Thứ Sáu, ngày 18 tháng 10 năm 2019        
     
 
   Tác giả
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  23/07/2019  
  Minh Luân – Một nghệ sĩ tài hoa, người chiến sĩ cách mạng kiên trung của quê hương Đồng Tháp  
  Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đoàn Văn công Tiền Giang tỉnh Kiến Phong - nay là Đoàn Văn công Đồng Tháp, được sự nuôi dưỡng, đùm bọc của nhân dân tỉnh nhà, đã xây dựng nên một đội ngũ văn nghệ sĩ tài năng phục vụ kháng chiến. Đoàn là đứa con yêu quý của nhân dân, là đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp có tầm cỡ so với các tỉnh bạn trong cùng thời kỳ ấy. Đã cung cấp nhiều lớp nghệ sĩ tài năng cho Đoàn văn công giải phóng miền Nam (R)  và Đoàn Văn công khu Trung Nam bộ (T2), mà Minh Luân là một trong những nghệ sĩ tài năng đó.  
 
 



Liệt sĩ Minh Luân.JPG

Liệt sĩ Minh Luân

Minh Luân tên thật là Lê Văn Bửu, sinh năm 1938, tại xã Ba Sao, huyện Cao Lãnh, trong một gia đình có truyền thống cách mạng và hoạt động nghệ thuật. Cha ông là nghệ sĩ đàn bầu (độc huyền), giới nghệ sĩ thường gọi là Năm Bá. Cùng thời với nghệ sĩ Thanh Nha, Mười Đờn, Năm Phàn, Út Du… tham gia kháng chiến chống Pháp, được đi tập kết ra Bắc năm 1954.

Minh Luân lớn lên cùng với phong trào cách mạng ở quê hương Cao Lãnh. Tham gia hoạt động bí mật từ thời Ngô Đình Diệm cai trị miền Nam. Sau khi Đoàn Văn công Tiền Giang tỉnh Kiến Phong thành lập năm 1960, Minh Luân được điều động về Đoàn với vai trò là đạo diễn, tác giả và diễn viên. Năm 1962 ông là Phó Đoàn Văn công, chỉ đạo nghệ thuật sân khấu. Do Đoàn Văn công là đơn vị nghệ thuật tổng hợp, nên lĩnh vực tân nhạc do nhạc sĩ Tâm Lực phụ trách.

Là phó Đoàn Văn công tỉnh, Minh Luân luôn chú trọng việc lãnh đạo tổ chức, tư tưởng, đào tạo chuyên môn cho lực lượng diễn viên sân khấu, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nghệ sĩ và là thành viên của đội vũ trang Đoàn Văn công. Ông là một trong số ít người gài lựu đạn giỏi của đoàn.

Là tác giả, Minh Luân chịu trách nhiệm cung cấp tiết mục trong các chương trình biểu diễn của Đoàn. Những vở cải lương “Táo quân chầu trời” mà Đoàn biểu diễn hàng năm trong dịp Tết Nguyên đán từ năm 1963 đến năm 1967, phần lớn là do Minh Luân sáng tác. Ngoài ra, ông là tác giả chuyên sáng tác tiết mục tấu hài để châm biếm kẻ địch, trong đó có một số tiết mục mà tôi còn nhớ như: “Yên hùng của Mỹ”, “Mỹ - ngụy kỵ gió Đông - Xuân”… được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt.

Là đạo diễn, tất cả các tiết mục cải lương, tấu hài, ca cổ của đoàn đều do ông dàn dựng, trong đó có những tiết mục: Vở cải lương Phạm Ngũ Lão, năm 1964; Tình phụ tửAnh sui, chị sui, năm 1965; Tía má ơi ở lạiChông gài sai chỗ, năm 1966; Chiếc máy đuôi tôm, đầu năm 1967. Cùng nhiều tiết mục ca cổ, tấu hài khác: Giôn - Xơn lên cơn điên, Chiếc áo cuối cùng, Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, Cánh đồng Nọc Nạn, Lô - cốt trưởng Đầm Dơi

Là diễn viên, ông có năng khiếu đóng vai kép độc, tấu hài, nổi tiếng với những tiết mục: “Ha - Kin sa lầy”, “Lời người say”… Minh Luân còn tham gia biểu diễn nhiều điệu múa, trong đó có tiết mục: Soi gương (cùng anh Văn Sáu) đã tạo ấn tượng sâu đậm trong lòng khán giả thời gian này. Ngoài ra, ông còn là một nhạc công trong dàn nhạc hòa tấu của đoàn, sử dụng thành thạo hai loại nhạc cụ là Tây –ban - cầm và Măng-đô-lin.

Năm 1967, Minh Luân được khu Trung Nam bộ tuyển chọn rút lên Đoàn Văn công Giải phóng Khu (T2) với nhiệm vụ là phó Đoàn Văn công làm công tác đạo diễn. Năm 1970, Minh Luân với vai trò là Trưởng Đoàn Tuyên truyền Văn nghệ Xung kích, hướng dẫn một bộ phận của Đoàn Văn công Giải phóng T2 (Khu Trung Nam bộ) đi chiến trường tỉnh Kiến Phong - nay là Đồng Tháp. Đêm 25/5/1970, khi đơn vị lội (bơi) qua kinh Xáng An Long bị đoàn tàu Mỹ phục kích, chỉ có vài ba người chạy thoát, còn hầu hết các đồng chí trong đoàn đều hy sinh và bị địch bắt. Riêng đồng chí Minh Luân bị thương nặng phải “chém vè”  tại chỗ (chém vè là núp trong lùm bụi như lục bình hoặc cây cỏ rậm rạp). Sáng hôm sau, bọn Mỹ tiếp tục lùng sục và bắt được ông. Theo lời kể của bà con ta ở vùng xảy ra chiến sự: “Khi bắt được ông, bọn Mỹ dụ dỗ và tra tấn hòng buộc ông đầu hàng, khai báo. Ông kiên quyết không khuất phục. Bọn chúng đã giết ông rất dã man, dùng dây buộc vào cổ ông kéo theo sau tàu Mỹ, chạy dọc kinh Xáng An Long, để uy hiếp tinh thần nhân dân ta”. Do đó, hài cốt của ông đến nay không tìm được.

Với công lao cống hiến và tài năng của ông, năm 1999 nghệ sĩ Minh Luân được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương ký tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì và Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Năm 1978 Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký bằng Tổ quốc ghi công, công nhận ông là liệt sĩ (bà Thái Thị Hiếm, vợ Minh Luân, cán bộ y tế xã Ba Sao trong kháng chiến chống Mỹ được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Lê Đức Anh ký tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, năm 1997).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đoàn Văn công Tiền Giang tỉnh Kiến Phong, nay là Đồng Tháp - là đơn vị nghệ thuật nổi tiếng của tỉnh, luôn được cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tỉnh nhà yêu mến, hâm mộ. Trong đó có sự đóng góp xứng đáng công lao và xương máu của nghệ sĩ Minh Luân. Đội ngũ văn nghệ sĩ cùng thời luôn kính trọng, xem ông là một trong những người anh cả và là ngôi sao sáng trong bầu trời sao trên lĩnh vực nghệ thuật sân khấu của quê hương Đồng Tháp.

Ngày 16/7/2019

Thanh Tùng

 

 
     
  Cộng tác viên ( BÁO VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |