Chủ Nhật, ngày 23 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  20/09/2016  
  LÃO MỘC  
  Trên đất nước Việt ta từ thời lập quốc dến nay đã khoảng 4 ngàn năm có hơn chớ không ít. Hễ nơi nào có đất, có nước, có cây cối, có chim muông, cầm thú... thì có con người. Sau nhiều cuộc biến thiên, cây cối bị hủy diệt, rồi tạo lập không biết đã bao nhiêu lần mà kể. Có nhiều cây còn sót lại sau những biến thiên đó, lần hồi khoa học tiến bộ đã có cách tính được độ tuổi khá chính xác của chúng.  
 
 
20141205132512-tuong-nho-nhung-bong-cay.jpg
Một cây cổ thụ ở làng quê miền Bắc (Ảnh minh họa từ Internet)

LÃO MỘC
(Trích “ Văn hóa Dân gian vùng Cù lao Trâu”) (*)

 

HỒ TRẦN HIỆP

 

CÂY LÂM VỒ CHÙA KIM QUANG

Trên đất nước Việt ta từ thời lập quốc dến nay đã khoảng 4 ngàn năm có hơn chớ không ít. Hễ nơi nào có đất, có nước, có cây cối, có chim muông, cầm thú... thì có con người. Sau nhiều cuộc biến thiên, cây cối bị hủy diệt, rồi tạo lập không biết đã bao nhiêu lần mà kể. Có nhiều cây còn sót lại sau những biến thiên đó, lần hồi khoa học tiến bộ đã có cách tính được độ tuổi khá chính xác của chúng.

Đồng Tháp Mười là một phần của đất phương Nam, những cổ thụ chính là những chứng nhân của lịch sử, các cây già lão đó đã biết rõ hơn chúng ta những triều đại đã đi qua, sinh hoạt của cư dân, của thời tiết… Tiếc là chúng ta chưa có cách giải mã được ngôn ngữ đó. Do vậy xin dùng từ với lòng tôn kính, tạm nhân cách hóa gọi cổ thụ là Lão Mộc vậy.

Trước kia tại chùa Lâm Vồ, có một cây lâm vồ tuy không lớn nhưng rất linh ứng. Lão Mộc được người dân trong vùng hết sức tin tưởng. Vì cho là có thần thánh trú ngụ, đã chở che cho dân trong thời kháng Pháp, báo mộng cho dân biết chỗ mà tránh nạn mỗi khi giặc càn quét. Nhưng tiếc thay, qua hai cuộc kháng chiến, Lão Mộc Lâm Vồ bị giặc cho là nơi che chở nghĩa quân, đem dội bom đạn nhiều lần, nên đã chết, chỉ còn lại tên chùa. Nhưng chùa còn một tên mới nữa là Kim Quang.

Hiện nay (2015) tại chùa Kim Quang, thuộc xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh còn một Lão Mộc tên là Xộp, bề hoành cỡ 9, 10 ôm, cao chừng 20 mét. Không ai biết lão được bao nhiêu tuổi rồi, nhưng các cụ già khoảng 8, 9 mươi tuổi cố cựu thì nói như vầy:

- Hồi còn nhỏ, tui hỏi ông nội tui, thì ông nội tui nói, hồi đó ổng cũng hỏi ông nội ổng, ông nội ổng nói là hồi vô ở đây thì cây đã có rồi, linh lắm nên không ai dám động tới.

Gần 100 năm trước có một nhà sư, pháp hiệu Phổ Chiếu, tên tục gọi là Thoại, đến ở đó mà tu hành, vì vắng vẻ lại ít người nên không ai biết cách sinh hoạt của ông như thế nào, nhưng khi viên tịch thì ngồi kiết già trên chạc mà tịch từ lúc nào, xác không hôi hám chi hết.

Dân trong làng thỉnh thầy ở chùa khác tới tụng kinh rồi xin keo, được keo mới dám thỉnh xuống xây tháp mà táng gọi là tổ sư, rồi chung đậu với nhau cất chùa, thỉnh thầy khác về trụ trì cho đến nay, đã qua nhiều đời. Nay chùa đang được xây dựng mới, kiểu dáng rất đẹp, rất trang nghiêm. Trong tương lai sẽ trở thành một ngôi chùa nổi tiếng trong vùng.

 

CÂY XỘP ĐÌNH AN NHƠN

Đầu thế kỷ XVIII, vùng Cao Lãnh có một làng ở về phía nam Tây Nam, sát với sông Cái tên là làng An Nhơn, có gia đình một người giàu có tên là Trần Văn Vàng. Vợ chồng ông Vàng đối xử với tá điền, tá thổ rất tốt, nhưng khổ nỗi là không có con, mà đã lớn tuổi. Vợ chồng rất buồn phiền. Những người quen thân đều đốc thúc ông bà xin con nuôi đặng mà lo phần hương hỏa, nhưng ông bà không chịu.

Đến khi triều đình có sắc phong Thành hoàng bổn cảnh cho làng An Nhơn, thì ban hội tề vô cùng lúng túng, vì không có kinh phí để cất dược một ngôi đình khang trang như các làng lân cận khác. Ông Vàng bây giờ làm đại hương cả trong làng bàn với vợ là hiến căn nhà ba gian hai chái bắt vần cất năm 1810 của mình đương ở làm Đình An Nhơn. Trước sân nhà có mấy cây dầu rái, có một cây khoảng 4 người cao lớn ôm mới giáp, cao trên 60 chục thước tây, rất suôn và thẳng, tàng phủ cả công đất. Còn phía sau có một cây xộp cũng tương đương, nhưng tàng thì thấp hơn, so với cây dầu chỉ cao trên dưới 20 thước, nhưng rộng thì không thua gì. Cả 2 cây che phủ rợp cả một vùng rộng lớn của Đình An Nhơn, chưa kể nhiều cây khác nhỏ hơn, tạo cho cảnh trí đình vẻ thâm nghiêm, huyền bí. Chính ông Vàng cũng không biết các loại cây nầy đã có từ thời nào. Ông chỉ biết qua lời cha, ông kể lại, trước kia nơi nầy là rừng rậm, nên khi quân gia vô tới theo lịnh của triều đình phát hoang lập làng, thì kiếm đất gò cao mà lập doanh trại, làm ch đóng quân, rồi mới mở đất, vì mùa nước, nước lớn lắm, tràn ngập như biển vậy.

Những cây lớn được lịnh chừa lại, là để che chắn giông tố trong mùa mưa bão. Ông nội ông, là đội trưởng được lịnh cùng một số quân ở lại canh tác, đem gia đình vô ở mà giữ đất lập làng. Số còn lại thì mở rộng ra lần lần.

Rất tiếc là sau ngày thống nhất, mấy cây dầu đã bị đốn để trục lợi, cây lớn nhất châu vi gần 10m. Gia sân đình còn sót lại một cây dầu khoảng 5, 6 chục năm tuổi, cao khoảng 40m rất suôn tốt, lớn c 1 ôm (1m8), lúc đó may mắn lọt ngoài tầm triệt phá. Tất cả niềm tín ngưỡng chỉ còn dồn hết vào Lão Xộp, nằm khiêm nhường sau hè Đình An Nhơn.

 

CÂY DẦU ĐÌNH TÂN TỊCH MỚI

Hễ nhắc tới đình Tân Tịch, thì 7, 8 chục năm nay những người xa xứ hay hỏi:

- Cây dầu còn không ?

Như vậy, cây dầu có liên quan mật thiết gì với Đình Tân Tịch mà hễ nhắc tới đình là nhớ ngay cây dầu. Không ai biết chắc là cây dầu được bao nhiêu tuổi. Chỉ có một tư liệu duy nhất trước năm 1975 công bố với mọi người về cây dầu, nhưng sau khi thống nhất đất nước, làng Tân Tịch bị chia làm hai, phần phía Đông thuộc xã Tịnh Thới, phần phía Tây thuộc xã Tân Thuận Đông thì tư liệu bị thất lạc. Chỉ có một số ít người biết được đôi phần, nhưng nay đã lớn tuổi nên không nhớ hết nội dung theo trình tự đo đạc vốn có.

Đại khái như sau, cây dầu rái nầy là 1 trong 7 cây cổ thụ còn sót lại ở Đồng bằng sông Củu Long: cây 670 năm tuổi; cao 77m; đường kính 1m82 (độ trung bình); phần suôn đều 38m; phần phân nhánh tới đọt cao nhất là 39m; chỉ tính phần cội cây dài 38m thì được trên 300m3; là cây lớn thứ 2 trong 7 cây (cây sao ở Cần Thơ 1300 năm tuổi là cây lớn nhất, nhưng vì bị sét đánh nhiều lần nên không còn nguyên vẹn).

Năm 1925, làng Tân Tịch lúc đó có ông Lê Hữu Điểu là đại hương cả, muốn ra tranh cử chức cai tổng, nhưng vì trong làng không còn đình. (Năm 1918, miễu thờ Tứ thánh nương nương Đại càn Quốc gia Nam Hải bị nước lũ cuốn bất ngờ, không kịp thỉnh sắc nên ban tế tự sợ rằng, kế tiếp là Đình Tân Tịch cũng sẽ bị đất lở nữa. Đúng như vậy, năm sau nước còn muốn nhiều hơn, nên ban tế tự họp lại quyết định thỉnh sắc gửi trên Đình An Nhơn. Mùa nước năm đó cuốn cây đa nằm chắn gió phía ngoài đình tróc gốc ngã xuôi theo nước. Cây đa nầy lớn lắm, cả chục người ôm không xuể, đường hoành cỡ 20 thước, luôn 3 cây bằng lăng cỡ 4 người ôm mới giáp. Đình Tân Tịch cũng trôi luôn. Hiện nay, cây đa tróc gốc vẫn còn di tích ngay bến cũ, mặc dù đã chết gần trăm năm, những rễ nằm trên mặt đất còn lại cho tới bây giờ là khoảng một người ôm. Riêng 3 cây bằng lăng, bị tàu cào cá ở An Giang biết được nên mướn thợ lặn cắt phần cội, mỗi cây dài hơn 20 mét lấy mất, vào nằm 2000).

Ban tế tự rước thầy Ba Đạt ở Sa Đéc lên kiếm cuộc đất tốt để cất đình mới. Thầy lựa được một cuộc đất rất tốt, đó là cái doi tại ngã ba cái rạch lớn, cách miệng vàm Long Sa chừng 700m. Cái rạch lớn nầy, từ vàm Long Sa đổ vô nước chảy thông thương, xa hơn một chút cũng có một cái gò khác cao hơn, nhưng cây cối um tùm không có người ở, có 2 cây dầu rái lớn khoảng 5, 6 chục mét, 1 cây lớn, 1 cây nhỏ.

Đất ngã ba nầy là phần ăn của ông Tô Văn Ảnh, nhưng ông Ảnh là dân lang bạt kỳ hồ, không biết ở đâu mà tìm, ông Điểu vì gấp nên quyết định cất đình lên cái gò phía trong, là đất làng. Muốn cất chỗ nầy, phải đốn nhiều cây cối, trong đó có 1 cây dầu cỡ 2 người ôm và 4, 5 cây gõ đỏ, tuy nhỏ hơn cây dầu nhưng vì gõ chậm lớn nên tuổi thọ chưa chắc nhỏ hơn mấy cây dầu. Đốn cây dọn dẹp trống trải rồi, bắt đầu xây dựng, thầy Ba Đạt lắc đầu ngao ngán nói với ban tế tự:

- Thiệt mấy ông gấp làm quá, cho tốn kém công sức tiền của, chớ cuộc đất nầy cất đình không được đâu.

Rồi ông buồn bã đi về Sa Đéc. Đình cất từ năm 1925 đến tháng tư năm 1928 mới hoàn thành. Đình quay mặt về hướng Đông, phía sau còn lại cây dầu lớn đứng sừng sững, tàng dù tròn vo vừa uy nghi, vừa đẹp vô cùng. Ngày khánh thành là ngày cúng Kỳ yên hạ điền năm Mậu Tí (1928) thì có sự cố. Sau khi hát cúng hết con nước rằm tháng tư, thì 2 chiếc ghe chài ba của gánh ông bầu Luông ra không được vì nước kém, phải nằm lại tới cuối tháng sáu, làm gánh phải mướn ghe khác chở đồ, tốn kém hết sức. Vả lại ông đaị hương cả lại thất cử cai tổng, nên cũng thấy mất mặt, quay trở về củng cố lại chức cũ, cũng không còn dám cãi lời thầy Ba Đạt, dời đỉnh ra ngã ba, cây dầu cũng nhờ đó mà trống trải, quang đãng. Cây gõ cuối cùng lớn cỡ hơn một người ôm cũng bị trời đánh gãy đọt, nghiêng ra đường, làng bán cho thợ cưa làm ngựa gõ hay cho khá đông cư dân về cất nhà cửa, cho đến nay.

Người dân làng Tân Tịch đi xa xứ làm ăn, hễ gặp lại người quen cùng làng, dù nói chuyện gì thì nói, nhưng thường hỏi:

- Cây dầu đình còn không?

 

H.T.H

_______________

(*) Tác phẩm tham dự Trại viết Văn nghệ Dân gian lần thứ II năm 2015 do Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp tổ chức.
 
     
  Cộng tác viên ( Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)








  • THƯ CẢM ƠN! (19/08/2018)

  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |