Chủ Nhật, ngày 23 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  03/11/2016  
  NGHỀ RÈN CÁI TÀU HẠ - CHÂU THÀNH  
  Nơi đây, thuở trước tập trung hàng trăm lò rèn, hầu hết các lò đều khắc con số 5. Chỉ cần nhìn con số 5, người dùng biết sản phẩm này sản xuất ở đâu, chất lượng như thế nào. Về sau, để khách hàng phân biệt sản phẩm của từng lò, người ta ấn thêm chữ cái đi kèm sau số 5, như: 5K, 5N, 5C, 5L, 5T, 55, 555…  
 
 

20161031_181954.jpg


NGHỀ RÈN CÁI TÀU HẠ - CHÂU THÀNH

 

DƯƠNG VĂN TRIÊM

           

Do có điều kiện giao thương thuận lợi nên vùng đất Cái Tàu Hạ thuộc huyện Châu Thành, Đồng Tháp là một trong những nơi có nghề rèn phát triển nhất. Nghề rèn ở đây biểu trưng cho một giai đoạn nông nghiệp trồng lúa ngày càng được mở rộng và công đoạn thu hoạch lúa vẫn chưa diễn ra quá trình cơ giới hoá.

 Nơi đây, thuở trước tập trung hàng trăm lò rèn, hầu hết các lò đều khắc con số 5. Chỉ cần nhìn con số 5, người dùng biết sản phẩm này sản xuất ở đâu, chất lượng như thế nào. Về sau, để khách hàng phân biệt sản phẩm của từng lò, người ta ấn thêm chữ cái đi kèm sau số 5, như: 5K, 5N, 5C, 5L, 5T, 55, 555… Chữ cái đi kèm theo con số 5 thường là mẫu tự đầu của tên chủ lò. Con số 5 vừa mang dấu ấn của nghề rèn Cái Tàu Hạ vừa là chìa khóa để tìm hiểu lai lịch của làng nghề này. Theo một số người cao niên ở địa phương thì người mang nghề rèn về Cái Tàu Hạ là ông Nguyễn Văn Kiếm (bà con trong xóm thường gọi là Ba Kiếm) và hầu hết các chủ lò rèn ở Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang... đều học nghề từ con trai ông Ba Kiếm là ông Nguyễn Văn Tỵ (tên thường gọi là ông Sáu Bốn - chủ lò rèn 5K lúc bấy giờ). Sau đó, hai ông Nguyễn Thành Nhạc và Nguyễn Thanh Mỹ, con ông Sáu Bốn, tiếp tục nối nghiệp truyền thống của gia đình, cùng nhiều thợ rèn trong vùng đưa nghề rèn phát triển.

Trải qua bốn thế hệ trên 100 năm, có thể nói nghề rèn Cái Tàu Hạ là một trong những cái nôi của nghề rèn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Các chủ lò rèn ở Cái Tàu Hạ ngày nay, không ai biết lai lịch ông tổ nghề mình, nên ngay tại mỗi lò, thường thiết lập một cái trang thờ Ông Lò với bài vị, lọ cắm nhang, chung nước và nghi thức cúng lễ rất đơn giản là thắp nhang hàng ngày khi nổi lửa lò, ngày rằm cúng bánh trái. Có lò đến mùng 4 hoặc mùng 7 cúng mặn với con vịt luộc. Cũng có nơi cúng Ông Lò cùng ngày với ngày giỗ người mang nghề về làng.

Về đặc điểm của nghề rèn:

Trong quá trình rèn, cách chọn thép và kỹ thuật tôi thép là bí quyết gia truyền của từng lò rèn để tạo nên độ bền của sản phẩm. Tùy theo loại thép mà người thợ có thể trui với độ lửa nhiều ít và thời gian tiếp xúc với nước cũng khác nhau... Mua thép về, cắt theo hình dạng riêng, sau đó đem đi làm nóng, dùng búa đập tạo dáng, đóng mộc riêng cho sản phẩm, rồi đàn, sửa tạo dáng, mài, gọt, giũa, trui (hay còn gọi là tôi thép) và tiếp tục mài lại, thoa dầu bóng... Trong những năm khó khăn về vật tư chủ yếu là sắt và than, các chủ lò mua sắt vụn về đun cặp với thép bằng bí quyết riêng, canh ống bể theo nhiệt độ vừa phải theo kinh nghiệm của từng chủ lò để sản phẩm của mình mang lại ấn tượng tốt cho khách hàng.

Nhiều khi, chủ lò rèn phải dùng củi tràm để thay thế cho nguồn than khan hiếm và mua sắt vụn về nhồi lại thành một thỏi sắt. Bằng kinh nghiệm, kỹ thuật riêng, người thợ tính toán, định lượng từng loại sắt thép phù hợp rồi chẻ sắt kẹp thép vào giữa và rèn ở nhiệt độ thích hợp. Nếu non lửa thì loại kim loại này không liền nhau, nếu già lửa thì sản phẩm dễ bị đứt ngang. Với k thuật sắt cặp thép, các sản phẩm làm ra đáp ứng được yếu cầu của khách hàng: bénbền, chỉ cần mài nhẹ lớp sắt bên ngoài, vô tới lớp thép bên trong là đã tới độ bén...

Tùy theo nhu cầu của từng vùng mà các lò rèn cung cấp công cụ, đồ dùng khác nhau, nhưng nhìn chung có thể tạm chia thành 3 nhóm:

- Đồ dùng trong sinh hoạt: dao (dao yếm, dao phay, dao cau (dao ăn trầu), kéo, búa (bửa củi, đẽo cây, đốn cây…) lưỡi mác (mác vót, mác thông)…

- Công cụ sản xuất: các loại phảng phát cỏ, các loại lưỡi liềm, lưỡi hái, lưỡi cày, lưỡi cuốc, lưỡi xuổng, lưỡi vá, các loại rựa (thu hoạch mía, khóm thơm), chét làm cỏ… Công cụ phục vụ cho nghề mộc: lưỡi cưa, đục, bào, búa, rìu đẽo cây…

- Vũ khí chiến đấu: mã tấu, dao găm, kiếm, đao…

Tuy nhiên ở vùng Cái Tàu Hạ, ngoài sản phẩm phục vụ sinh hoạt, sản phẩm chủ yếu của nghề rèn là lưỡi hái cắt lúa. Nơi đây không rèn búa như ở Hoà Hảo, An Giang, vì rèn búa có những yêu cầu kỹ thuật riêng không như các sản phẩm cùng loại khác. Những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, lưỡi hái Cái Tàu Hạ sản xuất không đủ bán. Thương lái khắp nơi đổ dồn về ăn ngủ tại lò chờ lấy hàng. Mỗi lò rèn một ngày sản xuất được một trăm mà nhu cầu thì lên đến vài ba trăm.

Công đoạn quan trọng nhất để làm nên uy tín và thương hiệu cho lưỡi hái Cái Tàu Hạ là công đoạn cắt chấu. Độ bén của lưỡi hái không giống như độ bén của lưỡi dao. Cắt chấu là dùng dao chuyên dụng bằng thép khắc mạnh nhiều vạch xéo đều nhau trên lưỡi hái đã rèn xong, bắt đầu từ phẫn mũi lưỡi hái đến phần thân, sao cho phần lưỡi của lưỡi hái có răng như răng cưa. Khi lưỡi hái lụt, không phải mài vào đá như mài dao, mà phải đem đến lò rèn cho thợ cắt chấu lại. Lưỡi hái có sắc bén hay không là tuỳ thuộc vào kỹ thuật của người thợ cắt chấu. Người thợ lành nghề, có kinh nghiệm mỗi ngày cũng chỉ cắt chấu khoảng một trăm lưỡi hái.

Giai đoạn gần đây, người ta chế tạo ra máy cắt chấu sử dụng mô - tơ điện do những đi - na - mô chạy bằng các loại máy dầu, nên số lượng tăng lên đáng kể. Nghề cắt chấu lưỡi hái bằng tay dần dà không còn ai theo học nữa. Lưỡi hái cắt chấu bằng máy nhanh hơn bằng tay nhưng chất lượng ngày càng giảm đi. Lưỡi hái Cái Tàu Hạ không còn bén và bền như trước, từng bước mất dần thị trường. Lưỡi hái Hoà Hảo thay thế vì ở đó, người ta vẫn cắt chấu theo kiểu thủ công.

Cũng như mọi nghề khác, nghề rèn cũng phải qua một quá trình rèn luyện tay nghề. Học từ chuyện nhỏ nhất là nhóm lửa, canh lửa, thụt bể, làm vóc (cắt thép phôi để tạo dáng ban đầu cho chiếc lưỡi hái) đến sắp (đốt trong lửa và tán đều cho vóc mỏng ra), đàn (làm thành sản phẩm thô), trui (làm cho sản phẩm cứng lại trước khi thành phẩm), tra cán, bôi dầu chóng rỉ... Hàng chục công đoạn lớn nhỏ khác nhau theo một quy trình khép kín cần được thực hiện hoàn chỉnh mới có sản phẩm tốt.

Nghề rèn thủ công ở đây từng có một thời rất thịnh vượng, nhưng trước những biến động của thị trường, sự thiếu hụt về nguyên liệu, đầu ra cho sản phẩm khó khăn, thêm vào đó những năm gần đây với sự có mặt của nhiều chủng loại hàng hoá từ trong và ngoài nước, nht là các máy móc cơ giới hóa nông nghiệp, các sản phẩm của làng nghề rèn ở Cái Tàu Hạ đã dần mất chỗ đứng. Những khó khăn về việc tìm đầu ra cho sản phẩm cũng như giá cả nguyên liệu luôn biến động làm cho nghề rèn ở đây bước vào giai đoạn khó khăn. Có thể nói từ những năm đầu của thế kỷ này, nghề rèn Cái Tàu Hạ có dấu hiệu tụt dốc, đơn đặt hàng ngày một thưa dần. Nhiều lò đã tắt lửa.

Dẫu vậy, ngày nay, vẫn còn một số lò rèn lớn ở Cái Tàu Hạ có điều kiện đầu tư kinh phí mua máy cắt thép, máy dập, cải tiến mẫu mã để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm máy móc và tập trung sản xuất các mặt hàng chủ lực, thế mạnh của riêng mình. Mặt hàng chủ lực của các lò rèn này chủ yếu là dao. Thế hệ chủ lò mới này đã mạnh dạn thay những ký hiệu truyền thống 5K, 5N, 5L… bằng những cái tên NHUT, TU, PHONG... trên sản phẩm của mình. Hiện sản phẩm của họ được tiêu thụ rộng khắp từ Đồng bằng sông Cửu Long đến miền Trung, xuất khẩu sang cả Campuchia. Sản lượng của cơ sở làm ra khoảng 300 đến 400 sản phẩm/ngày nhưng không cung cấp đủ cho thị trường.

Bằng sự khéo léo, tài hoa, với mồ hôi và công sức lao động, người thợ rèn đã biến những khối sắt thép vô tri trở thành những vật dụng hữu ích. Ngày nay nhiều thợ rèn tại Cái Tàu Hạ vẫn kiên trì, bền bỉ bám trụ để giữ cho nghề không bị mai một, thất truyền.

 

                                                                                                                                                           D.V.T
 
     
  Cộng tác viên ( Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)








  • THƯ CẢM ƠN! (19/08/2018)

  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |