Thứ Ba, ngày 22 tháng 5 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  06/09/2017  
  CA DAO ĐỒNG THÁP - NÉT KHU BIỆT ĐỘC ĐÁO  
  Dưới ánh sáng của nguyên lí tiếp cận và nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian mới giàu tính nhân văn và khoa học, chúng ta dễ dàng nhận ra những nét khu biệt độc đáo của ca dao Đồng Tháp. Những nét độc đáo ấy thể hiện đậm nét trên hai phương diện chủ yếu: cảnh trí, sản vật của một vùng đấttính cách, tình cảm của con người nơi đây.  
 
 

lua-troi.jpg


CA DAO ĐỒNG THÁP -

NÉT KHU BIỆT ĐỘC ĐÁO

 

CÁI VĂN THÁI

 

Nằm trong hệ thống ca dao vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, Nam bộ nói chung, ca dao Đồng Tháp đương nhiên mang trong mình những đặc điểm nhận dạng về nội dung và hình thức mà bất cứ địa phương nào trong phạm vi địa giới nói trên đều có. Ở khá nhiều phương diện, đọc ca dao Đồng Tháp, người ta có thể hình dung được ít nhiều bản sắc của vùng đất phương Nam cũng như cốt cách con người đi mở đất hàng mấy trăm năm trước.

Tuy nhiên, dưới ánh sáng của nguyên lí tiếp cận và nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian mới giàu tính nhân văn và khoa học, chúng ta dễ dàng nhận ra những nét khu biệt độc đáo của ca dao Đồng Tháp. Những nét độc đáo ấy thể hiện đậm nét trên hai phương diện chủ yếu: cảnh trí, sản vật của một vùng đấttính cách, tình cảm của con người nơi đây.

Có thể nói, chưa một vùng đất nào trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long hội tụ một hệ thống ca dao về cảnh trí, sản vật phong phú, mang nét riêng, được lưu truyền và trở nên nổi tiếng một cách rộng rãi như ở Đồng Tháp.

Diễn tả cảnh trí hoang dã thuở sơ khai mở đất ở Đồng Tháp Mười, không bài ca dao nào đặc sắc và đầy ấn tượng hơn hai bài ca dao sau:

1. Muỗi kêu như sáo thổi

Đỉa lội tợ bánh canh

Cỏ mọc thành tinh

Rắn đồng biết gáy.

2. Rừng thiêng, nước độc, thú bầy

Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy/dày như bánh canh.

Không quá phụ thuộc vào thủ pháp phóng đại, cường điệu mà căn cứ cụ thể vào cứ liệu hiện thực thuở bấy giờ, bằng những biện pháp tu từ liên tưởng, so sánh, các tác giả dân gian đã vẽ lên trong mấy dòng thơ bốn, năm chữ (bài 1) hay lục bát biến thể (bài 2) một cách không thể sinh động hơn toàn cảnh hoang dã của Đồng Tháp Mười lúc ấy. Thiên nhiên hoang dã không chỉ biểu hiện ở khía cạnh nhiều đặc, đầy tràn trong chính bản chất của nó mà còn ở khía cạnh vì quá nhiều đặc, đầy tràn mà tự chuyển hóa sang một dạng khác siêu hình và linh thiêng hơn. Tất cả dường như vượt khỏi khả năng tưởng tượng của những người đi mở đất bởi một thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt, tiềm ẩn nhiều hiểm nguy, rủi ro. Đó là thách thức ghê gớm đối với những người đi khai phá Đồng Tháp Mười thuở trước.

Xin bàn kĩ một chút về hình ảnh rắn đồng biết gáy bởi tính đặc trưng tiêu biểu của nó về hình ảnh một Đồng Tháp Mười hoang sơ. Rắn đồng biết gáy là một diễn đạt sử dụng biện pháp tu từ phóng đại - nói quá, ý nói rắn sinh sống ở Đồng Tháp Mười trong môi trường hoang hóa quá lâu năm, số lượng quá nhiều, tưởng như loài này có thể chuyển hóa những đặc điểm sinh học vốn có của nó mà có thể gáy được như những loài thuộc bộ lông vũ hay côn trùng. Cái hay ở đây là vì sao không là rắn đồng biết nói, rắn đồng biết thổi, rắn đồng biết hú… mà là rắn đồng biết gáy? Từ gáy (động từ) trong một số cuốn từ điển tiếng Việt viết đại ý: phát ra những tiếng làm thành chuỗi âm thanh cao thấp, liên tiếp, nhịp nhàng. Vậy khi đã cường điệu, các tác giả dân gian ắt phải chọn từ gáy để một mặt, thần linh và lung linh hóa hình ảnh con rắn, mặt khác, từ này gắn với đặc tính nhiều loài vật trong môi trường thiên nhiên như gà, chim, dế… rất dễ hình dung, liên tưởng.

Cùng ba dòng trên của bài ca dao với biện pháp tu từ so sánh, phóng đại - nói quá, rắn đồng biết gáy là một cách diễn đạt góp phần mô tả vừa khái quát vừa cụ thể quang cảnh tổng thể về không gian, cây cỏ, kinh rạch, động vật… của Đồng Tháp Mười xưa. Đó là một quang cảnh hoang sơ và bí hiểm cực độ. Đọc bài ca dao và mường tượng về hình ảnh rắn đồng ở đây, người ta không thể không có cảm giác vừa ớn sợ, cảnh giác vừa ham thích khám phá về một thế giới hoàn toàn khác với bây giờ. Đến Đồng Tháp Mười lúc này, sau mấy trăm năm khai hoang phục hóa, cải tạo, phát triển sẽ chẳng thể nào hình dung được ngày xưa mảnh đất này lại huyền bí như vậy nếu không có bài ca dao độc đáo này.

Có thể nói, bài ca dao (số 1) nói chung và hình ảnh rắn đồng biết gáy nói riêng là một thư bản bảo tàng vô cùng quí giá về thiên nhiên Đồng Tháp Mười thuở trước. Biết đâu sẽ đến một lúc, loài rắn ở vùng đất này trở thành khan hiếm và có thể tuyệt chủng, dòng ca dao nói trên chắc chắn sẽ càng trở nên có giá trị trong hành trình giúp người đời sau hiểu về quá khứ đất nước, quê hương một cách rõ ràng, sinh động hơn. 

Theo tôi, hình ảnh rắn đồng biết gáy này cũng nằm trong mạch văn hóa dân gian với truyện kể dân gian Thiên Hộ Dương và đạo binh rắn được lưu truyền một cách rộng rãi ở nhiều địa phương vùng Đồng Tháp Mười. Chuyện kể rằng, trước quyết định ra lệnh bảo vệ hang một con rắn hổ chúa (hổ mây) của Thiên Hộ Dương ở Động Cát mà sau đó, rắn thần đã hai lần bí mật giúp nghĩa quân cắn chết nhiều lính Pháp cũng như lần thứ ba: Trong khói lửa mịt mù, bỗng có tiếng ào ào nổi lên như giông gió. Từ bìa rừng, một con rắn hổ mây bề tròn lớn bằng cái thúng con, đầu cất cao tiến về phía bọn giặc như vũ bão, lăn xả vào lửa đỏ, ngừ nghè nhe răng, đập đuôi, làm dữ... Quân giặc hoảng hồn, vứt súng ống, bỏ chạy tán loạn. Tên chỉ huy cũng không giỏi gì hơn, vắt giò lên cổ mà chạy, càn bừa trong lau sậy. Đúng vào lúc đó, ngài Thiên Hộ ra lịnh cho ông Huấn Hiệu đã mang quân phục sẳn từ trước, bất ngờ tấn công. Quân giặc không còn hồn vía nào chiến đấu, lớp chết, lớp bị thương, lớp bị bắt... Nghĩa quân thu được nhiều chiến lợi phẩm, tên chỉ huy cũng bỏ mạng. Bọn còn sống sót càn rừng, lướt bụi, chạy về đến đồn Doi bị dân chúng bắt nộp cho ông Huấn Hiệu. Sau đó ta trở lại đóng đồn như trước.

Nếu không quá suy diễn, chắc chắn đạo binh rắn này của Thiên Hộ Dương chính là những rắn đồng biết gáy ngày nào trong bài ca dao. Quả thật, từ rắn đồng biết gáy đến rắn thần giúp nghĩa quân Thiên Hộ Dương đánh Pháp trong truyện dân gian nói trên đã có sự chắp nối, phát triển khá liền mạch trong tư duy sáng tác của người xưa, dù là văn vần hay văn xuôi. Yếu tố thần kì ở đây đặc biệt quan trọng trong việc miêu tả thiên nhiên Đồng Tháp Mười hoang sơ cùng những chiến công lẫy lừng của nghĩa quân đánh Pháp một thời.

Đặc tính nhiều đặc, đầy tràn của cảnh trí, sản vật mang bản sắc độc đáo của Đồng Tháp Mười ấy, không chỉ được thể hiện trong những bài ca dao diễn tả thiên nhiên thuở hoang sơ khi chân người lạ lẫm đặt lên ở đó mà còn hiện rõ trong nhiều bài ca dao ra đời tại thời điểm cư dân nơi đây đã thuần hóa được đất đai, sông nước, lung rừng… và đã định cư, sinh sống một cách yên ổn giữa vùng quê mới. Riêng về Đồng Tháp Mười đã có một loạt bài ca dao ghi lại điều đó:

1. Một vùng Đồng Tháp phì nhiêu

Dồi dào lúa gạo lại nhiều cá tôm.

2. Ai ơi về miệt Tháp Mười

Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn.

3. Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm

4. Ai ơi nhớ lấy cho thông

Tháp Mười đất rộng, người đông, lúa nhiều.

5. Đầm sen, bãi sậy, rừng tràm

Kinh dài xé đất, cây xanh rợp trời.

6. Muốn ăn bông súng, củ co/mắm kho

Thì về Đồng Tháp ăn cho đã thèm (1)

Khác với loạt bài ca dao thuở ban đầu chủ yếu ghi lại hình ảnh khủng khiếp của muỗi, đỉa, cỏ dại, rắn đồng… đã lưu cửu lâu đời ở đây và hóa thành bất bình thường, hóa thành tinh, thành quỉ, những bài ca dao sau đó, khi con người bước đầu thuần hóa được thiên nhiên, đất đai, đối tượng phản ánh chủ yếu là những đặc sản thiên nhiên đã được lưu giữ, cải tạo hoặc những sản vật của một vùng đất do bàn tay lao động làm ra. Vẫn là nhiều đặc, đầy tràn nhưng đó lại là cảnh trí, sản vật gắn chặt với hình ảnh và sức lao động sáng tạo của những người đi mở đất. Có thể khẳng định, dẫu vẫn là nhiều đặc, đầy tràn, nhưng bầy cá tôm sẵn bắt  hay nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm; con kinh dài xé đất hay rừng cây xanh rợp trời; thảm lúa trời sẵn ăn hay ăn cho đã thèm bông súng củ co/ cá kho… này không còn là hình ảnh khủng khiếp của thuở hoang sơ mà đã có bóng dáng và sự tác động của con người, như một vế của bài ca dao sau đây đã nói rõ: Tháp Mười đất rộng, người đông, lúa nhiều.

 Nhìn rộng hơn, không chỉ ở khu vực hẹp là Đồng Tháp Mười, đặc điểm riêng nói trên cũng đã thể hiện trong nhiều bài ca dao nói về những vùng quê khác của Đồng Tháp:

1. Bắp nào to bằng bắp Hồng Ngự

Cá nào nào bự bằng cá Cờ Đen.

2. Thuốc rê Cao Lãnh thơm nồng

Con gái Cao Lãnh má hồng thấy mê.

3. Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân.

4. Muốn ăn xoài cát thơm ngon

Thì về Tân Thuận, Hòa An quê mình.

5. Sông Tiền, sông Hậu cùng nguồn

Thuyền bè tấp nấp bán buôn dập dìu.

6. Người đẹp như tiên

Không tắm nước Đông Trà cũng xấu như ma

Người xấu như ma

Tắm nước Đông Trà cũng đẹp như tiên.

Cũng bằng những biện pháp tu từ thường gặp trong ca dao nói chung như so sánh, ngoa dụ, câu hỏi tu từ…, những bài ca dao nói trên không chỉ nhằm ghi nhận, tôn vinh một nét đặc sắc nào đó từ cảnh trí, sản vật của nhiều vùng quê Đồng Tháp mà hơn thế, thông qua cách diễn đạt phong phú của mình, nó còn thể hiện rất rõ phẩm chất nhiều đặc, đầy tràn theo cách riêng. Nếu ở bài ca dao số 1, bằng lối so sánh kết hợp câu hỏi tu từ, các tác giả dân gian khẳng định một cách đầy tự tin rằng, không có loại bắp nào ra trái to hơn loại bắp trồng trên đất xứ Hồng Ngự và không có loại cá nào lớn (bự) hơn loại cá lội dưới sông ở Gãy Cờ Đen thì ở bài ca dao số 6, bằng bút pháp ngoa dụ, những người sáng tác ra bài ca dao đã vô cùng tự hào và ngợi ca tột bậc phẩm chất trong lành, ngọt ngào, hiền hòa của dòng nước xứ Đông Trà - cái dòng nước mà khi được tắm gội thì ma lập tức hóa thành tiên và ngược lại. Ở những bài ca dao khác, bằng cách chọn lựa, sử dụng các tính từ giàu ấn tượng như: thơm nồng; thơm ngon; mê; dập dìu…, phẩm chất nhiều đặc, đầy tràn ấy cũng hiện lên một cách rõ nét.

Phẩm chất nhiều đặc, đầy tràn của cảnh trí, sản vật Đồng Tháp cũng được thể hiện đậm đặc trong loạt bài ca dao gắn với đề tài kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân nơi đây:

1. Tháp Mười năn lác mênh mông

Tây vô tới đó quyết không đường về.

2. Tháp Mười đồng ruộng bao la

Tây mà vô đó làm ma không đầu.

3. Bao giờ hết cỏ Tháp Mười

Thì dân Nam mới hết người đánh Tây.

4. Tháp Mười cá lội đầy sông

Đồng sâu lúa chin góp công diệt thù.

5. Dẫu nghèo đi gặt lúa ma

Đi đào củ chuối sống qua tháng ngày

Còn hơn làm mọi cho Tây

Để nó sai khiến gọi mầy xưng tao

Đời người ngẫm được bao lâu

Nghèo mà sạch sẽ hơn giàu tanh hôi.

6. Nước mắm ngon dằm con cá sặt

Ăn gạo Lấp Vò giết giặc lập công.

Dường như cảnh trí, sản vật mang đặc tính nhiều đặc, đầy tràn ở Đồng Tháp chính là thế mạnh, là một trong những vũ khí lợi hại để nhân dân ta sử dụng đánh giặc hay ít nhất cũng là điều kiện tốt để họ dựa vào đó mà tham gia kháng chiến. Nếu vùng năn lác mênh mông hay đồng ruộng bao la là trận địa độc đáo khiến giặc Tây làm ma không đầu hoặc không đường về thì cỏ Tháp Mười, cá lội đầy sông, lúa ma, củ chuối, nước mắm ngon... lại là những cảnh trí, sản vật đặc trưng của một vùng đất, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc kháng chiến trường kì tại nơi đây.

Có thể nói, ở phương diện thứ nhất, ca dao Đồng Tháp đã định hình một đặc trưng, một nét độc đáo không thể tìm thấy ở hệ thống ca dao những vùng miền khác. Không chỉ gắn với các địa danh cụ thể, nhất là địa danh Đồng Tháp Mười, hệ thống ca dao Đồng Tháp còn mang một phong cách diễn tả đặc biệt, đó là mô tả cảnh trí, sản vật quê hương trong sự phong phú, đa dạng của nó mà người viết bài này tạm định danh bằng cụm từ: nhiều đặc, đầy tràn.

Ở phương diện độc đáo thứ hai của hệ thống ca dao Đồng Tháp, tạm gọi là những đặc trưng về tính cách, tình cảm con người, người đọc, người nghe cũng có thể dễ dàng nhận biết qua những bài ca dao cụ thể. Đó là tính cách mộc mạc, bộc trực, hồn hậu, thiệt thà nhưng không kém phần quyết liệt, rốt ráo trong mọi ứng xử và các mối quan hệ. Đó là tình cảm thủy chung sâu sắc, dạt dào nhân áitrắng đen rạch ròi của người dân Đồng Tháp nơi vùng đất mới đầy gian nan, thử thách. Tính cách và tình cảm ấy hòa quyện, đan xen hài hòa, nhuần nhuyễn trong tất cả mọi hoạt động giao tiếp cũng như trong mọi hoạt động tồn tại của con người nơi đây.

Trước hết, nó bộc lộ một cách rõ nét trong các cung bậc tình yêu: tình yêu gia đình, tình yêu lứa đôi, tình yêu vợ chồng, tình yêu đất nước…

Nói đến tình yêu gia đình, trước hết phải nói đến tình mẫu tử qua những bài ca dao mang đậm phong vị Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng Tháp:

1. Con ơi con ngủ cho lâu

Mẹ còn đi cấy đồng sâu chưa về

Bắt con vịt nước, le le

Đem về cắt cổ, nhổ lông

Miếng nạc thì để phần chồng

Miếng xương phần mẹ, miếng lòng phần con

2. Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi

Khó đi mẹ dắt con đi

Con đi trường học, mẹ đi trường đời

3. Con ơi con ngủ cho say

Mẹ đi kiếm cá bằm xoài con ăn

4. Con ơi con ngủ cho say

Để mẹ đi cấy ngày mai mẹ về

Mẹ về đem nắm thóc xay

Miễn con no ấm cực này mẹ lo

5. Con ơi con ngủ cho say

Má đi làm mắm tháng hai mẹ về

Má về có mắm em ăn

Có khô em nướng, có em con bồng

Rõ ràng, trong lời ru con rất đỗi dịu dàng của người mẹ vẫn ánh lên sắc thái mạnh mẽ, thậm chí quyết liệt bởi những hình ảnh, từ ngữ… kiểu: cắt cổ nhổ lông - miếng nạc, miếng lòng thì phần chồng con, còn miếng xương thì phần mình; mẹ dắt con qua cầu lắt lẻo để con đi trường học, còn mẹ thì đi trường đời; kiếm cá bằm xoài; cực này mẹ lo; có em con bồng

Sự mạnh mẽ có phần bạo liệt ấy thể hiện rất đậm trong một loạt bài ca dao về tình yêu lứa đôi, tình vợ chồng:

1. Anh nằm chết thử vài giờ

Để coi con vợ ruột nó ăn ở,  nó phụng thờ ra sao

2. Anh đau tương tư cha mẹ bỏ liều

Em tính sao thì em tính để bốn giờ chiều anh tắt hơi

3. Anh về em ở lại sao đành

Phải chi anh cải tử hoàn sanh

Anh mổ lá gan để lại cho đành bụng em

4. Đường tăm tối nhờ cây đuốc tỏ

Nẻo quanh co khó nỗi đi thầm

Mỗi một kì em đến thăm anh

Người thì nhát ma, kẻ thì nhát quỉ,

                      năm bảy ông cọp nằm em cũng cứ đi

5. Anh có tiền cho em mượn một đồng

Em về em mua gan công, mật cóc

                                        thuốc chồng em theo anh

Ca dao tình yêu lứa đôi, tình yêu vợ chồng thường là đặc khu để các tác gia dân gian sử dụng lối diễn đạt mềm mại, tha thiết trong việc biểu lộ tình cảm vào loại thiêng liêng nhất của con người. Đọc ca dao tình yêu lứa đôi, tình yêu vợ chồng Việt Nam nói chung, người ta thường nhận ở đó sự say đắm, ngọt ngào, nồng nàn, day dứt… qua thể thơ lục bát bảo bối, khiến một lần tiếp xúc mà muôn lần thổn thức:

- Chàng buông vạt áo em ra

Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa.

- Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

                               

Bên cạnh đặc tính bộc lộ mãnh liệt phẩm chất Việt nói trên, ca dao tình yêu lứa đôi, tình yêu vợ chồng ở Đồng Tháp nói riêng, vùng Nam bộ nói chung có chút khác biệt với không ít bài thể hiện nét tính cách độc đáo: thẳng thắn, hồn nhiên, cương trực và có phần bạo liệt, làm nên thương hiệu không lẫn với các vùng miền khác.

Ở bài ca dao số 1, trong phương án đo lường sự chung thủy của tình cảm vợ chồng mà người con trai đưa ra với vợ mình, cái cách trên là một phép thử độc nhất vô nhị: chọn cái chết, dù chỉ là chết thử. Chết thử nhưng chắc là phải diễn y như thật, vợ mới tin. Và thế là anh chồng nhập vai… Người ta thường đưa cái chết ra để thề thốt, vì đó là sự bấu víu cuối cùng cho một niềm tin. Chàng trai trong bài ca dao chọn cái chết để kiểm nghiệm phẩm chất tối cao của một kiếp người, dù có thể phải trả giá (hoặc là biến thành chết thật hoặc là vỡ mộng khi cái ra sao ấy được kiểm chứng theo hướng tiêu cực…). Bài ca dao này, ngoài một chút tư tưởng Nho giáo phảng phất bởi thuyết tam tòng tứ đức, trong đó có nội dung phu tử tòng tử, người đọc, người nghe cảm nhận một cách sâu sắc tính cách chơi tới cùng của người dân vùng sông nước nơi đây: cái gì cũng có thể đẩy tới ngưỡng cao nhất để tìm sự chuyển hóa giá trị đích thực của sự vật, hiện tượng.

Ở bài ca dao số 2, đây cũng là một cách chết thử, đúng hơn là dọa chết của chàng trai đang yêu - yêu đến mức tột cùng gọi là đau tương tư. Rõ là chàng trai đã mê mệt cô gái một cách mù quáng khi cô gái vẫn có vẻ tỏ ra thờ ơ (chưa tính gì cả), nên cha mẹ chàng trai khuyên can không xong mới bỏ liều như vậy. Yêu như vậy là đơn phương. Mà yêu đơn phương rất dễ dẫn tới kết cục bi kịch. Cái bi kịch chàng trai mở ra không gì hơn là cái chết. Ở đây, chắc đã có chút hiện đại hóa bởi đặc trưng truyền miệng và dị bản của văn nghệ dân gian khi yếu tố thời gian được gọi bằng cách tính hiện đại: giờ trên đồng hồ (bốn giờ chiều). Có lẽ, từ mấy trăm năm trước, chi tiết này phải là: cuối chiều; cuối khắc chiều…. Dù sao, sự hiện đại hóa này lại có ý nghĩa tích cực: cường độ mạnh mẽ, bạo liệt được tăng lên với tần suất tối đa bởi lối định vị cụ thể, chính xác thời khắc tắt hơi của chàng trai (chỉ có chết vào đúng bốn giờ chiều, không thể khác!).

Cái chết của chàng trai trong bài ca dao số 3 chọn, tuy rất dữ dội (mổ lá gan để lại) nhưng lại có phần do dự, phân vân: chết rồi có sống lại nữa không (cải tử hoàn sanh). Bù qua sớt lại, vẫn có thể coi đây là một phép thử tình yêu mạnh bạo, rất đặc trưng cho tính cách con người vùng đất mới. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, vật làm tin khi thề bồi là tóc mây một món dao vàng chia đôi kể cũng đã quá mãnh liệt cho mối tình Kim - Kiều tiêu biểu rồi. Vật làm tin thề bồi ở bài ca dao này lại là lá gan, mà là chàng trai tự mổ lá gan để lại cho cô gái yên tâm về tình yêu của mình thì có thể nói sự mãnh liệt đạt tới đỉnh điểm. Dù cách kiểm định tình yêu đưa ra vẫn chỉ là một phương án tiềm năng và có thể bất khả thi nhưng không thể không nhận ra tấm lòng gắn bó sáng trưng không tì vết và sự bốc lửa trong những mối tình gái trai thôn dã một thời nơi này.

Ba bài ca dao tình yêu trên có chủ thể là người con trai, còn ở bài ca dao số 4, chủ thể là người con gái, nhưng tính bạo liệt không vì thế mà thuyên giảm. Cái chết hiển hiện trong bài ca dao này ở thế tiềm năng nhưng là cái chết kinh khủng nếu nó xảy ra: ma quỉ bắt hoặc cọp bầy xé xác! Ngày xưa, thế lực đáng sợ nhất đối với con người và cuộc sống trần gian không gì khác ngoài ma quỉ - thế lực vô hình (ma dẫn lối, quỉ đưa đường). Thứ đến phải là thú dữ, tiêu biểu là chúa sơn lâm - thế lực hữu hình (Ông Cọp, Ông Ba mươi). Rùng rợn, mặc! Vì yêu nên bất chấp, vượt qua tất cả mọi trở lực, dù nó diễn ra như thế nào, kiểu gì cũng cứ đi để được gặp người yêu mỗi kì. Yêu như thế quả là siêu mãnh liệt. Bộc lộ tình yêu như thế cũng là siêu mạnh mẽ. Suy ra, hình ảnh con gái miệt vườn Đồng Tháp và Nam bộ trong ca dao tình yêu chẳng kém cạnh gì so với con trai, xét ở khía cạnh bộc lộ tình cảm trực diện.

Ở bài ca dao số 5, phương án chết người kinh khủng trong vế thứ nhất (gồm 2 vế đối đáp, mỗi vế 2 dòng) dường như là mặt trái của sự son sắt, thủy chung thấm đẫm trong bài ca dao trên, khi chủ thể vẫn là người phụ nữ. Thời nào cũng vậy, trong mênh mông cuộc sống đa chiều, có tình yêu thủy chung hết mực - là chủ yếu, thì cũng có tình yêu phản bội độc ác - dù phần ít. Khoan bàn đến nghĩa lí nhiều chiều của bài ca dao, mà trong một cách nhìn nhận nào đó, có thể thấy nội dung chính của bài ca dao là sự chê bai tình cảnh nghèo hèn của người con trai kiểu: nghèo mà bày đặt yêu đương! Ở đây, đang trong ngữ cảnh bàn về những cái chết ở trên, thấy cái chết được nêu ở đây cũng khủng khiếp không kém: một vụ đầu độc chồng để theo trai (tình yêu si mê mù quáng tột mức) bằng loại độc dược mạnh nhất theo quan niệm lúc bấy giờ (hỗn hợp gan công + mật cóc). Vì sao cô gái không giết chồng bằng một cách nào đó dễ thực hiện hơn mà phải thực hiện bằng cách đó? Kiếm (mua) cho ra gan công và mật cóc đâu phải chuyện dễ! Vì thuốc chồng như vậy thì mới đạt đỉnh độc ác. Phải thuốc chồng bằng cách đó mới xứng cái đồng bạc người tình nghèo cho mượn, xứng với sự phản bội bị lên án dữ dội nhất mọi thời: bỏ/trốn chồng theo trai (ở đây là giết chồng bằng độc dược quí hiếm!).

Có nhiều cách diễn đạt để chuyển tải tình yêu trong ca dao lứa đôi, tình yêu vợ chồng. Mấy bài ca dao sưu tầm tại Đồng Tháp này là một trong những cách diễn đạt đó: lấy cái chết làm thước đo, làm tiêu chí đánh giá phẩm chất và hàm lượng yêu của trai gái một thời. Nói quá - cường điệu là một biện pháp tu từ thông dụng của tiếng Việt. Trong giao tiếp hàng ngày, người ta cũng luôn sử dụng biện pháp này thì hà cớ gì trong ca dao - một trong những thể loại văn chương ưu tú bậc nhất lại không có nó, hơn thế lại xuất hiện nhiều? Nói quá - cường điệu theo cách trên là một đặc trưng của ca dao Đồng Tháp và Nam bộ. Nó không chỉ là một độc đáo ở phương diện nghệ thuật mà còn là một độc đáo của tính cách con người vùng đất phương Nam.

Nói đến tình yêu đất nước thì ca dao Đồng Tháp xứng danh là một trong những kho tư liệu dồi dào, phong phú và rất đỗi quí giá. Có lẽ điều đó phản ánh đúng qui luật: ở những điểm nóng của các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm như vùng căn cứ địa Đồng Tháp Mười, tình yêu Tổ quốc, tình yêu đất nước có điều kiện tốt nhất để bộc lộ. Điều đáng nói ở đây là hệ thống ca dao về tình yêu đất nước ấy vẫn nằm trọn trong luồng mạch chung là được diễn đạt bằng một thứ chất liệu ngôn ngữ độc đáo, đặc trưng, không lẫn với bất cứ vùng miền nào. Thử nêu vài bài ca dao:

1. Bao giờ cạn nước Đồng Nai

Sụt chân đất Tháp mới sai lời nguyền

2. Quân đi rung sóng Tháp Mười

Để sen thơm mãi tên Người kính yêu

3. Tháp Mười chiến lũy đầm lầy

Chiến tranh du kích bao vây quân thù

4. Ở đây nền Tháp mười tầng

Trăm năm in dấu anh hùng đánh Tây

5. Tân Hòa, Tân Mĩ, Tân Long

Đánh tan tàu giặc trên sông Bình Thành

Vẫn biết ca dao - một thể loại văn học dân gian với đặc tính truyền miệng và dị bản hết sức siêu phàm của nó - việc thay đổi địa danh (kiểu tiếng chuông Trấn Vũ/Thiên Mụ…) là thao tác tạo lập trong môi trường diễn xướng cực kì bình thường, song nhìn vào loạt bài ca dao về tình yêu đất nước ở Đồng Tháp, rõ ràng, những địa danh như thế (đất Tháp, nền Tháp, Tháp Mười, Tân Hòa, Tân Mĩ, Tân Long, Bình Thành…) chỉ có thể có ở đây, gắn với vùng miền và sự tích, sự kiện ở đây. Điều này chắc chắn làm ra nét riêng, rất khó để biến thành dị bản của ca dao vùng miền khác.

Để có một hệ thống ca dao mang bản sắc độc đáo của Đồng Tháp qua trường kì thời gian với biết bao sự tác động, hòa nhập, chen lấn…, quả thật không hề dễ dàng gì, nhất là trong sự đồng dạng về đất đai, thổ nhưỡng, sông ngòi, kênh rạch, đồng ruộng, cây trái… và nhất là trong đặc điểm tính cách con người vùng đất mới Đồng bằng sông Cửu Long.

Điều làm nên sự kì diệu đó, trước hết là nhờ Đồng Tháp có một địa thế rất riêng, rất đặc biệt so với tất cả các tỉnh, thành khác trong vùng, kể cả các tỉnh láng giềng có chung Đồng Tháp Mười như Long An, Tiền Giang. Với vùng đầm lầy, rừng rậm hoang dã nổi tiếng Đồng Tháp Mười mà bước chân khai phá của con người mấy trăm năm trước đã ghi dấu; với khu căn cứ kháng chiến Đồng Tháp Mười của miền Nam và cả nước; với di tích văn hóa - lịch sử Gò Tháp - nơi lưu dấu hình ảnh thẳm xa của vương quốc Phù Nam và nền văn hóa lỗi lạc Óc Eo, chắc chắn Đồng Tháp mang trong mình một sắc diện rất riêng, xét về mặt địa thế. Chỉ cần ba tiêu chí nói trên, Đồng Tháp cũng đã lấp lánh nguồn cảm hứng văn hóa - lịch sử mãnh liệt, trong đó không thể không có văn nghệ dân gian nói chung, ca dao nói riêng.

Một nét địa thế đặc biệt nữa cần nhận thấy, đó là, ở Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ Đồng Tháp là tỉnh có diện tích nằm dọc hai bên sông Tiền và giáp một phía sông Hậu (2). Địa thế đặc biệt chỉ Đồng Tháp và An Giang có ấy không phải không có tác động ít nhiều vào tiến trình phát triển lịch sử - văn hóa ở Đồng Tháp mà tiêu biểu là sự kết hợp đặc sắc văn hóa của hai vùng đất Sa Đéc - Cao Lãnh. Ngay cả những thời kì trước đây, khi mà tỉnh Đồng Tháp vẫn còn đang là những tỉnh nhỏ hơn (Sa Đéc; Định Tường; Kiến Tường; Kiến Phong...) thì sự kết hợp, lan tỏa ấy cũng đã diễn ra một cách tự nhiên, thường xuyên, chặt chẽ. Trong tiến trình kết hợp và tác động tích cực ấy, đã có nhiều công trình văn hóa dân gian ra đời, trong đó có ca dao với những nét riêng mà không một nơi nào trên khắp vùng Nam bộ có thể trùng lặp.

Thứ hai là xét ở góc độ văn hóa, Đồng Tháp là nơi hội tụ hai địa chỉ văn hóa nổi tiếng của Đồng bằng sông Cửu Long: Sa Đéc và Cao Lãnh. Nói đến vùng Sa Đéc không thể không nói đến những làng nghề truyền thống đặc sắc như: làng hoa Tân Qui Tây (sau này phát triển thành làng hoa Sa Đéc); làng bột Sa Đéc; nghề trồng quýt hồng và nghề làm nem Lai Vung... Nói đến vùng Sa Đéc không thể không nói đến các món ăn dân gian nổi tiếng như: hủ tiếu Sa Đéc; bánh phồng tôm Sa Giang... Nói đến vùng Sa Đéc không thể không nói đến những công trình kiến trúc truyền thống đặc sắc như: Kiến An cung; nhà cổ Huỳnh Thủy Lê; đình thần Vĩnh Phước; chùa Hương... Nói đến vùng Sa Đéc không thể không nói đến tên cũ Đông Khẩu Đạo - một trong năm đạo do chúa Nguyễn lập ra ở miền Tây Nam bộ vào những năm cuối thế kỉ VIII... Còn ở vùng Cao Lãnh, tuy là một nơi, thoạt nhìn, có vẻ ít cổ kính hơn so với Sa Đéc (dù nơi đây từng là tỉnh lị của tỉnh Kiến Phong cũ trong thời gian gần 20 năm), song xét về góc độ văn hóa, địa danh này cũng hội tụ nhiều đặc sắc không kém, bởi chính nơi đây là cửa ngõ quan trọng bậc nhất của căn cứ Đồng Tháp Mười. Nói đến vùng Cao Lãnh không thể không nói đến các khu văn hóa - lịch sử và sinh thái như: Gò Tháp; Xẻo Quýt; Gáo Giồng; Tràm Chim... Nói đến vùng Cao Lãnh không thể không nói đến các công trình kiến trúc nổi tiếng như: đến thờ ông bà Đỗ Công Tường; Văn Miếu; mộ Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh sắc; bia Tiền hiền Nguyễn Tú... Nói đến vùng Cao Lãnh không thể không nói đến các nghề truyền thống như: trồng xoài cát; trồng thuốc rê; nuôi gà đá... Nói đến vùng Cao Lãnh không thể không nhắc đến địa chỉ cách mạng: làng Hòa An - nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Đồng Tháp...

Có thể khẳng định, một vùng đất lấp lánh hai vùng văn hóa đặc sắc như vậy chắc chắn sẽ là nguồn mạch dồi dào, phong phú cho văn nghệ dân gian, trong đó có ca dao phát triển mạnh mẽ, sáng tạo và trường tồn. Và điều quan trọng bậc nhất là nó góp phần làm nên bản sắc độc đáo cho ca dao Đồng Tháp qua trường kì thời gian suốt mấy trăm năm qua.

Không quá gượng ép khi nói rằng: Ca dao Đồng Tháp - nét khu biệt độc đáo khi tiếp cận, khám phá, nhìn nhận, phân tích, đánh giá bắng những lí giải và minh chứng ở trên. Nét khu biệt độc đáo ấy chắc chắn sẽ được gìn giữ, bảo tồn và phát triển trong chặng đường phía trước. Điều đó đòi hỏi sự chung lòng chung sức của mọi người trên mảnh đất này, nhất là đối với đội ngũ những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ dân gian.

 

C.V.T

_____________

(1) Dù diễn tả ở khía cạnh khác nhưng bài ca dao sau đây, ít nhiều cũng nói lên tính chất nhiều đặc, đầy tràn của cảnh trí, sản vật của Đồng Tháp: Muốn về Mĩ Hội mà nội không cho/ Bắt về Đồng Tháp ăn bông súng với củ co thấu trời.

(2) Nếu Vĩnh Long, diện tích chỉ nằm trọn giữa sông Tiền, sông Hậu thì An Giang, diện tích nằm dọc hai bên sông Hậu và giáp một phía sông Tiền (gần như đối xứng với Đồng Tháp).
 
     
  Tao Đàn ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |