Thứ Ba, ngày 22 tháng 5 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  19/10/2017  
  TỪ CƠM GẠO LÚA MỚI ĐỒNG THÁP ĐẾN BÚN LÁ CÁ DẦM NHA TRANG  
 
Ở góc độ khác, cách cúng tế trong bữa cơm gạo lúa mới hay bữa ăn bún lá cá dầm tuy đơn giản nhưng đều thể hiện lòng biết ơn của chủ đất, chủ tàu đối với các bậc thần linh. Với những khó khăn mà thực tế sản xuất đặt ra như hạn hán, lũ lụt, bão tố... trên đồng ruộng, giữa biển cả thì niềm tin vào sự giúp đỡ của thần linh là một điểm tựa tinh thần rất quan trọng giúp người nông dân, ngư dân vượt qua tất cả.

 
 
 

20171019_082038.jpg

TỪ CƠM GẠO LÚA MỚI ĐỒNG THÁP

ĐẾN BÚN LÁ CÁ DẦM NHA TRANG

 

HẬU NGHỆ

 

Cơm gạo lúa mới ở Đồng Tháp:

Phần lớn diện tích đất của Đồng Tháp là một vùng đất hoang hóa lâu đời, nằm giữa hai con sông Tiền và sông Hậu. Với lợi thế đất đai màu mỡ do phù sa hai con sông bồi đắp, từ xưa, những lưu dân người Việt đầu tiên từ miền Bắc, miền Trung vào đã khai phá vùng đất này để trồng lúa. Người nông dân dùng cái phảng để phát cỏ trên đồng. Đợi cỏ thối rửa, người ta cào cỏ gom lại thành đống hoặc theo đường bờ rồi dùng nọc cấy mạ lúa mùa. Về sau, người ta dùng cách cày xới đất lên để sạ lúa mùa vào đầu mùa mưa rồi nhờ nước mưa tưới cho cây lúa lớn. Khi vào mùa nước nổi, lúa bắt đầu vượt theo nước, mỗi nách lá mọc thêm một nhánh rồi cùng trổ bông một lượt. Khi nước rút cạn là lúa bắt đầu chín.

Đến mùa thu hoạch, người nông dân dùng lưỡi liềm (lưỡi hái) cắt lúa. Do cắt lúa bằng tay nên trên những diện tích lớn, nhà nông cần rất nhiều công gặt (người cắt lúa). Để có đủ số lượng công gặt đông đảo, các nhà nông có thể đổi công cho nhau (người này cắt lúa giúp người kia và ngược lại) nhưng phổ biến nhất là đi mướn công gặt quanh xóm hoặc có thể từ nơi khác đến.

Công gặt thường đi nhận phần công việc từ ngày hôm trước ngày cắt lúa chính thức. Khi chủ đất dùng cây tầm đo đất xong, công gặt sẽ dùng cây cọc tre đóng xuống bốn góc phần diện tích lúa mình sẽ cắt, lấy một nắm cỏ cột ngù lên đầu cọc cho dễ thấy rồi tiến hành cắt thử một vuông nhỏ gọi là bắt công. Công việc này vừa đánh dấu vị trí bắt đầu phần việc của họ vào sáng sớm ngày mai, vừa thử xem độ khó dễ của công việc. Để tranh thủ việc cắt lúa vào ngày hôm sau rồi sớm hơn, đôi khi công gặt lại cắt lối hơn nửa công đất ngay khi vừa bắt công.

Với những nhà có đất kha khá, gia chủ thường lấy ngay mớ lúa bắt công này về đập ra hạt rồi cho vào cối giã gạo. Sau khi giần sàng sạch sẽ, phần gạo lúa mới này gia chủ để dành cho ngày cắt lúa chính thức hôm sau. Nếu thời gian bắt công quá trễ hay phần lúa bắt công quá ít, gia chủ có thể dùng lúa cắt vào lúc sáng sớm ngày hôm sau để giã gạo.

Đến sáng sớm ngày cắt lúa chính thức, gia chủ sẽ có thể nấu cơm nếp hay nấu khoai, nấu chuối cho công gặt ăn sáng. Cũng có thể, công gặt tự ăn sáng trước ở nhà nhưng bữa cơm trưa là do chủ nhà thết đãi, bằng chính những hạt gạo mà công gặt vừa cắt trên đồng.

Khi trời gần đứng bóng, gia chủ sẽ mang cơm ra đồng hoặc nếu nhờ người khác đem thì cũng sẽ có một người đại diện gia đình mời tất cả công gặt cùng ăn cơm trưa. Vị trí dọn mâm cơm gạo lúa mới đãi công gặt có thể trong một mái trại hay một cây cao bóng mát trên đồng, ven bờ ruộng, mé vườn... nhưng không bao giờ là dọn cơm trong nhà ở chính thức, dù là nhà ở gần ruộng. Gọi là mâm cơm nhưng thực ra không có cái mâm đồng, mâm nhôm hay mâm gỗ nào xuất hiện ở đây. Thay vào đó, người ta trải đệm bàng, trải chiếu hay lót những tàu lá chuối tươi ra đất. Thậm chí, vì điều kiện nào đó hay do nhà xa, bữa cơm gạo lúa mới dành cho công gặt sẽ dọn ngay trên mặt đất được lót rơm hoặc cỏ một cách sơ sài. Thức ăn được múc ra tô, đĩa, đặt vào giữa mâm. Thông thường, thức ăn trong bữa ăn này là những món ăn cây nhà lá vườn mà gia chủ chuẩn bị từ trước như gà xào sả ớt, vịt kho gừng, cá lóc kho tiêu... kèm theo vài đĩa chuối chát, dưa leo xắt lát và có thể thêm chén nước mắm ngon hoặc nước tương, thêm dĩa rau muống luộc, vài trái ớt hiểm chín đỏ. Bữa cơm như thế này hầu như không có món canh hay những món ăn cầu kỳ khác.

 Bày thức ăn xong, gia chủ sẽ dùng đũa bếp bới cơm ra từng chén theo số lượng người ăn và bới thêm ba chén cơm lưng hơn các chén cơm khác. Ba chén cơm này xếp sát vào nhau, thẳng hàng và gác lên trên mỗi chén một đôi đũa. Trước khi vào bữa ăn, chủ nhà khấn vái, kính mời Thổ Địa, thần Nông và những người khuất mặt khuất mày về ăn cơm mừng lúa mới, xin cảm ơn chư vị đã phù hộ, độ trì cho mùa màng tươi tốt, lúa trúng đầy bồ. Việc cúng cơm ở đây, chủ nhà chỉ vái để cúng mà không thắp nhang. Cá biệt, có khi chủ nhà khấn vái để mời các ơn trên cùng về ăn cơm gạo lúa mới với gia đình mà không bới chén cơm cúng riêng ra. Sau khi vái cúng xong, mọi người cùng nhau ăn cơm nhưng vị trí ngồi tránh chỗ để ba chén cơm cúng ra. Những người ăn sau cùng có thể vái xin sớt chén cơm cúng vào chén của mình để ăn luôn nhưng cũng có thể chủ nhà mang nó trở về.

Cuối bữa ăn, công gặt còn có thể được ăn thêm chuối chín và uống nước trà từ bình trà hay ấm trà do chủ nhà mang ra. Vừa ăn cơm và uống nước xong, mọi người tranh thủ thời gian cắt lúa tiếp mà không có giai đoạn ngồi nghỉ cho xuống cơm.

Bún lá cá dầm Nha Trang:

Ngày xưa, ngư dân nhiều địa phương ven biển miền Trung như Nha Trang (Khánh Hòa) có tập quán đánh bắt cá gần bờ theo kiểu tối dong lưới đi, sáng dong lưới về. Một đêm thức trắng làm việc trên thuyền của chủ thuyền và các bạn thuyền (người làm công trên thuyền đánh cá) cũng cần có ăn uống, bồi dưỡng cho lại sức mà làm tiếp. Do đó, cứ mỗi lần đi biển, chủ thuyền thường cho mang theo gạo, củi, dụng cụ nấu nướng để nấu cháo ăn khuya. Về sau, để thay đổi khẩu vị, họ còn đem theo các loại gia vị có thể nấu nước dùng (nước lèo), một số loại rau sống như rau quế, rau thơm, rau ngò, giá đậu sống... và thường kèm theo khá nhiều bún để làm món bún lá cá dầm mà nhiều người ưa thích.

Ngay khi mẻ lưới đầu tiên vừa cất lên, các bạn thuyền nhanh tay bắt lấy những con cá lớn nhất, ngon nhất trong lưới ra và chuyển cho thợ nấu. Những con cá thuộc hàng tuyển lựa này thịt phải ngon ngọt, thớ thịt săn chắc như các loại cá bò, cá cờ... để khi nấu lâu trong nước dùng, thịt cá ít bị rã.

Cá vừa bắt lên được làm sạch, để ráo nước rồi thả vào nồi nước dùng đang nấu sôi (nước dùng đã được nêm nếm gia vị như đường, muối...), có thể thêm vào đó một ít trái cà chua chín xắt lát và hành hương cả thân và lá, cắt thành từng đoạn dài cỡ nửa tấc. Tùy theo sở thích của người ăn mà thợ nấu có thể nêm chua hay ngọt. Và dù nêm chua hay ngọt thì nước dùng phải có độ trong thì mới đúng bài của bún lá cá dầm Nha Trang.

Khi cá chín tới, người ta vớt cá ra, gỡ phần thịt cá ra rồi dầm cho những thớ thịt cá khá lớn thành từng miếng nhỏ. Tên cá dầm có lẽ xuất phát từ thao tác dầm cá này. Thịt cá được dầm xong sẽ thả lại vào nồi nước dùng cho nước thật ngọt, giảm ngọn lửa nhỏ lại và giữ cho nước sôi liu riu suốt bữa ăn.

Lúc đêm chuyển dần về sáng, khoảng giữa hai giác lưới, vừa nghỉ tay cũng là vừa dưỡng sức sau một buổi làm việc, các bạn thuyền cùng xúm xít lại quanh nồi nước dùng và bắt đầu thưởng thức món ăn từ biển ngay trên mặt biển. Tuy nhiên, trước khi bữa ăn diễn ra, chủ tàu hoặc người đại diện cho chủ tàu sẽ làm sẵn một tô bún đầu tiên để cúng thần Nam Hải. Nơi để tô bún cúng thần Nam Hải là ngay vị trí trang trọng nhất trong bàn ăn. Dù không thắp nhang nhưng chủ tàu sẽ cung kính vái, mời thần Nam Hải dùng bữa cùng mọi người và cầu xin thần phù hộ cho chuyến đi biển này được bình an, kiếm được nhiều tôm cá... Cũng có khi, người chủ tàu sẽ vái cúng không chỉ riêng thần Nam Hải mà cúng cho cả vong linh những người đã mất trên biển cả, mời họ cùng ăn bún với mọi người.

Để có một tô bún lá cá dầm, người ta cho giá sống được bóp gãy đôi gãy ba, trộn chung với các loại rau xắt nhỏ được để dưới đáy tô. Xong, người ta lấy một lá bún úp lên mớ giá trộn rau trong tô rồi múc nước dùng đang sôi tưới lên cho vừa ngập ngang mặt bún. Tại sao gọi là bún lá? Thực ra, bún lá cũng chính là bún làm từ bột gạo mà bà con ta vẫn hay ăn hàng ngày. Do sợi bún thường dính với nhau nên thợ nấu tách sợi bún ra thành từng lọn rồi khoanh tròn trên một miếng lá chuối còn tươi đã lau sạch. Mỗi khoanh bún trên miếng lá chuối ấy thường để vừa cho một tô bún. Những người làm thêm tô thứ hai sẽ dùng một lá bún như thế cho vào tô rồi tưới nước dùng lên như tô thứ nhất. Khi vận chuyển lên tàu, các lá bún này xếp chồng lên nhau nhưng các sợi bún giữa các lá bún sẽ không dính vào nhau nhờ lớp lá chuối này.

Sau khi chan nước dùng lên mặt bún, người ta có thể rắc thêm lên đó một ít tiêu, thêm chút ớt hiểm mẵn tươi cay nồng đầy hương vị là có thể ăn ngay. Lúc chan nước dùng lên bún, là người ta phải khuấy nhẹ cái vá cho lớp thịt cá chìm lắng bên dưới đáy nồi hòa đều vào nước. Thịt cá biển tươi nấu nhừ trong nước dùng, thấm đẫm các gia vị trong nước sẽ trở nên thơm ngon hơn. Ngược lại, chất ngọt trong thịt cá sẽ hòa vào nước dùng, đến lượt nước dùng lại ngấm vào từng sợi bún tạo thành một món ăn đặc sắc của người dân miền biển Nha Trang. Thêm một chén nhỏ nước mắm ngon nguyên chất, người ăn có thể chấm những thớ thịt cá ngon ngọt, tạo cảm giác ngon lành ngay từ khi thức ăn chạm vào đầu lưỡi.

Vài nét tương đồng trong sắc thái văn hóa đồng bằng và văn hóa miền biển:

Với nông dân Đồng Tháp nói riêng và vùng Đồng Tháp Mười nói chung, bữa cơm gạo lúa mới thể hiện sự tôn kính, biết ơn của người nông dân đối với các bậc thần linh đã phù hộ cho vụ mùa được thuận lợi. Và dù không phải cao lương mỹ vị nhưng bữa cơm ấy còn thể hiện được phần nào sự quan tâm và biết ơn của gia chủ đối với những công gặt đã giúp mình thu hoạch lúa. Ngoài ra, bữa cơm ấy cũng tạo được niềm vui và sự thuận lợi trong công việc cho các công gặt, góp phần giúp họ thu hoạch lúa nhanh hơn.

Với chủ thuyền trên các tàu cá ở Nha Trang nói riêng và cả tỉnh Khánh Hòa nói chung, tô bún lá cá dầm cũng thể hiện tấm lòng tri ân với vị thần gần gũi trong công việc và cuộc sống của họ. Riêng với những người bạn thuyền, trong đêm khuya, lại đang lênh đênh trên biển, tô bún lá cá dầm nóng hổi sẽ làm ấm lòng họ, là nguồn sức mạnh để mọi người cùng nhau tiếp tục làm việc vui vẻ và có hiệu quả hơn. Nó còn thể hiện sự chia sẻ, quan tâm và biết ơn của chủ tàu đối với những người chịu đựng vất vả để giúp mình tìm ra nguồn lợi trong lòng biển cả.

Điểm chung rút ra được chính là cả hai bữa ăn ấy đều diễn ra tại nơi người lao động đang làm việc. Việc người lao động trực tiếp làm ra sản phẩm sẽ là người thụ hưởng đầu tiên sản phẩm mình làm ra, được ăn uống ngay tại chỗ làm bao nhiêu tùy thích còn cho thấy người lao động được đề cao, là vốn quý trong xã hội mà chủ đất, chủ tàu đều tỏ lòng trân trọng, biết ơn. Rõ ràng, cái truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây của những người nông dân Việt Nam từ miền Bắc di cư vào miền Trung, miền Nam vẫn còn nguyên vẹn đó, dù nó mang sắc thái của miền đồng bằng hay miền biển. 

Ở góc độ khác, cách cúng tế trong bữa cơm gạo lúa mới hay bữa ăn bún lá cá dầm tuy đơn giản nhưng đều thể hiện lòng biết ơn của chủ đất, chủ tàu đối với các bậc thần linh. Với những khó khăn mà thực tế sản xuất đặt ra như hạn hán, lũ lụt, bão tố... trên đồng ruộng, giữa biển cả thì niềm tin vào sự giúp đỡ của thần linh là một điểm tựa tinh thần rất quan trọng giúp người nông dân, ngư dân vượt qua tất cả. Nói rộng ra, cái đình làng thờ thần Thành hoàng ở đồng bằng Nam bộ với cái lăng Ông thờ thần Nam Hải ven biển miền Trung tuy khác nhau về đối tượng phụng thờ nhưng đều là điểm tựa trong đời sống tâm linh của người Việt xưa nay vậy.

 

                                                                                                               H.N

                                                  

Tài liệu tham khảo:

[1] Nguyễn Hữu Hiếu (2007), Văn hóa dân gian vùng Đồng Tháp Mười, NXB Văn nghệ;

[2] Nguyễn Đăng Vũ (2016), Văn hóa dân gian của cư dân ven biển Quảng Ngãi, NXB Văn hóa dân tộc;

[3] Lời kể của anh Dũng (quán A Dũng, 96/1 đường Trần Phú - Nha Trang - Khánh Hòa) và một số ngư dân ở cảng Cầu Đá (Nha Trang).

 
     
  Hậu Nghệ ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |