trên nhưng trong một vài chi tiết hư cấu có hơi cường điệu nên làm giảm cảm xúc nơi người đọc.

    Quan tâm đến số phận của người phụ nữ đi qua chiến tranh, qua thời xuân sắc, cô đơn giữa trách nhiệm bộn bề, mong muốn có một đứa con để xóa nỗi cô độc. Việc không chồng mà có con thời kỳ này là điều khó chấp nhận trong cộng đồng đối với những người phụ nữ bình thường, huống chi đây là một đảng viên! Vậy mà có một phụ nữ đảng viên đã làm việc đó và bị không ít dư luận phản ứng được Nguyễn Quang Ngọc cảm thông trong truyện ngắn “Dưới ánh trăng Đồng Tháp Mười”. Lê Kiều Diễm cũng có truyện ngắn “Như cành hoa mua” nói về sự bất hạnh của người phụ nữ đi qua chiến tranh có được hạnh phúc với chồng và con nhưng chất độc màu da cam trong người chị đã cướp đi niềm hạnh phúc khi hai đứa con lần lượt bỏ lại chị với nỗi đau không gì bù đắp được…

    Cùng với thế hệ văn nghệ sĩ đi trước, các tác giả trẻ xuất hiện với những trăn trở đối với cuộc sống xã hội của thế hệ mình: Nguyễn Hữu Nhân với truyện ngắn “Gốc mai già”, Nguyễn Phạm Đình Thảo với tập truyện ngắn “Lối thu xưa”, Nguyễn Phước Thảo với truyện dài “Em và ký túc xá của tôi”, Nguyễn Thị Kim Tuyến với truyện ngắn “Đất”, rồi thêm Minh Hoàng, Nguyễn Trọng Quế…

    Văn xuôi Đồng Tháp không thể không kể đến những tác giả ngoài tỉnh dày dạng kinh nghiệm, là những nhà văn nổi tiếng hoặc rất quen thuộc với người đọc cả nước, là những người có gắn bó với Đồng Tháp ít nhiều, có những kỷ niệm đáng nhớ với quê hương Đồng Tháp. Đó là nhà văn Nguyễn Quang Sáng với tiểu thuyết “Mùa gió Chướng” , nhà văn Nguyễn Khải với tiểu thuyết “Vòng sóng đến vô cùng”, Dạ Ngân với truyện ngắn “Vườn cổ”, “Đất phương Nam” của Phạm Đình Trọng, “Thuốc xiêm mẵn Cao Lãnh” của Trần Kim Trắc, “Người đàn bà bên dòng nước đổ” của Mai Văn Tạo, “Dòng sông đêm lặng chảy” của Hồ Tĩnh Tâm…, hay những tác giả mới khác như Dương Minh Tâm với “Khui đìa ăn tết”, Thảo Bích với “Em bé Đồng Tháp Mười”…

Đặc biệt, văn xuôi Đồng Tháp được đón nhận tiểu thuyết “Người tình” của nhà văn nữ Pháp Marguerit Duras, tác phẩm đạt giải Goncourt- một giải thưởng uy tín của nước Pháp đã được dựng thành phim nổi tiếng cùng tên. Tác phẩm đề cập đến chuyện tình của cô gái Pháp với một địa chủ ở Sa Đéc, trong đó phản ánh đời sống gia đình công chức nhỏ Pháp làm việc tại Sa Đéc.

**

*

    Nhìn lại đội ngũ sáng tác văn xuôi Đồng Tháp (Những tác giả có hộ khẩu tại Đồng Tháp) hai mươi lăm năm cuối thế kỷ XX, một đặc điểm dễ dàng nhận ra họ chỉ là những người sáng tác nghiệp dư hoặc kiêm nhiệm một công việc nào đó, vì vậy hoạt động sáng tác chỉ là tay trái, xuất hiện tác phẩm không nhiều. Có những tác giả chỉ xuất hiện một hai tác phẩm rồi im lặng. Còn những tác giả viết nhiều hơn cũng chỉ tập hợp một đến hai tập truyện ngắn, chỉ thể hiện ở số lượng. Đặc biệt, thể loại tiểu thuyết thật sự hiếm, thậm chí chưa có tác giả, tác phẩm nào tạo cho mình một sở trường một phong cách riêng của tác giả-nhà văn chuyên nghiệp.

    Kết luận, đội ngũ tác giả và tác phẩm văn xuôi Đồng Tháp hai mươi lăm năm cuối thế kỷ XX đã có diện mạo bước đầu trong cuộc “Khẩn hoang” trên “Mảnh đất” văn học rộng lớn, đa dạng. Nhưng hai mươi lăm năm cuối thế kỷ XX, khách quan nhìn nhận, Đồng Tháp vẫn còn thiếu trong việc định hướng lâu dài, nói đúng hơn là thiếu chiến lược cho sự ra đời của những tác phẩm có giá trị. Chẳng hạn như trong chiến tranh giải phóng dân tộc, những hy sinh mất mát quá lớn, nảy sinh những tấm gương anh hùng để cuộc sống hòa bình với những sự kiện chấn động cả nước như trận chiến thắng Giồng Thị Đam- Gò Quản Cung, trận đánh tàu trên sông Rạch Ruộng, Xẻo Quýt- căn cứ của lòng dân…, đặc biệt là sau giải phóng, công cuộc xây dựng quê hương mà sự kiện tiến công vào Đồng Tháp Mười là một trong những sự kiện đã làm thay đổi đời sống của người vùng sâu, việc tăng vụ lúa góp phần thoát khỏi cuộc khủng hoảng lương thực khu vực và cả nước, làm đổi đời toàn diện quê hương vốn bị chiến tranh khốc liệt  cũng như thiên nhiên khắc nghiệt…hay ý tưởng sống chung với lũ lụt- một ý tưởng độc đáo- biểu hiện sự kiên cường của con người Đồng Tháp Mười cùng thiên nhiên chung sống, tồn tại và phát triển… chưa thấy xuất hiện tác phẩm náo tái hiện, sáng tạo và khái quát hiện thực lịch sử, con người vốn đã là những tác phẩm văn học lớn của thời đại. Đó là bức xúc lớn nhất của văn học Đồng Tháp mà trách nhiệm nặng nề thuộc về các nhà quản lý văn học nghệ thuật và văn nghệ sĩ Đồng Tháp.

Đồng Tháp năm 2001

Trung Thu
 
     
  Nguyễn Huỳnh Hiếu ( VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)








  • THƯ CẢM ƠN! (19/08/2018)

  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |