Thứ Hai, ngày 26 tháng 10 năm 2020        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  06/11/2013  
  MẠCH NGẦM VÀ TRỖI DẬY  
  Từ rừng thẳm núi cao bước xuống biển sâu, núi sông nối liền biển cả. Những hòn đảo gần, đảo xa nối tiếp mãi tận Hoàng Sa, Trường Sa. Đất liền một dải, biển rộng vươn xa đến tận chân trời. Ông cha ta chưa từng chùng bước ấn định biên cương Tổ quốc. Trải bao triều đại đổi thay nhưng nhiệm vụ mở mang và gìn giữ cõi bờ được phổ định từ lời Mẹ Âu Cơ: Năm mươi con lên rừng; năm mươi con xuống biển…  
 
 


 

LÊ KIM HOÀNG 

Tôi đang ở Nha Trang, tất nhiên đã hơn một lần đến. Lần nào cũng có cảm nhận riêng và lý do của nó, có lần như sự tình cờ, trong đó có cả tôi đến Nha Trang ngắm trời biển đẹp…

Nơi tôi đến và trở về là đất trời Phương Nam. Lần nào cũng tự nghĩ trên những nẻo đường đất nước nơi nào cũng đẹp; cha ông mình vất vả gian lao thấm đẩm mồ hôi xương máu và cả nước mắt chia ly hội ngộ… để tích tụ cho cháu con có được hiện tại hôm nay và ngày mai…

…Núi Đá Bia sừng sững, đánh dấu cột mốc một thời mở đất đến địa phận Phú Yên. Vua Lê Thánh Tông và triều đại của ông hơn 542 năm về trước đã làm được nhiều việc, còn để lại dấu vết cho đến mai sau.

Sử ghi và dân gian truyền tụng, vào năm 1471, Lê Thánh Tông thân chinh cầm quân chinh phục Cham - pa. Tại chân núi vua dừng chân, ngẩng nhìn bầu trời cao xanh, đỉnh núi chót vót dựng sẵn trụ đá làm bia, vua nghĩ mệnh trời sắp đặt rõ ràng bia kia lấy làm cương vực cho Đại Việt đương thời. Một toán quân vâng lệnh trèo lên đỉnh núi khắc bia. Chữ khắc, dấu vết dẫu chưa tìm thấy, song dân ta vẫn gọi núi ấy chính Núi Đá Bia. Chiều chiều mây phủ Đá Bia; Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng; Mất chồng như nậu mất trâu; Chạy lên chạy xuống cái đầu chôm bôm - Chóp Chài đội mũ; Mây phủ Đá Bia; Ếch nhái kêu lia; Trời mưa như đổ - Sông Bàn Thạch quanh co uốn khúc; Núi Đá Bia cao ngất tầng mây; Sông kia núi nọ còn đây; Mà người thuở trước ngày nay đâu rồi?...

            Có nhà nghiên cứu cho rằng Núi Đá Bia không phải là ranh giới giữa Đại Việt và Cham - pa mà chỉ là cột mốc của hai tiểu quốc đương thời. Việc vua Lê Thánh Tông có đến tận đây và có sai quân lính lên núi khắc bia hay không thì chưa rõ lắm. Song có một sự thật được ghi lại trong tâm thức người dân nước Việt là những người vợ trông chồng hóa đá vọng phu…, đó là những người thuở trước âm thầm từng bước gánh gồng qua Đèo Ngang, Đèo Cả, xuống Biển Đông…, họ mang theo tất cả những gì mình có, không chỉ là quang gánh, con thuyền mà là tâm thức người Việt tích tụ hàng ngàn năm của vùng châu thổ sông Hồng, lên miền ngược trung du Việt Trì, Phú Thọ… với dấu tích các vua Hùng và truyền thuyết Mẹ Âu Cơ…

Ẩn dụ, ngụ ngôn của bao lớp người không chỉ qua những chuyện dân gian, ca dao, tục ngữ… Tôi hiểu còn những mạch ngầm chảy mãi xuyên suốt thời gian, không gian bất tận. Những mạch ngầm ấy là sự sống nối tiếp sự sống, khi trào dâng, khi trầm lắng nhưng mạch ngầm vẫn tồn tại mãi mãi không thể xóa nhòa bởi bất cứ ý muốn chủ quan nào.

Đất Diên Khánh (nay là một huyện của tỉnh Khánh Hòa) từ thế kỷ XVI - XVII đã xác lập địa danh hành chính thuộc các đời chúa Nguyễn.

Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng từ những năm bôn ba tẩu quốc nhiều lần đặt chân lên đảo Phú Quốc, những hòn những đảo cực Nam xa mãi đến vịnh Xiêm La (Thái Lan)…

Năm 1788, Nguyễn Ánh về lại đất liền, chọn đất Long Hưng (thôn Tân Long, Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) qui tập sức người sức của cho cuộc phản công giành lại những vùng đất do Tây Sơn đóng giữ. Hai năm sau, lực lượng Nguyễn Ánh tiến lên chiếm giữ được thành Gia Định, làm chủ vùng đất từ Bình Thuận trở vào.

Năm 1793, nhà Tây Sơn suy yếu dần sau khi Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ mất. Địa bàn Diên Khánh trở thành mục tiêu chiến lược quan trọng, do vậy Nguyễn Ánh cùng hai tướng giỏi Võ Tánh, Nguyễn Văn Trương mang quân thủy bộ từ Gia Định tiến ra đẩy lùi quân Tây Sơn, chiếm giữ vùng đất này. Nguyễn Ánh cho xây dựng thành Diên Khánh làm căn cứ vừa phòng ngự vừa là bàn đạp cho kế hoạch tiến đánh Qui Nhơn, thu hồi Phú Xuân (Huế) trong những năm tiếp theo…

            Thành Diên Khánh và vùng đất Nha Trang còn biết bao dấu vết mà tôi chưa thể kể hết và hiểu biết hết. Sách vở có nhiều nhưng dù sao vẫn chỉ là phần nổi của hiện thực cuộc sống.

Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận…

            Người ta đã cắt nghĩa, giải thích rồi… nhưng vẫn còn nhiều cách nghĩ; cái gian lao vất vả bên cạnh sự sinh tử tưởng chừng trong gang tấc, ngay cả sự hù dọa của biết bao thế lực vật thể (hùm tha) và cả thế lực phi vật thể, vô hình (ma bắt). Ma quỷ có khi còn đáng sợ hơn cả kẻ thù. Vậy mà những con người mang gươm đi mở cõi ngày ấy vẫn gan không sờn, chí không núng. Điều gì trong những con người đó thôi thúc họ vượt qua tất cả, vượt lên chính mình để hoàn thành sứ mệnh đi tìm sự sống tự do.

            Một đặc điểm trong đời sống tâm linh của người Việt đồng bằng sông Cửu Long là thờ cúng, ghi ơn những người đi trước, đặc biệt là những ai có công trong việc mở mang bờ cõi, những ai giúp đỡ cho họ tạo dựng được cuộc sống hôm nay.

            Từng bước trở về quá khứ, ký ức tập thể trải dài thời gian mở rộng không gian, ghi nhận của nhân dân như một đánh giá công bằng tưởng chừng không cần biện giải. Người Việt, người Khơme, người Hoa… ở đồng bằng sông Cửu Long có một sự hòa hợp lạ kỳ trong tín ngưỡng, một sự hòa quyện niềm tin không phân biệt bản địa hay khiên cưỡng tách bạch phân ly. Nói như thế không phải là không có những nét riêng đặc sắc được biểu hiện qua nghi thức thờ phượng phù hợp trạng thái tâm linh của mỗi cư dân vùng miền…

            Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, từng đợt người Hoa phản Thanh phục Minh đã đến vùng châu thổ sông Cửu Long. Những đoàn người Hoa do hai cựu tướng nhà Minh là Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch dẫn đầu sang nước ta xin tị nạn. Các chúa Nguyễn rất sáng suốt trong việc thu nhận, cho những người Hoa này đến cư trú ở miền Biên Hòa - Đồng Nai và Mỹ Tho để tiếp sức cùng người Việt trong việc khai phá vùng đất mới hãy còn nhiều hoang vu rừng rậm…

Cuộc Nam tiến của dân tộc ta không thể không ghi nhận vai trò to lớn của các chúa Nguyễn.

            Năm 1708, chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho Mạc Cửu làm Tổng trấn Hà Tiên đánh dấu thêm một mốc lịch sử về một biên cương chạy dài với bờ biển hình cong chữ S tận chót mũi Cà Mau.

            Người ta cũng đã nói nhiều đến đất Phương Nam… với hình ảnh những lớp lưu dân, qua nhiều đợt Nam tiến chinh phục, khai khẩn miền đất hoang vu, lập ấp, lập làng… Tích tụ lại chất phương Nam là những người dân Nam bộ - Đồng bằng sông Cửu Long chân chất, hào phóng, trọng nghĩa khinh tài, trầm lắng và bộc phát, ít lo cho ngày mai nhưng thực ra chính là lo cho tương lai; một tương lai không chỉ có vật chất đầy đủ, lúa đổ đầy bồ, mà là lo không có người thân, bạn bè lui tới sẻ chia…

            Quan trọng hơn ở họ chính là lo cho cái tâm, tấm lòng của mình có được trong sáng, ngay thẳng để ngày mai khi trở về với lòng đất Mẹ có còn được lưu truyền một cái gì đó chí ít là ở cháu con…

Tâm thức hay tín ngưỡng dân gian của con người ở mỗi vùng miền có thể còn những dị biệt, nhưng tựu trung gặp nhau trong cái thiện gắn với đạo lý làm người: Trai thời trung hiếu làm đầu; Gái thời tiết hạnh là câu trau mình; là Kiến ngãi bất vi vô dõng giả; Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng; là linh hồn những nghĩa sĩ trận vong phảng phất trong gió trong sương, nương tựa: Chùa Tân Thạnh năm canh ưng nóng lạnh, Tấm lòng son gởi lại ánh trăng rằm… (1)

Sống theo đạo lý, làm việc thiện ở một người sẽ lan rộng ra cộng đồng người. Những biến tướng là tất nhiên không tránh khỏi.

Vì sao tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt có rất nhiều biến tướng mà vẫn giữ cái cốt lõi là Bà Mẹ Xứ Sở quê hương?

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở; Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn. Mượn ý của nhà thơ Chế Lan Viên, ta hiểu một cách khái quát mà trung thực về tâm hồn con người - con người Việt Nam.

Bà Chúa Thượng Ngàn, Bà Chúa Tiên… ở đất Bắc, nơi phát tích cội nguồn dân tộc, khi vô đến miền Trung nước Việt, nhập thành Diên Khánh, đất Nha Trang, hòa nhập với người Chăm trở thành Bà Mẹ Pô Nagar hay Thánh Mẫu Thiên Y Ana, cũng là Bà Mẹ Xứ Sở, xuôi miền Đồng Nai, có Bà Đen trở thành biểu tượng…

Vô tận đồng bằng sông Cửu Long, rồi tận cùng đất nước, chót mũi Cà Mau, ở đâu, trên mỗi cánh đồng, mỗi sông rạch xóm làng hầu như những lưu dân đi mở cõi đều gửi lòng mình hướng về Bà Mẹ Xứ Sở. Miễu Bà Chúa Xứ có khắp nơi; có ngôi miễu nhỏ ở vàm sông rạch, có ngôi miễu dựng trên gò đất cao, dưới chòm cổ thụ rợp bóng cây xanh…

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng: So với Bắc bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước, tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hóa mà còn cả trong tín ngưỡng. Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thủy Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô… và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu…

Nhận định này có cơ sở, nhưng có lẽ cần nói thêm về tâm thức của người Việt nói chung và người Việt phương Nam - Đồng bằng sông Cửu Long vì sao lại coi trọng việc thờ Mẫu mang tính phổ quát đến như vậy?

Đạo thờ Mẫu, biểu tượng tập trung của Bà Mẹ Xứ Sở không chỉ ở mặt nổi, quan trọng hơn là mạch ngầm chảy mãi trong tâm thức cư dân mỗi một vùng miền người Việt. Chính nhờ những mạch ngầm ấy đã kết nối quá khứ, hiện tại, tạo nên sức mạnh chuyển hóa một cộng đồng hướng đến tương lai… Thờ Mẫu, họ không cầu mong gì hơn cuộc sống hiện tại và ngày mai ở cõi đời này được mọi tốt đẹp: mưa thuận gió hòa, được Thần Mẫu phù hộ độ trì an cư lạc nghiệp, mọi việc làm ăn thuận lợi, vượt qua tai ương hoạn nạn… Những điều họ chân thành mong muốn gắn với phấn đấu của bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ sống. Và họ có đức tin về điều đó với quan niệm: Có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Không chỉ xác tín riêng lẻ ở các nghi thức cúng tế, nguyện cầu, van vái mà còn hiệp thông được với Bà Mẹ Xứ Sở trong mọi hoàn cảnh: Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thí (Cầu mong thì được ứng nghiệm, ban cho thì được linh thiêng, báo ngay trong mộng).

Hiệp thông linh ứng đó còn được lan truyền sâu rộng sang mọi giới trong ngoài: Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.(2) (Người Xiêm, người Hoa thảy đều kính mộ, lan tỏa khôn lường…).

Không chỉ ở đất liền, ra miền biển đảo: Hòn Tre, Phú Quốc dù xa bãi, Vẫn mối tình thương mảnh đất liền…”(3)

Dinh Cậu ở đảo Phú Quốc bên cạnh thờ Bà Cậu theo nghi thức của những người dân làm nghề đi biển, ngay gian chánh điện còn có bàn thờ Chúa Ngọc Nương Nương. Vậy là Bà Mẹ Xứ Sở cũng từ đất liền theo con ra đảo, ra cả trùng khơi… để bảo vệ biên cương Tổ Quốc: Tọa đại thạch đầu uy danh hiển; Vạn cổ anh linh thông tứ hải… (4)

Nguyễn Đức Toàn có lý khi cho rằng: Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, chúa Liễu đã từ Phủ Giầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nagar tại Nha Trang, gặp Bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu) ở Tây Ninh và Bà Chúa Xứ ở Núi Sam, Châu Đốc… Tất cả các Bà đều là một Mẹ duy nhất trong tâm thức tín ngưỡng và tập tục thờ Mẫu của người Việt…

Tất nhiên tín ngưỡng thờ Mẫu dễ dàng giao thoa, thu nhận, hòa nhập với các tôn giáo, tín ngưỡng của các cộng đồng cư dân như đạo Phật và đạo Lão với hình tượng Phật Bà Quan Âm, Bà Chúa Tiên; với người Hoa là Bà Mã Hậu hay Thiên Hậu Nương Nương; ngay cả sau này với Đức Mẹ Maria…

Từ rừng thẳm núi cao bước xuống biển sâu, núi sông nối liền biển cả. Những hòn đảo gần, đảo xa nối tiếp mãi tận Hoàng Sa, Trường Sa. Đất liền một dải, biển rộng vươn xa đến tận chân trời. Ông cha ta chưa từng chùng bước ấn định biên cương Tổ quốc. Trải bao triều đại đổi thay nhưng nhiệm vụ mở mang và gìn giữ cõi bờ được phổ định từ lời Mẹ Âu Cơ: Năm mươi con lên rừng; năm mươi con xuống biển…

 

 

Nhà Sáng tác Nha Trang, 10-10-2013


____________________

 

(1) Nguyễn Đình Chiểu; Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

(2) Đôi liễn treo ở Miễu Bà Chúa Xứ Châu Đốc, An Giang.

(3) Mượn ý thơ Kiên Giang.

(4) Hai câu đối ở Dinh Cậu đảo Phú Quốc. Tạm hiểu: Ngồi trên tảng đá lớn lừng tiếng uy danh; Ngàn xưa anh linh thông bốn biển.
 
     
  Lê Kim Hoàng ( Hội VHNT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • RẠCH BÀU HÚT (18/09/2020)
















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |