Chủ Nhật, ngày 23 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  04/10/2016  
  MỘ ÔNG PHÒNG BIỂU  
  Để trả lại Phòng Biểu một ngôi vị đàng hoàng, thiết nghĩ cải táng và xây dựng lại ngôi mộ của ông không còn là chuyện lâu dài mà trở thành việc cần phải làm ngay.  
 
  NGUOI-CAN-VE-THANH-HA.jpg
Tiểu thuyết lịch sử "Người cận vệ" viết về ông Phòng Biểu của tác giả Thanh Hà

MỘ ÔNG PHÒNG BIỂU

 

HỮU NHÂN

 

            Vài điều về nhân thân Phòng Biểu

            Phòng Biểu tên thật là Nguyễn Văn Biểu. Ông sinh năm 1830 ở Tổng Phong Thạnh, Huyện Kiến Phong, Tỉnh Định Tường (nay thuộc Xã Tân Phú, Huyện Thanh Bình, Tỉnh Đồng Tháp) trong một gia đình nông dân nghèo. Tuy vậy, lúc nhỏ ông có theo học chữ Nho và võ nghệ.

            Theo người xưa kể lại thì Nguyễn Văn Biểu có một thân hình cao lớn và sức khỏe hơn người. Đặc biệt, ông có một sức ăn rất phi thường có thể ăn một lần no rồi nhịn đến năm bảy ngày sau mới ăn lại mà vẫn lao động như mọi người. Thuở thiếu thời, Nguyễn Văn Biểu phải làm nhiều việc như phát cỏ, tát đìa, chèo ghe mướn… giúp gia đình. Sau đó, ông cùng người anh trai là Nguyễn Văn Phuông theo người cậu về Mỹ Thọ (huyện  Cao Lãnh) kiếm việc làm. Trong thời gian sinh sống ở đây, tiếng đồn về sức khỏe và tài võ nghệ của ông lan ra khắp cả vùng. Trong một lần ông chèo nghe cho người cậu đi bán cối xay, khi tới Định Tường, tình cờ được quan Chánh Lãnh binh ở đây biết đến, muốn giữ lại nhưng ông từ chối. Chuyện này được kể lại như sau: Khi ghe của cậu cháu ông tới Định Tường thì trời đã xế chiều. Hai người cho ghe ghé vào một cái ụ có lau sậy chung quanh kín gió để nấu cơm. Biểu nghe đâu đây hình như có tiếng binh khí va chạm vào nhau và có tiếng la hét. Hỏi người cậu, mới biết được gần đây có một trường võ bị tập luyện cho số lính mới tuyển. Nghe vậy, ông liền xin phép cậu đến xem cho biết. Người cậu biết ông khỏe lại giỏi võ nghệ, sợ ông ỷ sức gây rắc rối lôi thôi, nên dặn chỉ đến xem một chút rồi về nấu cơm. Ông vâng lời đi một lát rồi trở về. Người cậu hỏi:

- Mày đến đó, thấy người ta dạy nghề võ ra làm sao?

- Thưa cậu, trường dạy đủ cả thập bát ban võ nghệ. Không biết các ông quản cơ, lãnh binh thì sao, chứ mấy tay đội xuất, cai cơ vung đao múa gươm chỉ để đuổi gà đánh chó chớ làm gì được ai!

- Ấy chết, sao mày lại nói vậy, ở đây gần trường lắm, rủi có người nghe được thì sao?

Không ngờ lúc ấy có một viên đội xuất, sau giờ dạy lính luyện tập, ra bờ sông chui vào đám lau tiểu tiện nghe được mấy lời trên, về báo lại các võ quan chỉ huy trường. Lập tức ông bị một viên đội xuất và ba người lính xuống tận ghe điệu về trường, làm người cậu vô cùng lo sợ.

Tại trường, các võ quan thấy ông có tướng tá cao lớn đường bệ nên không dám quát nạt, hỏi tại sao ông nói như vậy. Ông bình tĩnh trả lời:

- Thưa, tôi thấy sao nói vậy với cậu tôi chớ có thêm bớt chi đâu!

- Thế nhà ngươi có tài nghệ gì mà dám khen chê như vậy?

- Thưa, lúc nhỏ, tôi có học võ vẽ vài ba đường côn đường quyền thôi!

- Thôi được, ta sẽ thử tài nhà ngươi.

Viên đội xuất giỏi môn đánh quyền nht trường được gọi ra. Ông rất bình tĩnh, mặc cho viên đội tấn công tới tấp, ông vừa tránh đòn vừa lùi dần, lùi dần, khi đến một con mương rộng, nhanh như chớp ông chộp lấy thắt lưng của viên đội ném anh ta xuống nước. Khi viên đội vừa chạm nước, ông đã phóng mình qua mương và chộp lấy viên đội như lúc nãy, ném qua bờ bên kia cùng với ông. Viên đội ngơ ngác, cứ tưởng mình sẽ bị nhận chìm xuống nước không ngờ mình mẩy khô rang.

Tiếng vỗ tay vang lên như sấm.

Tiếp theo đó, một viên võ quan khác bước ra, tay cầm trường côn, ông cũng được cấp một cây. Viên võ quan nầy đã xem ông đánh quyền, biết được sức và tài của ông. Nên để thủ thắng ngay từ lúc đầu, ông ta múa côn ào ào, tạo thành một bức tường che kín người và tấn công ông như vũ bão. Ông cũng tránh đòn và không chống trả, đợi đến lúc đối thủ thấm mệt và có sơ hở, ông đập mạnh một côn vào côn đối phương, làm côn gãy bắn ra mấy trượng, hay bàn tay của viên võ quan bị tét, máu tuôn dầm dề.

Mọi người vỗ tay không tiếc lời khen ngợi. Các quan không bắt tội, mà còn mời ông ở lại trường để huấn luyện binh sĩ, nhưng ông từ chối.

            Chuyện thực hư ra sao thì chỉ có người đương thời với ông mới rõ nhưng chắc chắn một điều rằng, tính tình nhân hậu của Nguyễn Văn Biểu đã được một gia đình khá giả ở Rạch Miễu (nay thuộc Thị trấn Mỹ Thọ, Huyện Cao Lãnh) gả con gái và cho ở rể để chăm sóc ruộng nương cho nhà vợ. Tại đây, người ta còn truyền tụng về sức khỏe của ông như sau: Tới mùa cấy, nhà vợ ông thường cấy một lần năm bảy chục công, nên công việc rải mạ phải cần tới bốn năm người mới kịp. Vào mùa cấy năm nọ, có một người bạn cờ tướng tâm đắc đến thăm ông, mà ông thì có tật mê cờ. Vậy thì sao có thể vừa làm việc vừa hầu cờ với bạn? Ông liền kéo một chiếc ghe có sức chứa một trăm giạ lúa vào ruộng, rồi đi đánh cờ, trong khi đó nhạc gia ông cùng mấy anh em vợ chất mạ cho đầy ghe. Xong, ông liền nghỉ đánh cờ một chút để kéo đầy mạ đi qua đi lại trong ruộng cho những người kia đứng trên ghe rải mạ cho công cấy. Chỉ một loáng là hết một ghe mạ! Ông lại tiếp tục đánh cờ... cứ như thế cho đến lúc cấy xong.

            Khi được tin Thiên hộ Dương kéo quân về lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ để chống Pháp, ông liền từ giã vợ con lên đường gia nhập hàng ngũ nghĩa quân. Nhờ khỏe mạnh, giỏi võ, gan dạ và một lòng với nghĩa quân, nên buổi đầu, ông được Thiên Hộ Dương chọn làm chỉ huy đội phòng vệ. Vì thế mọi người lúc bấy giờ thường gọi ông là Phòng Biểu hay Phòng Tám (vì ông là người con thứ tám trong một gia đình). Từ đó, tiếng tăm ông vang dội khắp vùng Cao Lãnh. Nhất là khi ông nhận trách nhiệm điều tra và trừng trị những tên Việt gian. Trong số những việc làm này của ông, có chuyện kể lại rằng: Năm ấy, đáo lệ KYên, đình làng Tân Yên (sau này là Tân An) cúng thần rất lớn, có hát bội. Chức việc Làng Tân Yên có mời nhiều quan trên, trong đó có cả quan Tây và quan quản bộ đạo Phạm Văn Khanh. Để lấy lòng quan quản bộ đạo, hương cả Làng Tân Yên mời Phạm Văn Khanh ở lại cầm chầu đêm hát cúng thần đầu tiên.

Được nhân dân báo rõ mọi điều, Phòng Biểu bí mật đến ẩn mình trong một ngôi nhà sát bên đình làng. Tối đến, sau khi buổi hát xây chầu được một lúc, đột nhiên trên sân khấu xuất hiện một kép hát lạ thường: người cao lớn vạm vỡ, oai phong như một vị tướng, nhưng lại mặc thường phục, đầu chít khăn rìu, tay cầm thiết bảng, nói sang sảng:

- Ta là quan Phòng vệ Nguyễn Văn Biểu, tới đây là để trị tội tên phản dân hại nước Phạm Văn Khanh. Xin bà con đi coi hát hãy yên lòng.

Phạm Văn Khanh rụng rời, buông dùi trống, luống cuống định tìm đường tẩu thoát, nhưng Phòng Biểu đã nhanh tay bắt lấy y, cắt đầu.

Xác Phạm Văn Khanh bêu tại cây dương trước đình. Trước khi rút lui, Phòng Biểu còn dặn dân chúng: đúng ba ngày mới cho gia đình Phạm Văn Khanh lấy xác về chôn.

Trong suốt thời gian theo nghĩa quân, ông được Thiên Hộ Dương trọng dụng, luôn luôn có mặt bên cạnh chủ tướng. Trải qua bao trận đụng độ đẫm máu với giặc, lúc nào ông cũng tỏ ra là một vị tướng có tài, dốc lòng hy sinh cho đại cuộc. Sau tháng 4/1886, đại bản doanh ở Đồng Tháp Mười bị triệt hạ, Đốc Binh Kiều bị thương và qua đời. Phòng Biểu đem quân còn lại rút về Thông Bình (nay thuộc Huyện Tân Hồng, Tỉnh Đồng Tháp) cố thủ một thời gian rồi phải giải tán vì sức cùng binh kiệt. Để tránh sự truy lùng của giặc Pháp và tìm cơ hội tiếp tục chiến đấu, Phòng Biểu đã đi khắp nơi, khi thì Rạch Giá, Phú Quốc, lúc qua tận Cao Miên. Chí lớn không thành cùng với tuổi cao sức yếu, những năm cuối đời, Phòng Biểu sống ẩn dật trong chùa Bửu Lâm và cùng với sư Hải Huệ dạy võ cho thanh niên trong vùng.

Phòng vệ Nguyễn Văn Biểu mất ngày 10/8 (âm lịch) năm 1914.

Những liên quan khác về Phòng Biểu

Có truyền thuyết cho rằng, sau khi Thiên Hộ Dương mất, nghĩa quân phân tán khắp nơi thì Phòng Biểu có về Mỹ Thành (nay thuộc Xã Bình Hàng Trung, Huyện Cao Lãnh) cùng với ông Nguyễn Văn Rác, cũng là một nghĩa binh của Thiên Hộ Dương khai khẩn đất đai. Lý do khai khẩn có thể do cả hai muốn trốn tránh sự tầm nã của giặc Pháp hay muốn lập một căn cứ khác để tiếp tục cuộc chiến đấu vẫn là một tồn nghi.

Người dân cố cựu ở đây kể rằng, nơi hai ông khai phá trước đó vài mươi năm là một vùng đất hoang vu. Rồi một nhóm người Khmer từ miệt Trà Vinh, Sóc Trăng gì đó lên định cư thành một xóm nhỏ khẩn hoang lập nghiệp. Nhưng có lẽ do điều kiện thổ nhưỡng không phù hợp với tập quán của người Khmer nên họ dần bỏ đi. Vì vậy, con rạch từ kinh Cái Bèo chạy ra kinh Hội Đồng Tường ngày nay, hồi đó được gọi là rạch Cao Mên. Vùng đất nằm dọc theo con rạch này tiếp tục bị bỏ hoang cho đến khi ông Phòng Biểu về khai phá. Nhưng rồi cũng chỉ được vài năm thì ông lại bỏ đi không rõ tung tích. Có thể chính vì nhớ đến công lao khai phá trước kia mà khi Phòng Biểu mất, người dân nơi đây đã an táng ông ngay trên mảnh đất này.

Chuyện còn kể rằng, sau khi ông mất vài năm, có người trong Ban Tế tự đình Mỹ Long (*)  nhìn thấy một người cao lớn ngồi ở phía nhà mát dưới bến sông tự xưng là Phòng Biểu rồi đi thẳng vào trong đình Mỹ Long và biến mất. Từ đó Ban Tế tự đình Mỹ Long quyết định cho tạc một pho tượng để phụng thờ và xem như ông là một trong những thành hoàng bổn cảnh của đình này cho đến nay. Sở dĩ chúng tôi nói ông là một trong những thành hoàng bổn cảnh vì căn cứ vào những sắc thần của đình Mỹ Long được cấp từ thời vua Thiệu Trị thứ năm (tức năm 1845). Vì vậy, có truyền thuyết cho rằng thành hoàng đình Mỹ Long có sắc phong là Phòng Biểu hoàn toàn không chính xác và chuyện ấy càng không thể xảy ra khi mãi đến năm 1914, ông Phòng Biểu mới qua đời.

            Người cháu cố của Phòng vệ Nguyễn Văn Biểu là Nguyễn Văn Dượt năm nay đã 86 tuổi hiện đang sống tại p 3, Xã Bình Hàng Trung kể rằng: Ông cố tôi có hai người con, một trai, một gái. Người con trai tên là Nguyễn Văn Ấn (tức ông nội của ông Nguyễn Văn Dượt) và người con gái là Nguyễn Thị Thìn. Khoảng những năm 1960, bà Thìn có về thăm lại chùa Bửu Lâm và viếng mộ cha mình.

            Trong lần về viếng mộ cha duy nhất đó, bà Thìn kể lại với con cháu rằng: Những năm cuối đời, ông Phòng Biểu không dạy võ cho ai, kể cả con trai mình là Nguyễn Văn Ấn. Ông thường hay nói với hai anh em bà là sau này đánh Pháp phải đánh bằng súng đạn chớ dùng võ nghệ thì không thể thắng chúng được. Tuy nhiên, với bà Thìn thì ông vẫn truyền nghề võ cho với ý niệm con gái trong thời buổi loạn lạc phải có chút đỉnh võ nghệ phòng thân. Rất tiếc, khi dạy đến môn khinh công đi qua sông không cần ghe thuyền thì ông Phòng Biểu ngã bệnh do sức yếu nên bà Thìn không học được trọn vẹn nghề của cha mình.

            Lúc bà Nguyễn Thị Thìn về thăm mộ cha, những người trong gia đình hỏi thì chỉ được bà trả lời là đang sống với gia đình bên chồng ở Trung Lương (Mỹ Tho). Có một người con trai tên Lúa. Sau đó, vì chiến tranh nên mất hẳn liên lạc cho đến nay.

            Về phần mộ ông Phòng Biểu, được biết trước đây, Hội Khoa học Lịch sử Tỉnh Đồng Tháp có làm việc với lãnh đạo Huyện Cao Lãnh, lãnh đạo Xã Bình Hàng Trung và Ban Tế tự đình Bình Hàng Trung thống nhất phương án sẽ bốc mộ và di dời về an táng trong phần đất của đình cho xứng đáng với công trạng của một người yêu nước. Tuy nhiên, mãi cho đến nay, ngôi mộ Phòng Biểu vẫn còn nằm trơ trọi trong một mảnh vườn của người dân địa phương. Giải thích việc này, lãnh đạo Huyện Cao Lãnh nêu ra hai lý do. Một là cần phải xác định chính xác ngôi mộ trước nay nhân dân chăm nom, coi sóc có thật sự là mộ ông Phòng Biểu hay không. Hai là, việc di dời phần mộ ông phải được họ tộc đồng ý ch mới chỉ riêng gia đình ông Nguyễn Văn Dượt là chưa đủ. Cả hai việc phải làm này đều ngoài khả năng của Huyện Cao Lãnh.

            Như vậy, để phần mộ Phòng vệ Nguyễn Văn Biểu trở thành một di tích lịch sử, giờ đây không còn là trách nhiệm của của một cá nhân hay một tổ chức nào mà phải cần có sự tham gia của nhiều cơ quan chức năng liên quan. Trước tiên là việc tìm kiếm và liên lạc với những thân nhân của gia đình. Sinh thời, ông Phòng Biểu có tám người anh em. Chắc chắn những con cháu trong họ tộc ông giờ vẫn con rất nhiều. Nếu nhờ đến các cơ quan chức năng như tư pháp, công an thì công việc tìm kiếm này cũng không phải đến mức quá khó khăn. Thứ hai, việc xác định phần mộ hiện nay có thật sự chính xác là mộ ông Phòng Biểu mới là việc khó khăn. Việc này, chắc chắc phải nhờ đến các nhà khoa học, các nhà khảo cổ và những cơ quan nghiên cứu có các phương tiện kỹ thuật khác cùng phối hợp thì mới có thể xác định chính xác được.

Mặt trời vẫn mọc đằng đông/ Lăng minh quân vẫn dựng trong lòng người/ Bao triều vua phế đi rồi/ Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ!. Những câu thơ của nhà thơ Nguyễn Duy kính viếng hương hồn vua Duy Tân nhưng có lẽ cũng đúng với những người yêu nước như Phòng vệ Nguyễn Văn Biểu. Để trả lại Phòng Biểu một ngôi vị đàng hoàng, thiết nghĩ cải táng và xây dựng lại ngôi mộ của ông không còn là chuyện lâu dài mà trở thành việc cần phải làm ngay.

 

H.N

 

 _____________________

(*) Theo truyền khẩu, từ đời ông Phạm Văn Lịch là người đứng ra dựng lại ngôi đình lần đầu tiên vào năm 1911 đến thời cháu nội ông là Phạm Văn Lạc thì đình Mỹ Long vẩn nằm tại Xẻo Quýt, trên nền nhà của ông thợ rèn Trị. Đình lợp bằng lá, rộng 4m, dài 6m. Trong đình, ngoài chiếc bàn thờ bằng gỗ thô sơ, trên đặt lư hương và hòm ấn thì hầu như không còn thêm một vật nào có giá trị khác. Giữ đình chỉ duy có một ông từ chăm lo việc khói nhang.

Mặc dù được cất ở nơi thâm sâu hoang vắng, phía sau là rừng rậm với đủ các loại thú dữ như heo rừng, rắn, trăn..., nhưng mỗi khi đến lễ cúng Kỳ Yên hàng năm, nhân dân trong vùng vẫn làm heo, đem chè xôi đến đình cúng tế đông đảo. Đứng ra chỉ huy đàn tế bấy giờ là một viên quan tuần phòng của nghĩa quân Thiên Hộ Dương không rõ họ, chỉ biết tên ông là Biểu nên nhân dân trong vùng thường gọi ông là Phòng Biểu. Cùng đứng ra việc lo cúng tế, thu nhận tiền bạc của bà con trong vùng đóng góp cho nghĩa quân, còn có một số cận vệ của ông Phòng Biểu. Trong số này có người anh thứ hai của ông Phạm Văn Lịch là Phạm Văn Quyển giữ chức Cai cơ, về sau hy sinh khi nghĩa quân Thiên Hộ Dương thất thủ ở Tháp Mười. Theo gia phả của họ Phạm ở Mỹ Long, ông Quyển tính đến nay đã hơn 160 tuổi (NV).

 
     
  Hữu Nhân ( Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)








  • THƯ CẢM ƠN! (19/08/2018)

  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |