Chủ Nhật, ngày 23 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  13/03/2017  
  CHUYỆN VỀ HÙNG DÕNG TƯỚNG NGUYỄN CÔNG NHÀN  
  Người dân Long Hưng - Nước Xoáy kể lại rằng, họ không biết ông tên gì mà chỉ quen gọi là ông Hùng dõng. Ông cũng binh lính về đây đào hào, đắp lũy làm căn cứ. Dấu tích còn lại đến nay là Rạch Dinh nơi ghe ô, ghe sa (một loại ghe có mui che, xưa dùng cho quan quân đi) thường ra vào căn cứ.  
 
 

4.jpg


CHUYỆN VỀ HÙNG DÕNG TƯỚNG NGUYỄN CÔNG NHÀN

 

HỮU NHÂN

           

Thăng trầm đời binh nghiệp

            Theo các tài liệu ghi chép trong Quốc sử quán triều NguyễnĐại Nam liệt truyện (Q.2) thì Hùng dõng tướng Nguyễn Công Nhàn người gốc Biên Hòa, phục vụ trải qua ba triều đại Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Cuộc đời binh nghiệp của ông bắt đầu từ năm Minh Mạng thứ 16 (1835) khi ông được thụ chức Chư quân Phó vệ úy và nhanh chóng được thăng Phó lãnh binh (Lãnh binh là chức quan võ, trật chánh tam phẩm, chỉ huy quân sự trong một tỉnh nhỏ) Trấn Tây Thành (1) vào năm 1839. Nhưng ngay năm sau, tháng 2/1840 thì Nguyễn Công Nhàn lại bị giáng hai cấp khi để quân Xiêm lẻn vào Trấn Tây Thành bắt đi 70 người. Đến tháng 10/1840, ông lập đại công tiu trừ phản loạn nên được thưởng thụ Vê úy (quan võ, trật chánh tam phẩm), sung làm Phó lãnh binh và được vua Minh Mạng thưởng một đồng kim tiền Phi long (2) hạng nhỏ, một cái nhẫn vàng và gia huân công một cấp và tháng 11/1840, lại được tặng một đồng kim tiền Phi long hạng lớn và thăng bổ Lãnh binh Trấn Tây Thành. Tháng 12/1840, ông cùng các tướng Trương Minh Giảng, Bùi Công Huyên, Đoàn Văn Sách… dùng thuyền phá tan những đợt tấn công bao vây Trấn Tây Thành của quân Xiêm nên được nhà vua phong một kim bài có 4 chữ Hùng dõng chi tướng. Tháng 9 năm 1841, Trấn Tây Thành bị mất về tay quân Xiêm, Nguyễn Công Nhàn và thuộc hạ là Đoàn Văn Sách phải rút về An Giang, bị triều đình giáng hai cấp. Khi rút về An Giang thì Trương Minh Giảng bệnh mất, Nguyễn Công Nhàn có công giữ yên biên giới nên phong làm Đề đốc (võ quan, trật Chánh nhị phẩm, chỉ huy quân sự trong một tỉnh lớn) An Giang, được thưởng một tấm mã não khắc chữ Long hổ có dây đeo, một cái áo quan võ bằng gấm tốt, bông tròn nhỏ, màu lam.

            Thiệu Trị năm thứ 2 (1842) Nguyễn Công Nhàn và Nguyễn Công Trứ được triều đinh giao binh quyền đóng giữ vùng kinh Vĩnh Tế để phòng ngừa quân Xiêm đánh sang. Được vài tháng, Nguyễn Công Trứ bị bệnh nên việc điều động binh quyền đều do một mình ông phụ trách. Tháng 4/1842, Hùng dõng tướng Nguyễn Công Nhàn được phong là Tổng đốc (chức quan văn, trật chánh nhị phẩm, đứng đầu một tỉnh lớn) An Hà, được vua cho chỉ dụ là những tờ thư và văn tâu về triều đình được viết ba chữ Hùng dõng tướng trên và trước họ và tên mãi mãi. Tháng 5/1843, định công cho những người có công ở Nam kỳ, Nguyễn Công Nhàn được vua Thiệu Trị phong là Bao liệt tử và triệu về kinh ban tặng nhiều vật phẩm khác.

            Tháng 5/1844, Nguyễn Công Nhàn do dính vào một tội có liên quan đến hối lộ nên bị giáng bốn cấp. Ông không chịu nên viết đơn gi về triều có hàm ý vu khống cả Nguyễn Công Trứ nên bị phát trượng và phát lưu, thu hồi cả kim bài Hùng dõng tướng. Nhưng sau đó, triều đình xét lại thì thấy tội ông không lớn lắm nên khởi phục chức Thành thủ úy (quan võ, trật tòng tứ phẩm) rồi Phó vệ úy các quân và Phó lãnh binh phủ Tây Ninh. Mãi cho đến tháng 5/1847, sau khi có được nhiều công lao hạng mã, vua Thiệu Trị mới cấp trả lại kim bài Hùng dõng tướng cho Nguyễn Công Nhàn, phong tước Tri Thắng Nam và khắc tên vào cổ súng đồng Thần Uy phục viễn, vị thứ tư, đặt tại Võ miếu để lưu dấu chiến công đời đời.

            Cuộc đời binh nghiệp của Nguyễn Công Nhàn được đánh dấu gần như chấm hết vào tháng 3/1861, khi trên đường đến nhậm chức tổng đốc Định Tường thì Định Tường rơi vào tay Pháp. Tuy không vào thành được nhưng ông vẫn tổ chức chiến đấu mấy ngày liên tục, giết được một sĩ quan cao cấp của Pháp là trung tá hải quân Buordais. Do gián tiếp để mất thành Mỹ Tho nên Nguyễn Công Nhàn bị triều đình cách chức, cho làm Đốc binh theo Nguyễn Tri Phương lên Biên Hòa tìm cách chống giặc. Nhưng Nguyễn Công Nhàn kiên quyết không theo mà ở lại Kiến Đăng (thuộc Tháp Mười và Cao Lãnh của Đồng Tháp hiện nay) thu thập quân lính gây dựng căn cứ chống Pháp. Năm 1862, vua Tự Đức bí mật phong đốc binh Nguyễn Công Nhàn làm Thượng biện quân vụ, giao nhiệm vụ chỉ huy quân triều đình còn lại ở Nam kỳ và hô hào nghĩa quân đánh Pháp.  Nguyễn Công Nhàn đem quân về Long Hưng - Nước Xoáy, nơi xưa kia Gia Long Nguyễn Ánh từng lập căn cứ vững chãi đánh lại Tây Sơn. Hàng loạt tấu sớ báo cáo tình hình nguy cấp của Nam kỳ khiến ngày 14/2/1867, vua Tự Đức chỉ dụ Nguyễn Công Nhàn phối hợp với Tôn Thất Hợp (3) lập kế đánh Pháp trên sông rạch. Nhưng chỉ sau năm ngày từ 20 đến 24/6/1867, Pháp chiếm trọn 3 tỉnh An Giang, Hà Tiên và Vĩnh Long. Nguyễn Công Nhàn và binh tướng mất hẳn liên lạc với triều đình. Ông đem quân về vùng Long Hưng - Nước Xoáy nay thuộc huyện Lấp Vò - Đồng Tháp đơn thân độc mã chiến đấu. Cuối cùng do sức yếu thế cô, Nguyễn Công Nhan đành bỏ cuộc. Khi ông qua đời, mồ mả ông được chôn sơ sài ở gần căn cứ đóng quân. Trước khi chết, Nguyễn Công Nhàn còn dặn dò con cháu phải đổi họ để tránh sự truy nã và lấy dây xích xiềng quan tài của ông lại như một lời tạ tội với vua và với dân vì không làm tròn nhiệm vụ giữ nước.

Di tích liên quan đến Hùng dõng tướng ở An Giang và Đồng Tháp

            Di tích đáng kể nhất là kinh Vĩnh An Hà (còn có tên là sông Tân Châu) nối liền sông Châu Đốc với sông Tiền - một con kinh chiến lược của nhà Nguyễn ở vùng đất An Giang lúc bấy giờ. Con kinh được khởi đào từ năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) và hoàn thành trong bốn tháng. Sách Đại Nam thực lục chép chuyện này như sau: Tổng đốc An - Hà Nguyễn Công Nhàn, thự Tổng đốc Long Tường Nguyễn Tri Phương, tuần phủ An Giang Nguyễn Công Trứ cùng tâu: Việc đào sông Tân Châu ở An Giang trước đã xin hoãn lại, nay đến tiết mùa đông khô ráo, xin cho thuê 5000 dân phu khơi trước một đoạn dài 550 trượng (khoảng 1,7km), trong một tháng thì cho về, đợi sang xuân sẽ làm tiếp. Vua chuẩn y. Tháng 4/1844, kinh đào xong rộng 6 trượng (10 mét), sâu 9 thước (3,6 mét), dài gần 10km. Năm 1845, vua Thiệu Trị cho người dựng một tấm bia đá ngay đầu kinh phía nối với sông Tiền ghi dấu sự kiện này. Theo Khâm định Đại nam hội điển sự lệ do Nội các triều Nguyễn soạn, quyển 221, mục Công chính, phần bia bảng có ghi (tạm dịch): Bia sông Vĩnh An cao 2 thước 2 phân (86cm), rộng 9 tấc 4 phân (40cm), chân dài 1 thước 6 tấc 1 phân (68cm) có khắc chữ: Vĩnh An Hà - Thiệu Trị ngũ niên tạo (Vĩnh An Hà, xây dựng vào năm Triệu Trị thứ 5). Rất tiếc, theo thời gian thì nay tấm bia này sau năm 1975 đã lở xuống sông Tiền mất dấu. Riêng về kinh Vĩnh An Hà thì do mở rộng đô thị nên chính quyền thị xã Châu Đốc đã lấp mất khoảng ¼ đoạn kinh nơi đầu nối với sông Tiền và đặt tên con đường đi ngang đây là Nguyễn Công Nhàn.

            Di tích thứ hai liên quan đến Hùng dõng tướng Nguyễn Công Nhàn là căn cứ đánh Pháp của ông ở Long Hưng - Nước Xoáy (nay thuộc ấp Hưng Thành Tây, xã Long Hưng A, huyện  Lấp Vò, Đồng Tháp). Cũng xin nói thêm, đây từng là căn cứ có tên là Hồi Oa do Nguyễn Ánh lập ra trong cuộc chiến với Tây Sơn.  Đồn được xây dựng bằng đất, cách nay hơn 220 năm (1787), dĩ nhiên đến giờ không còn lại bao nhiêu dấu tích. Theo Đại nam thực lục thì: Nguyễn Ánh về đồn trú ở Hồi Oa (Nước Xoáy) vào tháng 10 năm Đinh Mùi (1787). Nhưng với qui mô bề thế của một hệ thống đồn bảo, tháp canh, cảng đá, hầm hào trên một khu vực rộng lớn trải dài từ sông Tiền đến sông Hậu, từ sông Hội An đến vùng hậu bối (sau lưng) Sa Đéc, thì không thể xây dựng trong một sớm một chiều mà thành được. Cụ thể như việc đắp những cảng đá trên các cửa sông rạch (dân gian gọi di tích này là Đá hàn), Nguyễn Ánh phải cho người  đến núi Sam (Châu Đốc) lấy đá chở về.  Mặc dù không còn tư liệu liên quan song chúng ta có thể suy đoán rằng, lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của Đông Định vương Nguyễn Lữ vì không đủ lực lượng và khả năng, lúc còn lưu vong ở Vọng các, Nguyễn Ánh cho người lẻn về qui tụ dân địa phương lén lút xây dựng. Ngay khi Nguyễn Ánh về trú đóng, hệ thống đồn bảo ở đây đã phát huy tác dụng (4).

            Người dân Long Hưng - Nước Xoáy kể lại rằng, họ không biết ông tên gì mà chỉ quen gọi là ông Hùng dõng. Ông cũng binh lính về đây đào hào, đắp lũy làm căn cứ. Dấu tích còn lại đến nay là Rạch Dinh nơi ghe ô, ghe sa (một loại ghe có mui che, xưa dùng cho quan quân đi) thường ra vào căn cứ.

Kỳ án nhầm tên và đền thờ Hùng dõng tướng Nguyễn Công Nhàn

            Từ hai câu ca dao: Lạy trời, lạy Phật, lại vua/ Lạy ông Hùng dõng đánh đùa Tây sang và những câu chuyện về một ông Hùng dõng cũng như đền thờ của ông ở xã Tân Thuận Tây - thành phố Cao Lãnh; các nhà nghiên cứu ở Hội Khoa học lịch sử Đồng Tháp đang tiến hành tập hợp tư liệu, nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Hùng dõng tướng Nguyễn Công Nhàn thì ở tại Phú Yên đã xuất hiện nhiều thông tin khoa học, thậm chí có cả một luận án tiến sĩ về Nguyễn Công Nhàn. Những người ở Đồng Tháp thở phào, nhẹ nhõm vì khỏi phải bắt tay làm lại từ đầu. Nhưng khi tiếp cận với các tài liệu khoa học từ Phú Yên thì mới hay có một sự nhầm lẫn đáng tiếc. Nhân vật mà các nhà lịch sử học Phú Yên, thậm chí có một vài nhà nghiên cứu lịch sử Đồng Tháp đề cập đến không phải là Hùng dũng tướng Nguyễn Công Nhàn mà là Thống chế lãnh Hà Tiên Nguyễn Nhàn - một nhân vật lịch s khác cùng thời và cùng tên. Nguyễn Nhàn (1789 – 1872) là  người gốc xã  Phú Lộc, tổng Thượng, huyện Đồng Xuân, Phú Yên, con trai của Minh Nghĩa Đô úy Nguyễn Minh Thùy. Nguyễn Nhàn được các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức sắc phong phong thưởng, phong cấp từ Chánh đội trưởng từ năm 1834 đến Hùng oai tướng quân Thống chế tòng nhị phẩm rồi cho về hưu với hàm Chánh nhị phẩm. Hùng oai tướng quân Nguyễn Nhàn (có sách còn ghi là Nguyễn Công Nhàn - đây là một trong những nguyên nhân gây nhầm lẫn) an trí tại quê nhà và mất năm 1872. Phần mộ và đền thờ ông hiện nay do ông Nguyễn Chí Việt, hậu duệ đời thứ 5 thờ phụng tại Hòa Thắng, Phú Hòa, Phú Yên. Mọi việc nhầm lẫn được sáng tỏ. Chính vì vậy mà ngày 21/4/2016 khi Hội Khoa học lịch sử Đồng Tháp tổ chức hội thảo về Nguyễn Công Nhàn, các đại biểu Phú Yên đã xin rút các bản tham luận có sự nhầm lẫn giữa Nguyễn Nhàn ra và xin không tham dự với lý do không có liên quan gì.

            Còn về đền thờ Hùng dõng tướng Nguyễn Công Nhàn thì hiện nay những nhà nghiên cứu mới phát hiện ra ba nơi. Một là ở đình Tân Phước (nay thuộc xã Tân Phước, Lai Vung, Đồng Tháp). Khi Nguyễn Công Nhàn làm Tổng đốc An - Hà, ông có gả con gái mình là Nguyễn Thị Trinh cho Cai tổng Khuê. Hiện con cháu thứ hai của bà Trinh còn sinh sống rất đông ở Tân Phước. Những người này kể rằng, sau khi hay tin Hùng dõng tướng qua đời, bà Trinh đã mang sắc phong tước của cha vào đình thờ phụng như một thành hoàng có công với dân với nước. Ít lâu sau, con gái bà Trinh (cháu ngoại Hùng dõng tướng) là Nguyễn Thị Loan lấy chồng về Sóc Trăng (làm vợ Đốc phủ Hà Minh Phải). Đầu thế kỷ XX, bà Phủ Phải lập nên làng Ba Rẹt ở Mỹ Tú, Sóc Trăng và cho xây dựng tại đây một đền thờ rất lớn đồng thời rước sắc phong của ông ngoại mình từ Đình Tân Phước do bị chiến tranh tàn phá về thờ cúng. Bà còn sao một bản khác gởi lại đình Tân Phước cho con cháu sau này.

            Con trai út của Hùng dõng tướng Nguyễn Công Nhàn là Nguyễn Công Chấn theo cha từ Biên Hòa vào làm quan và có vợ tại thôn Tân Thuận, huyện Vĩnh An, phủ Tân Thành (nay thuộc xã Tân Thuận Tây, thành phố Cao Lãnh). Gia đình bên vợ ông là một danh gia vọng tộc ở đây mang họ Võ. Sau khi cha mất, ông đã nghe lời trăn trối của cha đổi sang họ Châu và lập một đền thờ Nguyễn Công để thờ họ Nguyễn và cha mình. Chuyện kể, lúc ông Chấn qua đời, phủ thờ Nguyễn công được giao lại cho con trai là Châu Văn Luân trong coi. Bà Phủ Phải từ Sóc Trăng lên phủ thờ Nguyễn công đề nghị đem chiếc ấn của Hùng dõng tướng về đền thờ ở Mỹ Tú nhưng ông Luân cự tuyệt. Sau đó thì quả ấn bị đánh cắp. Có ấn tín và sắc phong, Bà Phủ Phải lập Ban Hội tề và tổ chức cúng giỗ Hùng dõng tướng Nguyễn Công Nhàn hàng năm vào ngày 15 - 16 tháng 3 âm lịch. Ngôi đình này, qua hai cuộc chiến đã bị tàn phá. Nền đình cũ hiện này là ngôi trường tiểu học Mỹ Tú A. Sắc phong và ấn tín của Nguyễn Công Nhàn do bà Phủ Phái mang về cũng không còn tìm thấy.

            Riêng nhà thờ tộc họ Nguyễn Công ở Đồng Tháp nay đã được đổi tên thành đền thờ Hũng dõng Đại tướng quân do hậu duệ đời thứ 5 của Nguyễn Công Nhàn là ông Châu Thanh Sơn quản lý.

                                                                                                                                    H.N

 

_________________

 

(1) Trấn Tây Thành là một trấn của nước Đại Nam nhà Nguyễn từ năm 1835 đến 1841. Đây là vùng lãnh thổ thuộc Đông Nam Campuchia ngày nay;

(2) Theo Đại Nam thực lục thì: Tháng 6 năm Nhâm Thìn, Minh Mệnh 13, 1832: “Đúc kim tiền và ngân tiền phi long, kim tiền 1.000 đồng mỗi đồng nặng 3 phân dùng vàng lá 7 - 8 tuổi. Ngân tiền 20.000 đồng mỗi đồng nặng 7 phân  dùng bạc 7 thành” [chương 21, T5, 96] để dùng làm tiền thưởng cho quan lính có công;

(3) Còn có tên gọi khác là Tôn Thất Hiệp (1814 - 1862) hay Tôn Thất Cáp. Ông là cháu nội của Lạng giang Quận công Tôn Thất Hội - một công thần nhà Nguyễn và là cháu ngoại của Tổng trấn Nguyễn Văn Thành;

(4) Văn hóa dân gian miệt Sa Đéc - Nguyễn Hữu Hiếu (chủ biên) - NXB Hội Nhà văn, 2015.

 

Tư liệu tham khảo: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Hùng dõng tướng Nguyễn Công Nhàn do Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp tổ chức vào ngày 21/4/2016 tại thành phố Cao Lãnh.
 
     
  Hữu Nhân ( Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)








  • THƯ CẢM ƠN! (19/08/2018)

  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |