Thứ Hai, ngày 26 tháng 10 năm 2020        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  15/06/2012  
  Hát bội đình làng Hội An Đông xưa  
  Hát bội ở đình làng xưa là một nét văn hóa đặc biệt, không thể thiếu trong các dịp cúng đình. Nó là một phần của hồn quê, thắm đượm. Buổi chiều đang ngồi bên mâm cơm mà nghe tiếng trống giục, khó ai mà không nôn nao sắp xếp việc nhà cho xong để tối đến chen chân xem hát bội ở đình làng.  
 
 


Làng Hội An Đông xưa vốn là từ thôn Cựu Hội An rồi thành làng Hội An thuộc tổng An Thạnh, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang thời Minh Mạng, triều Nguyễn. Đến những thập niên đầu thế kỷ XX, trên địa bàn Cựu Hội An thôn hình thành ba làng mới: Hội An, Hội An Thượng và Hội An Đông.

            Về đình làng, buổi đầu đình được lập tại Ngã Bát. Khi tách một phần phía Bắc của làng Hội An để lập làng Hội An Thượng thì đình được dời về vàm rạch Cái Nai (nay là khu trường học). Sau đó đình làng Hội An được dời về Ấp Thị, xây cất trên khu đất miễu thờ Ông cả Hổ (1).

            Sự tích lập làng Hội An Thượng kể rằng: năm 1893, hai ông Đội suất Nguyễn Trường Vạng, Nguyễn Trường Kỳ đề nghị chính quyền tỉnh Sa Đéc cắt một phần phía Bắc của làng Hội An từ vùng Cống Rộc Sen đến xứ Tầm Vu (gần bắc An Hòa ngày nay) để lập làng mới lấy tên làng Hội An Thượng (2). Đình làng Hội An Thượng được xây cất ở xứ Tầm Vu, thuộc ngọn cùng của rạch Cái Nai. Còn đình làng Hội An ở Ngã Bát thì dời về vàm Cái Nai (ấp An Thái).

            Năm 1910, trong Hương chức làng có sự bất đồng, ông Tham thần Phạm Văn Hiếu và ông Kế hiền Bùi Văn Hội cùng đệ đơn lên chính quyền tỉnh Sa Đéc xin được chia tách làng. Năm 1912 (Nhâm Tý), một làng mới được tách ra lấy tên là làng Hội An Đông (vì có trụ sở nằm ở hướng Đông, tại Mương trường học thuộc ấp An Quới). Còn làng Hội An mới, dời trụ sở về vàm Kinh Cô Đội (gần miễu thờ Cô Đội); đình làng từ vàm Cái Nai dời về gần miễu Ông Hổ như đã nói trên.

            Hồi ấy việc thờ phượng sắc thần được qui ước là quyền giữ sắc Thần thuộc về làng Hội An (vì là làng cũ). Lệ cúng Kỳ yên hàng năm được ấn định làng Hội An cúng vào 2 ngày 13 và 14 tháng 6 âm lịch, làng Hội An Đông cúng vào 2 ngày 15 và 16 tháng 6 âm lịch, do phải đợi đình Hội An cúng xong thì mới mượn được sắc Thần.

            Việc mượn sắc Thần tuy được cung kính kêu rằng Thỉnh Sắc, song cũng gây không ít khó khăn trong số hương chức làng Hội An Đông. Do vậy mà có việc khi ông Lê Hồng Huân người làng Hội An Đông lên làm Cai tổng An Thạnh Thượng, ông Huân buộc làng Hội An giao sắc Thần cho làng Hội An Đông phượng tự. Các năm tiếp theo mỗi khi làng Hội An làm lễ Kỳ Yên thì hương chức làng này phải khăn áo chỉnh tề sang làng Hội An Đông kính viếng thầy Cai tổng trước rồi sau đó mới được thỉnh sắc Thần về đình mình cúng bái… Cho đến năm 1937, ông Cai tổng Lê Hồng Huân mất, sắc Thần lại trở về làng Hội An.

            Về sắc Thần đình làng Hội An, cũng giống như phần lớn sắc Thần được vua Tự Đức phong tặng Bổn Cảnh Thành Hoàng - vị thần cai quản một vùng đất, một làng. Tất nhiên sắc viết bằng chữ Hán (chữ Nho); phiên âm:

            SẮC BỔN CẢNH THÀNH HOÀNG CHI THẦN

NGUYÊN TẶNG QUẢNG HẬU CHÁNH TRỰC HỰU THIỆN CHI THẦN

HỘ QUỐC TÌ DÂN NHẪM TRỨ LINH ỨNG, TỨ KIM PHI ƯNG CẢNH MỆNH MIỄN NIỆM THẦN HƯU

KHẢ GIẢ TĂNG QUẢNG HẬU CHÁNH TRỰC HỰU THIÊN ĐÔN NGƯNG CHI THẦN

NHƯNG CHUẨN VĨNH AN HUYỆN, HỘI AN THÔN Y PHẤN PHỤNG SỰ THẦN KỲ TƯƠNG HỘ BẢO NGÃ LÊ DÂN

KHÂM TAI

TỰ ĐỨC NGŨ NIÊN, THẬP NHẤT NGUYỆT, NHỊ THẬP CỬU NHẬT

            Ngày nay ta hiểu tờ Sắc Thần như một quyết định của vua phong (cắt cử) một vị Thần (Bổn Cảnh Thành Hoàng) đến cai quản một vùng đất (một làng). Đó là làng (thôn) Hội An, huyện Vĩnh An (tỉnh An Giang). Nội dung là: Thần phải làm nhiệm vụ phò nước, giúp dân (hộ quốc tì dân, bảo ngã lê dân). Làm tốt được gia (thêm) tặng phong cho Quảng hậu chánh trực hựu thiện đôn ngưng chi thần…. Năm Tự Đức thứ 5, tháng 11, ngày 29.

            Xem vậy, làng Cựu Hội An xưa trải qua nhiều biến động, cư dân phát triển lần lượt trở thành ba làng: Hội An, Hội An Thượng, Hội An Đông cho thấy tính mở của làng Nam bộ. Tính mở cùng với tính cách phóng khoáng của người dân Nam bộ đã tạo điều kiện dễ tiếp nhận những cái mới từ bên ngoài, nhất là khi kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển. Từ đầu thế kỷ XX, chợ Cái Tàu Thượng đã trở thành một chợ trung tâm của vùng. Cư dân các làng xã chung quanh đã tiếp nhận, giao lưu với những người Hoa từ các nơi đến lập chợ, các dịch vụ mua bán lần hồi kéo theo các nghề tiểu thủ công nghiệp, lan tỏa lên Mỹ Luông, Chợ Mới (An Giang) và ngược lại… Thời Pháp thuộc, Cái Tàu Thượng là một bến của hãng tàu chạy tuyến đường sông Sài Gòn - Mỹ Tho - Nam Vang (Camphuchia). Trường làng, trường tổng được mở, số người học chữ Nho giờ học thêm chữ quốc ngữ. Văn hóa làng dần hồi được tiếp thu nhiều điều mới…

            Lập làng rồi thì phải có đình. Cái Đình xưa kia là biểu tượng tập trung nhứt về nhiều mặt của làng: là trung tâm hành chính, là trung tâm văn hóa, là trung tâm về mặt tôn giáo tín ngưỡng, nó còn là một trung tâm về mặt tình cảm nữa. Do vậy mà nhiều câu ca dao nói về cái đình được truyền tụng từ Bắc vô Nam:

            Qua đình ngả nón trông đình

            Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu….

 

***

 

            Cúng đình là dịp để mọi người tụ họp nơi đình làng lễ bái Thần làng, tạ ơn Tiền hiền khai canh, Hậu hiền khai cơ, tức những bậc tiền nhân có công khai mở đất đai, lập làng để nhân dân tựu hội sinh cơ lập nghiệp. Cúng đình hàng năm có thể có nhiều lễ, song lệ cúng Kỳ yên là lễ lớn nhất. Kỳ yên có nghĩa là cầu mong phong hòa vũ thuận - mưa gió hiền hòa, cầu cho quốc thái dân an. Kỳ yên là cầu mong cho mọi người đều được an lành, hạnh phúc…

            Cúng đình thì phải có hát bội. Đó là một nét văn hóa làng, nhưng không phải năm nào, Ban hương chức đình làng cũng có đủ ngân quỹ để rước gánh hát bội về hát.

            Những tuồng tích hát bội xưa, người lớn tuổi thuộc làu: Thần nữ dâng ngũ linh kỳ; Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu… San Hậu là vở cuối cùng. Đây là vở hát bội mẫu mực cổ điển, ai xem cũng hiểu. Ngoài Tam Cung Nguyệt Kiều ra, đàn em là một lũ gian nịnh đáng ghét. Ghét đến nỗi người đời gán cho họ Tạ là họ phản thần, khiến những người mang họ này không chịu nổi tiếng dèm pha nên phải đổi thành họ khác.

Ngoài ra còn các vở Thôi Tử thí Tề Quân; Đương Dương Trường Bản… cũng là những vở hay nhất nhì thường được chọn hát mở đầu…

            Về sau, hình thành những gánh hát bội pha cải lương với các tuồng tích mang tính xã hội, song những vở tuồng tàu như Hoàng Phi Hổ phản Trụ đầu Châu; Phong kiếm Xuân Thu; Xuân Thu oanh liệt (chuyện Tôn Tẩn, Bàng Quyên); Xử án Bàng Qúi Phi; Đoạt ấu chúa… cũng được công chúng tán thưởng.

            Về những ước lệ của đào kép hoá trang thì người xem hát bội cũng cần ngầm hiểu những qui ước được đặt ra cho sân khấu hát bội đã có từ lâu. Kép đóng vai Trương Phi thì vẽ mặt vằn vện, phía dưới chừa lại để mang bộ râu (có chuyện tếu kép ra sân khấu rồi mà quên mang râu đành lanh trí tự xưng là Trương…Phì em của Trương Phi…). Kép nào thủ vai Quan Vân Trường (Quan Công) - người ta kiêng cử gọi là Ông - với qui ước mặt Ông đỏ rực được thoa bằng son Tàu. Chuẩn bị để nhập vai Ông, người kép phải vào bàn thờ Tổ thắp ba cây nhang, lạy bốn lạy vừa xin phép Ông vừa xin Tổ phò hộ rồi mới dám hoá trang. Nếu không làm vậy, Tổ quở, Ông vật cho hộc máu chết ngay tại chỗ!

            Các cô đào hát bội, khi diễn thì tuỳ vai mà hoá trang, vẽ mặt, thoa phấn, trông cô nào cũng đẹp như đào hát bội. Những đào chánh thì mới đảm nhận nổi các vai Phàn Lê Huê, Lưu Kim Đính, Mộc Quế Anh, Thần Nữ…

            Một thời không xa, hát bội là một bộ môn nghệ thuật vừa bác học, vừa dân gian, thu hút rất nhiều người nhất là ở những vùng quê. Đã có không ít cô gái, chàng trai bị những anh kép, cô đào hớp hồn, đến nỗi khi gánh hát đi rồi các cô cậu nầy cũng cắp gói đi theo. Do vậy từng có câu hát răn dạy con cái không nên theo phường xướng ca vô lại…!?:

Trồng trầu trồng lộn dây tiêu,

Con theo hát bội mẹ liều con hư.

           

***

           

Hát bội ở đình làng xưa là một nét văn hóa đặc biệt, không thể thiếu trong các dịp cúng đình. Nó là một phần của hồn quê, thắm đượm. Buổi chiều đang ngồi bên mâm cơm mà nghe tiếng trống giục, khó ai mà không nôn nao sắp xếp việc nhà cho xong để tối đến chen chân xem hát bội ở đình làng.

            Trên lĩnh vực văn hóa tinh thần, ở Nam bộ từ đầu thế kỷ XX, hát bội tuy là tuồng tích cũ, là nghệ thuật thanh sắc, nhưng gần như đã được dân gian hóa, đi vào cuộc sống của nhiều tầng lớp người dân. Nó góp phần bồi dưỡng ý chí, phẩm chất của con người Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa; biết cứu khổn, phò nguy; biết xem tiền tài như phấn thổ, nhơn nghĩa tợ thiên kim

            Cải lương ra đời vào những thập niên đầu thế kỷ XX là sự kết hợp hài hòa giữa phong cách biểu trưng truyền thống với bước phát triển cách tân cho phù hợp với hiện thực cuộc sống. Đó là những di sản văn hóa tinh thần của dân tộc.

 

          

_______________________

 

(1) Theo tài liệu của Ông Kim Khả, tác giả Tìm hiểu di tích, địa danh xã Hội An : Miễu Ông cả Hổ xưa do ông Trần Văn Thang lập nên, ông Nguyễn Ngọc Liệu (Hương giáo của làng) là con rể ông Thang được thừa hưởng phần đất gần với miễu nầy. Ông Liệu tự nguyện hiến lại 4.000 mét vuông để xây cất ngôi đình. Những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lần thứ hai, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến , như nhiều ngôi đình khác, đình Hội An cũng bị phá dở…Đến năm 1953, đình được dựng lại.

(2) Cũng theo Ông Kim Khả, làng Hội An Thương suy tôn ông Nguyễn Trường Huy làm “Thần Thành Hoàng”. Đội suất Nguyễn Trường Huy qua đời năm 1893, được vua Thành Thái truy phong “Hùng Kỉnh Chi Thần”.

(3) Ông Lê Thanh Trừ sinh năm 1932, gốc người làng Hội An Đông, Họa sĩ Hội Mỹ thuật Việt Nam, hiện ông sống tại Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2007 ông cho xuất bản tác phẩm Ông Chiều Chiều. Trong tác phẩm nây ông kể lại nhiều kỷ niệm về quê hương Hội An Đông, chuyện gánh hát bội và chuyện hát bội ở đình làng…

 
     
  Lê Kim Hoàng ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • RẠCH BÀU HÚT (18/09/2020)
















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |