Thứ Hai, ngày 26 tháng 10 năm 2020        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  05/02/2013  
  ĐÌNH LÀNG TÂN PHÚ TRUNG - DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA  
  Đình làng và việc thờ cúng ở các đình làng không nên hiểu là phục cổ, duy tâm. Toát lên từ mỗi ngôi đình là bao tầng văn hóa vật thể - phi vật thể, ở đó có nền tảng văn hóa tâm linh của những lớp cha ông ta, những lưu dân đi về phương Nam, vật lộn với thiên nhiên, thú dữ, khai sơn phá thạch, lập ấp lập làng, biến từ vùng đất sình lầy hoang vu thành ruộng vườn, làng mạc, lưu truyền cho thế hệ hôm nay tiếp tục dựng xây thành vùng đất giàu có, trù phú. Đình Tân Phú Trung là một chứng tích lịch sử - văn hóa sống động cho cả hôm nay và mai sau.  
 
 


 

Thời vua Minh Mạng, năm 1836, khi điều tra lập sổ địa bạ, thôn Tân Phú Trung thuộc tổng An Trung, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang. So với các thôn lân cận thì diện tích khai khẩn của thôn Tân Phú Trung khá lớn. Số cư dân hội tụ về đây lập nghiệp cũng khá đông.

Đầu thế kỷ 20, năm 1909, ông Nguyễn Liên Phong cho xuất bản tập sách Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, phần viết về tỉnh Sa Đéc, có đoạn: …Đình Vĩnh Phước, bực thứ hai /Với đình Tân Phú… lâu dài vĩnh vi/ Cái Tàu Hạ, với Tân Qui/ Tân Hưng ba cảnh đều thì hạng ba… Hồi đó, ông đã có công ghi chép một số các đình, chùa có tiếng rồi xếp hạng theo cảm nhận riêng của ông. Dù sao đình chùa vẫn là nơi lưu giữ phong thuần tục mỹ thủ thường chẳng sai.

***

            Các bậc kỳ lão lưu truyền, hễ lập làng rồi thì phải có đình của làng. Trong khoảng 10 năm (từ 1842 - 1853), hương chức, kỳ lão trong làng vận động tài lực để xây cất đình làng Tân Phú Trung. Khu đất được chọn để lập đình tại vàm Rạch Miễu. Đình cất bằng cây (gỗ), mái lợp lá, diện tích không rộng lắm.

            Cất đình xong, năm sau, 1854, hương chức và bà con trong làng vui mừng đón nhận Sắc phong Thành hoàng bổn cảnh của vua Tự Đức ban cho. Nội dung sắc thần tạm dịch như sau (1): Sắc Bổn cảnh Thành hoàng chi thần, nguyên tặng Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện chi thần, giúp nước hộ dân từ lâu linh ứng rõ rệt. Nay trẫm lạm ôm mạng trời, liên miên nghĩ đến sự tốt đẹp của thần, nên gia tặng Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng chi thần. Chuẩn cho huyện Vĩnh An, thôn Tân Phú Trung  y thờ như cũ.. Thần hãy giúp đỡ, bảo vệ dân đen của ta. Kính vậy! Tự Đức năm thứ bảy (1854), Ngày 16 tháng 4. (Ấn: Sắc mệnh chi bửu)

***

            Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đình làng có ba chức năng: hành chánh, văn hóa và tôn giáo (tín ngưỡng). Tín ngưỡng được thờ phượng trong các ngôi đình làng ở Nam bộ hầu hết là thần Thành hoàng. Nguyên nghĩa ban đầu thành là chỗ địa phương có nhiều người, xung quanh có xây tường kín, hoàng là cái rãnh đào xung quanh thành, không có nước; mở rộng ra thì thần Thành hoàng là vị thần làm chủ, cai quản một vùng đất, ở đây là một làng. Bổn cảnh Thành hoàng hay Thành hoàng bổn cảnh có nghĩa là vị thần cai quản vùng đất này. Bổn cảnh là chỗ, nơi này…

            Để đủ tư cách là Thành hoàng, phải có sắc phong của nhà vua. Ở Nam bộ, từ năm Tự Đức thứ 3, tức 1850, sau khi được chuẩn nghị, hàng loạt sắc thần được ban tặng cho các làng. Đồng thời, nhiều sắc được gia tặng mỹ tự, xếp hạng: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần, Hạ đẳng thần; còn xếp loại thì có 6 loại thần: Thiên thần, Thổ thần, Sơn Thần, Thủy thần, Dương thầnÂm thần.

Nhà văn, nhà nghiên cứu Sơn Nam có nhận xét thấu đáo về nhu cầu xây dựng đình làng ở Nam bộ: Xây dựng đình làng là nhu cầu tinh thần, có đình thì mới tạo được thế đứng, gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ; bằng không thì chỉ là lục bình trôi sông, viên gạch rời rạc, một dạng “lưu dân tập thể”, mặc dù làng lắm gạo nhiều tiền...

            Dần theo thời gian, trải những biến cố, giao thoa với những tín ngưỡng bản địa, đình làng còn tích hợp, dung nạp những dạng tín ngưỡng pha tạp tùy theo đặc điểm lịch sử và nét văn hóa chung, riêng của từng làng, từng vùng miền. Từ đó trong đình làng bên cạnh vị thần được thờ phượng chính là Thành hoàng còn có những thần linh do dân địa phương sùng kính. Việc thờ cúng nầy được gọi là phối tự; mỗi khi khấn vái thường có câu: cung thỉnh chư vị đồng lai cộng hưởng - có nghĩa thành kính thỉnh tất cả các vị cùng về chung hưởng… Tính cộng đồng, hòa hợp được thể hiện tận trong tâm thức mọi người từ việc tín ngưỡng cho đến đời sống thường ngày của cư dân làng xã.

            Nét đặc sắc trong tín ngưỡng thờ thần Thành hoàng ở các ngôi đình Nam bộ là sự ghi công những nhân vật có thật, những người có công trong việc qui tụ lưu dân khai hoang lập ấp; đứng ra chịu thuế, làm mọi thủ tục để lập làng, được nhà nước phong kiến công nhận. Nên có câu ghi trong văn tế: …Tiền hiền khai canh, Hậu hiền khai cơ… Tiền hiền và Hậu hiền là những bậc tiền bối đã bỏ bao công sức, tiền của để gầy dựng làng xã từ những ngày đầu thành lập. Ghi nhớ công ơn của những bậc tiền bối nầy là đạo lý ngàn đời của dân tộc ta: Uống nước nhớ nguồn, Ăn trái nhớ người trồng cây

            Như trên đã nói, đình làng Tân Phú Trung có từ những năm 1840. Đến những năm 1910 thì đã hư hỏng nặng; hương chức trong làng phải trù tính việc xây dựng lại đình. Đình cũ ở vàm Rạch Miễu có diện tích quá nhỏ hẹp. Cần tìm nơi rộng rãi, phù hợp cho việc xây cất đình mới. Khu đất được chọn có vị trí ngó ra hướng Nam là Rạch Cần Thơ và Hương lộ 5, phía Tây có con rạch nhỏ (sau gọi Rạch Đình, nay thuộc ấp Tân Phú). Diện tích tổng thể hơn 10.000 m2. Gần đó, về hướng Đông có ngôi Chùa Ông- Miễu (miếu) thờ Quan Thánh Đế Quân (Quan Công - Quan Vũ - Quan Vân Trường). Đến năm 1914, đình mới xây cất xong. Tượng Quan Công, Quan Bình và Châu Xương cũng được thỉnh vô thờ trong đình. Đây là một pho tượng hoàn chỉnh, bằng danh mộc (gỗ trầm).

            Tín ngưỡng dân gian, trong đó có tín ngưỡng đình làng càng được tin tưởng bởi chất men thời gian. Trải qua biết bao biến cố, những năm 1945 - 1948, cuộc kháng chiến chống Pháp lan rộng, không ít kẻ định đốt phá đình để gây tiếng vang! Nhưng lạ thay, mỗi lần kẻ xấu đốt đình thì như có bàn tay vô hình dập tắt ngọn lửa! Đình vẫn còn đó làm nơi thờ phượng của dân làng. Người ta càng tin tưởng đình làng là nơi linh thiêng, không một ai dám thề thốt những điều mà mình gian dối.

            Đình làng Tân Phú Trung được trùng tu lớn vào các năm 1952, 1957… Đến nay đình Tân Phú Trung là một trong những ngôi đình có kiến trúc khá tiêu biểu cho đình làng Nam bộ. Từ cổng nhìn vào ta nhận ra những công trình chính: cổng đình, sân đình, đình chính và nhà Hương hội.

            Cổng chính ngay trước đình chính, ngang 3m, cao 3,5m. Trụ cổng bằng gạch vững chãi, trên gắn tượng lân bằng sành. Thanh ngang cổng đình đắp nổi: ĐÌNH TÂN PHÚ TRUNG. Cánh cửa vọng theo kiểu thượng song hạ bản. Hai cổng phụ: một bên trái từ đình ngó ra, trước nhà Hương hội, một bên phải; 2 cổng phụ rộng 2,7m, cao 3,4m. Liên kết cổng chính và 2 cổng phụ là tường rào song sắt dài gần 50m.

            Sân đình rộng, lát gạch tàu, giữa là cột cờ cao 8m. Dưới chân cột cờ là Đàn xã tắc. Trước Đàn xã tắcBình phong, phía trước là tranh vẽ cảnh đôi rồng vờn uốn lượn trong mây, phía sau là hổ xuống núi (hạ sơn lâm). Cân đối trong sân đình, bên phải là miễu Sơn thần (thần hổ), đối xứng là miễu Ngũ hành (Ngũ nương). Chỉ trong sân đình đã chứa đựng biết bao biểu tượng đời sống văn hóa tâm linh, tư duy của cư dân nông nghiệp. Đàn xã tắc là một biểu tượng về đất nước vừa mang ý nghĩa tâm linh vừa mang ý nghĩa hiện thực của đời sống văn hóa nông nghiệp. Có nơi còn được cá thể hóa thành vị thần nông nghiệp: Thần Nông.

            Hổ (cọp) được hình tượng hóa là Sơn Thần, tượng trưng cho sức mạnh, uy quyền cai quản một lãnh địa. Xưa ông cha ta, những lớp lưu dân đi mở đất phương Nam, thường xuyên phải đối mặt với hiểm nguy: Đồng Nai xứ sở lạ lùng/ Dưới sông cá lội, trên rừng cọp um… Cọp vừa là đối tượng phải chiến đấu bảo vệ xóm làng, vừa phải kiêng dè, tôn là Ông, là Chúa sơn lâm, là Ông ba mươi… Có làng phải nhường chức Ông Cả cho Ông Hổ. Đó là dấu ấn của Sơn Thần được thờ trong miễu…

            Đình chính gồm ba khối nhà theo kiểu sắp đọi, mỗi nhà có bốn cột chính, cũng là tứ trụ, theo đó mà đâm lòng trính và vì kèo ra bốn phía kêu là tứ tượng, trên mỗi vì kèo còn đâm kèo quyết, trên đó là dàn rui mè… tạo nên mái đình vững chãi. Đình chính có ba nóc, kiểu thượng lầu hạ hiên, trùng thềm điệp ốc. Mái đình lợp ngói âm dương, trên cùng trang trí công phu những lưỡng long tranh châu, cá hóa long, lân vờn mẫu tử, bát tiên, chim phượng ngậm cuốn thư…

            Cột kèo đều làm bằng gỗ căm xe vừa cứng chắc vừa chống được mối mọt. Tường vách được xây bằng gạch, trên một mặt bằng tổng thể 14m x 37,1m. Phần đình chính gồm : Võ ca, Bái đình, Chánh điện.

            Gian chánh điện có nóc cao nhất (8,8m). Giữa chánh điện là sạp gụ làm bàn thờ Thần bằng gỗ quí (gỗ mun) kích cỡ 1,12m x 1,5m X 2m. Chữ THẦN (chữ Hán) sơn son thếp vàng đặt ở bệ tường ngay trung tâm bức hoành phi và bao lam chạm khắc tinh xảo. Trên bàn thờ đặt một chiếc ngai sơn son thếp vàng, một mão đại thần (được phục chế bằng giấy bồi)… Trước là tủ thờ kích cỡ (1,56m x 0,72 m x 1,86m) trên trưng bày đầy đủ các đồ tự khí (vật dụng thờ cúng)… Hai bên tủ thờ là hai chiếc lọng tàn, mỗi chiếc cao 3,2m.

            Bốn cột tứ trụ chánh điện có các câu đối sơn son thếp vàng: Tân hiển thần oai hộ quốc chiêu anh thường võ miếu; Trung linh thánh đức độ dân huệ trạch ngưỡng xuân thu.(Dịch nghĩa: Oai linh của Thần giúp nước được thờ phượng trong võ miếu (nầy); Thánh đức linh hiển, đức độ rộng lớn được dân ngưỡng mộ muôn đời) và: Tân mỹ hóa phong hành ngưỡng hà hiến chương yểm trợ; Phú túc gia hào tập toàn bằng chánh trực âm phò. (Dịch nghĩa: Giúp trợ cho phong tục đẹp đẽ, đời sống tốt đẹp; Hộ độ cho nhà nhà giàu có một cách chính đáng) (2).

            Gian chánh điện còn những hoành phi, bao lam chạm khắc tinh xảo với với các đề tài long, lân, qui, phụng, hoa lá cách điệu, xuân, hạ, thu, đông… Bức hoành phi trước bàn thờ thần khắc bốn đại tự: Thần ân huệ trạch (Ân đức của thần rất to lớn). Các hoành phi khác như: Thần linh giáng phước” (Thần linh ban phước xuống), Chiêm Thánh đức (Ngưỡng mộ ân đức của Thánh Thần), Trọng Thần ân (Kính trọng ân đức của Thần).

            Cách tủ thờ chừng 1,5m là một chân quỳ kích cỡ 0,8m x 2,26m x 1,86m. Trên đó đặt bản sao Sắc Thần (có dịch quốc ngữ) được đặt trong khung kính. Tại đây cũng bày trí bộ lư, chân đèn, bát hương, một đôi hạc đứng trên lưng rùa (qui), tất cả đều bằng đồng. Phía trước chân quỳ, đặt trên nền gạch là một lư hương đúc tròn bán kính 0,42m, cao 0,74m để mọi người thắp hương lễ bái.

            Hai bên bàn thờ Thần còn có Tả banHữu ban, nơi thờ các vị thần bản địa cũng là cận thần của Thành hoàng. Tả ban và Hữu ban đều có bàn thờ bằng gỗ mun kích cỡ 1m x 1,09m x 1,6m. Tủ thờ bằng gõ đỏ kích cỡ 1,42m x 0,6m x 1,3m. Hai gian thờ Tả ban, Hữu ban có hai đôi câu liễn đối (không chép ở đây).

            Những năm 1980, sau khi đình được giao lại cho Ban Tế tự, bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh được lập ở vị trí trang trọng tiếp giáp giữa Chánh điện và Bái đình. Tủ thờ bằng gõ đỏ kích cỡ 1,56m x 0,85m x 1,42m. Trên có bộ lư đồng và đôi chân đèn, thêm đôi hạc đồng đứng trên đế mai rùa, chiếc chò để chưng mâm ngũ quả, lục bình chưng bông…Tượng Bác Hồ bằng thạch cao phủ nhủ vàng ở phía sau, trước là lư hương bằng sứ. Gian nầy cũng có hai đôi liễn đối (không chép ở đây).

            Tiếp nối Chánh điện là Bái đình. Nóc Bái đình cao 8,4m, kết cấu bên trong gần giống chánh điện, nơi đây đặt tượng thờ Quan Thánh Đế Quân (Quan Công). Nghệ nhân xưa rất khéo léo dùng gỗ trầm chạm trổ khối tượng gồm ba ông: Quan Công, Quan Bình, Châu Xương. Giữa là tượng Quan Công với tư thế ngồi, mặt đỏ, mắt nhìn thẳng phía trước (trực trung), râu dài, mặc triều phục, đầu đội mão, chân mang hia… Đứng bên phải là tượng Quan Bình, áo khoác màu xanh, mang hia đội mão, khuôn mặt điềm đạm toát lên khí chất con nhà văn, tay cầm tráp ấn Hán Thọ Đình Hầu. Đứng bên trái là tượng Châu Xương, khuôn mặt toát lên khí chất con nhà võ, mặc áo giáp vàng, mang hia đội mão, tay cầm thanh long đao…

            Toàn bộ khối tượng được đặt trong khánh thờ kích cỡ 1,64m x 0,72m x 1,34m, phần trên chạm trổ lưỡng long tranh châu, còn lại là hoa văn với những họa tiết tinh xảo được sơn son thếp vàng. Để bảo vệ tượng, người ta lắp cửa kính mặt trước khánh thờ. Khánh thờ Quan Thánh Đế Quân được đặt trên một bệ bằng gỗ căm xe kích cỡ: 1,31m x 1m x 1,5m. Ngay trước khánh thờ là bàn thờ bằng gỗ mun, kích cỡ: 1,2m x 1m x 1,5m. Viền quanh bàn thờ là những hoa văn được chạm trổ công phu. Trên bàn thờ bày đủ đồ tự khí. Đặt trên giá đứng hai bên trước bàn thờ là hai thanh đại đao cao 2,14m, cán gỗ, lưỡi đao bằng thép được sơn màu vàng; hai lọng tàn cao đến 3,3m với hai màu đỏ, vàng tượng trưng cho uy lực của Quan Thánh Đế. Kê sát bàn thờ là chiếc quỳ gỗ sơn đỏ, kích cỡ 0,69m x 0,76m x 2,2m. Nơi đây dùng để bày lễ vật dâng cúng Quan Thánh Đế Quân. Phía trước quỳ thờ là những tự khí như lư hương, đôi chân đèn bằng đồng, một độc bình gốm to, dĩa quả tử, đôi hạc gỗ đứng trên lưng qui… Giữa gian, trước quỳ thờ Quan Thánh Đế là hai hàng lỗ bộ xếp đứng cao 2,28m trên giá dài 2,55m; song song phía trước lỗ bộ là hai hàng cờ lễ cao 2,30m, dài 2,45m.

            Bức hoành phi treo giữa gian bái đình, trước bàn thờ Quan Thánh Đế chạm nổi, sơn son thếp vàng 4 đại tự: Danh Bắc tam quan (Tiếng tăm vang dội). Tứ trụ của gian nầy có 2 đôi câu liễn đối (không chép ở đây).

            Tiếp nối gian Bái đình với Võ ca là 3 cửa sắt khi cần thì đóng lại để bảo vệ các hiện vật của đình. Các kỳ cúng tế có 3 bàn hương án để trưng bày lễ vật. Hương án giữa kích cỡ: 1,5m x 1,06m x 1,84m. Hai hương án đối xứng hai bên kích cỡ bằng nhau: 1,43m x 0,94m x 1,67m. Bên trên 3 khung cửa có 3 bức hoành phi. Cửa giữa: Tân Phú Trung miếu (miếu - đình của làng Tân Phú Trung); cửa bên phải: Linh ân chiếu (ấn và chiếu chỉ linh thiêng); cửa bên trái: Chấn tông phong (tông tộc - dòng họ vang dội). Bốn cột có 4 câu liễn đối (không chép ở đây).

            Võ ca có nóc cao 8m, kết cấu tương tự Chánh điện và Bái đình, là nơi diễn các tuồng hát bội mỗi khi đến lệ cúng đình. Sân khấu hướng về Chánh điện và Bái đình được lót ván dày kích thước: 0,84m x 5m x 6,3m. Hai bên sân khấu là chỗ ngồi của khán giả. Trên khung trước của sân khấu có hoành phi 4 chữ: Tỳ dân hộ thế (giúp dân, giúp đời). Tứ trụ giữa có đôi câu đối (không chép ở đây).

            Hoành phi đối diện sân khấu: Quốc thái dân an (nước mạnh giàu, dân yên ổn). Dưới có liễn đối: Thần công đồng lục hạng sĩ nông công thương tân luận thành; Thánh đức thi vạn phương thượng hạ tôn ty đồng kiên ngưỡng. (Dịch nghĩa: Công lao của Thần càng rạng rõ, các hạng dân sĩ, nông, công, thương đều thành tựu; Đức của Thánh ban ra khắp hướng, trên dưới sang hèn đều ngưỡng mộ).

            Mặt trước của đình là Võ quy, khối nhà hình chữ nhựt, chỉ hai tầng mái, nóc cao 6,2m. Võ quy có 3 cửa ra vào phía trước, là phần sau của sân khấu, cũng gọi nhà chầu, tức nơi dành cho vị hương chức được cắt cử cầm chầu mỗi khi gánh hát bội diễn tuồng; cũng là nơi các đào kép hát bội chuẩn bị hóa trang sắm tuồng trước khi bước ra sân khấu…

            Từ đình ngó ra, phía bên trái là Nhà Hương hội và Nhà Trù. Đó là dãy nhà ba gian hai chái bát dần, tường gạch, nóc lợp ngói Biên Hòa. Trong Nhà Hương hội có bàn thờ Tiền hiền đặt ngay gian giữa. Bệ thờ kích cỡ 0,90cm x 1,2m x 1,1m. Vách hậu tô khắc hai chữ: Tiền hiền. Bệ thờ đặt 4 linh vị. Bàn thờ cẩn ốc xà cừ, trên đặt ba lư hương bằng gốm sứ, một chò chưng ngũ quả, một chuông đồng nhỏ… Bên trái là bàn thờ Cẩm địa (3), cũng có thể hiểu như bàn thờ Hậu hiền. Trên có đặt 5 linh vị. Bên phải là bàn thờ Tiền vãng, có 4 linh vị, ghi nhớ công ơn những vị có công xây dựng đình làng… Trong Nhà Hương hội bày biện các dãy ghế dài dùng tiếp khách vào những ngày lễ hội cúng đình. Tiếp sau là Nhà Trù (nhà khói, nhà bếp) là nơi nấu nướng, chế biến các món dâng cúng vào những ngày lễ hội, phục vụ khách thập phương… Nối liền đình chính và Nhà Hương hội là con đường có mái che thông qua hai cửa.

***

            Nhìn tổng thể, đình làng Tân Phú Trung là một trong những ngôi đình khá hoàn chỉnh về các mặt kiến trúc, kết cấu, nghệ thuật chạm khắc…, xứng đáng tiêu biểu cho đình làng Nam bộ.

Hằng năm, lễ hội đình làng Tân Phú Trung diễn ra vào những ngày 16 - 17 tháng tư âm lịch (năm chẵn) và 12 - 13 tháng 5 âm lịch (năm lẻ) thu hút đông đảo bà con ở Tân Phú Trung và các xã lân cận đến chiêm bái, cầu cho quốc thới dân an, một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, mọi việc làm ăn thuận lợi, làng xóm ấm no sung túc…

Ngày 14 tháng 11 năm 2006, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã có quyết định xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa Đình Tân Phú Trung. Ngày 15 tháng 8 năm 2012, Đình Tân Phú Trung đón nhận Bằng công nhận Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Đình làng và việc thờ cúng ở các đình làng không nên hiểu là phục cổ, duy tâm. Toát lên từ mỗi ngôi đình là bao tầng văn hóa vật thể - phi vật thể, ở đó có nền tảng văn hóa tâm linh của những lớp cha ông ta, những lưu dân đi về phương Nam, vật lộn với thiên nhiên, thú dữ, khai sơn phá thạch, lập ấp lập làng, biến từ vùng đất sình lầy hoang vu thành ruộng vườn, làng mạc, lưu truyền cho thế hệ hôm nay tiếp tục dựng xây thành vùng đất giàu có, trù phú. Đình Tân Phú Trung là một chứng tích lịch sử - văn hóa sống động cho cả hôm nay và mai sau.

 

                             L.K.H

________________

(*) BBT: Bài khảo cứu này của Lê Kim Hoàng dài hơn 20 trang. Do khuôn khổ một bài báo, được sự đồng ý của tác giả, Ban Biên tập đã rút ngắn tối đa dung lượng bài viết, tuy nhiên vẫn cố gắng giữ lại những thông tin cốt lõi.

(1) Sắc Thần đình Tân Phú Trung hiện được lưu giữ tại nhà ông Nguyễn Quang Sáu (cách đình khoảng 2km).

(2) Phần dịch nghĩa của ông Lâm Trung Phú, khóm 2, phường 1, thị xã Sa Đéc. Đình Tân Phú Trung có 14 đôi liễn đối sơn son thếp vàng và 06 đôi liễn đối được khắc chạm bằng gỗ tốt; ngoài ra còn 10 bức hoành phi. Trong phạm vi bài viết này chưa thể cung cấp đầy đủ…

(3) Cẩm Địa; nguyên nghĩa là miếng thịt vai của con heo cúng thần; là miếng thịt ngon nhất dành kiếng cho những vị có công gầy dựng, xây cất đình làng, sau này con cháu các vị cũng được hưởng như vậy…

 

Tài liệu tham khảo:

  • Sơn Nam, Đình miếu & lễ hội dân gian, Nxb TP. HCM, 1992.
  • Sơn Nam, Thuần phong mỹ tục Việt Nam (sách in chung), Nxb Trẻ, 2005.
  • Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb TP. HCM in lại năm 1990.
  • Nguyễn Đăng Duy, Văn hóa tâm linh Nam Bộ, Nxb Hà Nội, 1997.
  • Hồ sơ di tích Đình Tân Phú Trung, do UBND xã Tân Phú Trung cung cấp.
 
     
  Lê Kim Hoàng ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • RẠCH BÀU HÚT (18/09/2020)
















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |