Thứ Bảy, ngày 26 tháng 5 năm 2018        
     
 
   Tác giả
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  11/04/2011  
  Vấn đề bảo tồn các làng tranh dân gian Việt Nam  
 

Trong xu hướng phát triển đa dạng hóa các loại hình nghệ thuật, các trường phái nghệ thuật trên thế giới ngày càng xuất hiện nhiều ở Việt Nam. Ranh giới, sắc màu của các dân tộc, dễ bị bị xóa nhòa. Người ta không còn phân biệt đâu là nghệ thuật dân tộc Châu Âu, Châu Á,… “ từ đó nghệ sĩ ngày càng xa rời cội nguồn, sáng tác trôi giạt vào đại dương náo nhiệt của chủ nghĩa toàn cầu (cosmopolitism), lò thiêu các bản ngã.” [ 1 ]. Chính yếu tố đó, việc định hình nghiên cứu nghệ thuật dân gian làm nền tảng để xây dựng sự hiện đại hóa nền nghệ thuật của dân tộc, là chiến lược có tính quốc gia, để xây dựng nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại và giàu bản sắc dân tộc. Những thủ pháp sáng tạo của các làng tranh dân gian, chạm khắc đình làng, nghệ thuật dân tộc miền núi… cung cấp cho những nghệ sĩ hôm nay, một nhận thức nghệ thuật mới, trên con đường sáng tạo nghệ thuật.

 
 
 

tranh dong ho.jpg


             Công tác bảo tồn: việc xây dựng một nền văn hóa nghệ thuật luôn đi đôi với việc bảo tồn những di sản mà cha ông để lại, tạo động lực trong việc phát huy những giá trị thẩm mỹ sáng tạo nghệ thuật, là một công việc rất quan trọng. Xây dựng ý thức bảo tồn trong thế hệ hôm nay là một công việc đúng đắn trước nguy cơ biến mất những di sản của cha ông để lại. Việc vạch ra chiến lược bảo tồn, không chỉ nằm trong một giới hạn của một thế hệ hôm nay mà phải trang bị cho thế hệ trẻ nhận thức vai trò to lớn trong việc bảo lưu và phát huy những giá trị văn hóa nghệ thuật sống mãi với thời gian. “Các di sản văn hóa dân gian vốn sinh ra từ hai nhu cầu cuộc sống và gắn chặt với môi trường sống nên bảo tồn tích cực là làm cho nó sống lại trong đời sống cộng đồng” [ 2] , tô thêm vẻ đẹp vốn có mà cộng đồng đã sản sinh ra nó và nuôi dưỡng nó, để biến di sản đó, như là một linh hồn của cộng đồng xã hội. Trong xu hướng ngày nay, các làng nghề truyền thống, đặc biệt là làng nghề làm tranh dân gian: Làng Sình, Hành Trống, Kim Hoàng,… đang mai một trước thời gian. Để những giá trị văn hóa sống lại với cộng đồng, làng xã… đòi hỏi chúng ta cần phải xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đặc biệt là hệ thống giáo dục phổ thổng, “Trong chương trình giáo dục phổ thông cần dành một thời gian để các trường giới thiệu cho học sinh những di sản văn hóa địa phương mình. Không chỉ dạy các em tình yêu đất nước chung chung. Mọi tình cảm cần có nơi neo đậu. Ngoài những người thân trong gia đình thì quê hương cùng những nét đẹp trong văn hóa cộng đồng chính là chỗ khơi nguồn cho tình yêu đất nước [2]. Điều đó, cho chúng ta thấy, vai trò giáo dục nghệ thuật truyền thống về bảo tồn di sản dân tộc. Thông qua các môn giáo dục thẩm mỹ ở trường phổ thông, nhằm tác động tích cực đến nhận thức cho thế hệ trẻ hôm nay, biết gìn giữ và phát huy vốn cổ truyền của dân tộc. 

   

Công tác khôi phục: trải qua một chặn đường dài trong quá trình đấu tranh và xây dựng nước. Di tích văn hóa, lịch sử của con người Việt Nam đã biến mất do thời gian và chiến tranh kéo dài liên miên. Trong đó, nhiều di sản và làng nghề quý giá chứa đựng nhiều yếu tố thẩm mỹ có tính giáo dục cho hậu thế hôm nay không còn nguyên giá trị vốn có của nó.

 

Công tác khôi phục các di sản văn hóa lịch sử phục dựng lại những giá trị truyền thống đã có ngày hôm qua. Để từ đó, chúng ta còn có cơ sở giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Những làng tranh dân gian hiện không còn tồn tại như vốn hiện có của nó, mà biến mất dần trước thời gian. Trước thực trạng đó, đòi hỏi các nhà quản lí văn hóa nghệ thuật, các nghệ sĩ tâm huyết và các nghệ nhân có tâm, cùng phối hợp và khôi phục lại những giá trị văn hóa trên. Vai trò trong công cuộc giáo dục nghệ thuật dân tộc cho thế hệ ngày nay, chính là giáo dục cho thế hệ mai sau, hiểu sâu những giá trị lịch sử và văn hóa được trường tồn qua bao năm tháng.

Nhận thức giá trị nghệ thuật của một số làng nghề có vai trò giá trị văn hóa: tranh Hàng Trống, Tranh Kim Hoàng, Làng Sình… cần phải khôi phục lại không gian hoạt động của nó. Trên cơ sở đó, có những chính sách kết hợp với các hoạt động văn hóa, du lịch để quảng bá hình ảnh đặc trưng của vùng miền, làng xã khác nhau. Từ đó, mới có thể lưu giữ những tài sản vô giá của  ông cha bao đời để lại, cho thế hệ hôm nay và mai sau.

 

Về giáo dục nghệ thuật: cần phải có ý thức lồng ghép giảng dạy những giá trị nghệ thuật dân gian trong trường học, cung cấp thêm kiến thức tạo hình của dân tộc giúp cho thế hệ trẻ định hình vốn quý của văn hóa cha ông. Từ đó, hình thành nên lòng tự hào yêu quý quê hương, đất nước qua việc sáng tạo nghệ thuật của mình.

Những giá trị nghệ thuật dân tộc, đặc biệt tranh dân gian Đông Hồ và tranh Hàng Trống có những nét tiêu biểu về cội nguồn. Những giá trị thẩm mỹ dân gian, như là hơi thở cuộc sống của những con người nông dân Việt Nam, mà thế hệ trẻ hôm nay phải nghiên cứu và cảm nhận, để làm giàu vốn kiến thức nghệ thuật dân tộc của mình. Bên cạnh đó, cần phải có chính sách giúp đỡ bảo lưu những làng tranh truyền thống, phục dựng lại các hoạt động vốn có của nó. Đầu tư nghiên cứu một cách sâu những công trình khoa học về giá trị nghệ thuật dân gian. Qua đó, có chính sách ứng dụng vào thực tiễn để khai thác, phục vụ cho du khách thưởng ngoạn, tạo điều kiện cho nghệ nhân sống được với nghề. Có phương hướng tích cực đa dạng mô hình hoạt động các làng tranh. Cần phải sáng lập những trung tâm nghiên cứu bảo tồn những làng nghề trong các Trường Văn hóa -Nghệ thuật. Trên cơ sở đó, mới hy vọng có đủ nhân lực và trí lực có trình độ chuyên sâu, để xây dựng lại hệ thống nghệ thuật dân gian, dân tộc một cách đúng xu hướng chung của thời đại. Hơn lúc nào hết, các khoa truyền thống của các Trường Đại Học Mỹ Thuật phải được thiết lập nên. Nhằm đào tạo nên nguồn nhân lực, để phục hồi lại những giá trị văn hóa nghệ thuật đã mai một. Văn hóa là những vấn đề gắn với đời sống tinh thần con người, muốn có một thế hệ tương lai không thiếu hụt vốn văn hóa dân tộc, ngay từ hôm nay, chúng ta cần có chiến lược cụ thể hơn trong việc bồi dưỡng, giáo dục một cách nghiêm túc và trách nhiệm. Trước những biến đổi trong sự phát triển của nghệ thuật trên thế giới, chúng ta cần có những bước đột phá mới trong việc biên soạn chương trình đào tạo các ngành mỹ thuật, nhằm đáp ứng đúng xu hướng của thời đại đặt ra. Chính những yêu cầu cấp bách đó, sự kết hợp đan xen hệ thống nghệ thuật dân gian của dân tộc trong giáo dục, là một nhận thức đúng đắn, cần triển khai nhân rộng trong hiện nay. Giá trị thẩm mỹ của nghệ thuật dân gian, dân tộc và hiện đại góp phần định hình phương pháp sáng tác nghệ thuật cho thế hệ trẻ. Các Trường Văn hóa - Nghệ thuật, phải hình thành nên những gian trưng bày, nghiên cứu về nghệ thuật truyền thống. Từ đó, góp phần phổ biến, giáo dục cho thế hệ trẻ một ý thức gìn giữ và phát huy giá trị nghệ thuật dân tộc. Trang bị thêm các đầu sách, tư liệu hình ảnh… đưa những nội dung có tính tiêu biểu của nghệ thuật dân tộc vào trong giáo trình đào tạo, làm nền tảng nghiên cứu và giáo dục cho thế hệ trẻ hiện nay. Thường xuyên phát động những phong trào như: Ngày di sản Mỹ thuật, Ngày nghệ thuật truyền thống…nhằm thôi thúc cộng đồng, chung tay xây dựng và bảo vệ những di sản nghệ thuật. Các tổ chức đòan thể- hội nghề nghiệp… phải có chiến lược tổ chức cho học sinh, sinh viên về nguồn với di tích lịch sử, làng nghề truyền thống. Qua đó, tạo nên không khí, tinh thần về nguồn của toàn dân tộc.

       Cùng với việc phát triển định hướng sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật, trên tinh thần tự do, dân chủ. Việc định hướng quy hoạch và lồng ghép giá trị nghệ thuật dân gian vào trong giáo dục thế hệ trẻ, có chiến lược bảo tồn các di sản nghệ thuật, là một công việc có tính cấp thiết, nhằm xây dựng nền Mỹ thuật Việt Nam “ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.


                                                                                                                                                          Võ Lạc

 

Tài liệu tham khảo:

1.  Lê Thanh Đức (2003), Nghệ thuật Mođéc và hậu Mođéc, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

2.  Nguyễn Xuân Đức (2004), “Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa dân gian trong cuộc sống mới, Tạp chí Văn Hóa Dân Gian, (Số 3 (93) tr. 3-tr 11.

3. Maurice Durand (4/2005), “Tranh dân gian Việt Nam”, Thông tin Viện Mỹ Thuật, (số1) (13), tr.74-91.

4. Đỗ Huy (2002), Đạo đức học – mỹ học và đời sống văn hóa nghệ thuật, Nxb Khoa học và Xã hội, Hà Nội

5. Nguyễn Bá Vân - Chu Quang Trứ (1984), Tranh dân  gian Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

 

 

 

 
     
  Võ Lạc ( Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |