Thứ Hai, ngày 18 tháng 11 năm 2019        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  09/10/2019  
  ĐÌNH LÀNG ĐỒNG THÁP TRONG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN HỊÊN NAY  
 

Đình làng Nam bộ vốn dĩ có ba chức năng: tín ngưỡng, văn hóa và hành chính. Nay chỉ còn hai chức năng: tín ngưỡng và văn hóa. Còn chức năng hành chính chuyển ra khỏi đình. Việc thờ phượng thần Thành hoàng chỉ còn là di sản văn hóa. Còn thiết chế hành chính xã, thôn, vẫn tồn tại theo định chế mới của từng giai đọan lịch sử, dưới dạng một hệ thống tổ chức, thể hiện tính cộng đồng xã, thôn, gồm bộ phận quyết nghị và bộ phận chấp hành.

 
 
 

ĐÌNH LÀNG ĐỒNG THÁP

TRONG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN HỊÊN NAY

                                                                                                

NGUYỄN HỮU HIẾU

 

Đình làng Nam bộ nói chung, Đồng Tháp nói riêng được hình thành trên nền tảng triết thuyết vua thầntinh thần cộng đồng xã thôn tự trị, nên trong cơ cấu tổ chức chính quyền xã thôn Việt Nam xưa nay đều thể hiện rõ hai yếu tố này. Chính quyền xã thôn bên cạnh chức năng quản lý xã hội ở địa phương còn phải lo việc tế tự thần Thành hoàng bổn cảnh, đại diện của nhà vua. Đình làng chẳng những là nơi diễn ra việc cúng tế này mà còn là nơi dân làng cùng hương chức hội họp bàn việc làng, việc nước.

Định chế vua thần thể hiện cụ thể qua nguyên tắc: thiên tử phong bách thần. Đó là thần quyền của nhà vua. Nhà vua có chức năng sắc phong hay gia tặng cho thần linh hoặc người chết (thuộc loại sinh vi tướng, tử vi thần) và chuẩn cho đình làng địa phương thờ phượng. Thần linh càng nhiều, thần quyền của nhà vua càng mạnh. Vì thế, trong quá trình Nam tiến, các hoàng đế Đại Nam đã Việt hóa các thần linh của dân bản địa (Chàm, Khmer)...

Tinh thần cộng đồng xã thôn tự trị là một sản phẩm văn hóa của người Việt được thành thành và phát triển từ hàng ngàn năm qua. Phép vua là tối thượng, nhưng vẫn phải thua lệ làng. Lệ làng là lề thói của từng địa phương, từng làng, dựa trên điều kiện cụ thể của địa phương trong qua trình thi hành phép vua, nhằm bảo về lợi ích chính đáng của địa phương, không hàm ý chống lại triều đình. Nó thể hiện qua cách thức tổ chức bộ máy hành chính xã thôn, nghi thức tế tự thần linh của  từng địa phương.

I. Vài nét về đình làng Nam bộ và Đồng Tháp từ trước đến nay:

Việc thờ phượng thần Thành hoàng thuộc điển chế chính quy của triều đình (được quy định chặt chẽ trong sách Đại Nam hội điển sự lệ), giao cho hội đồng hương chức của thôn (làng, xã) phụ trách.  Hội đồng hương chức (HĐHC) của thôn vừa đảm trách công việc hành chính (thế quyền) vừa thực hiện nhiệm vụ thờ phượng thần Thành hoàng, vị thần chính thức thay mặt hoàng đế (thần quyền) chăm sóc người dân ở các địa phương.

1.1. Ở Nam bộ hàng trăm năm qua, theo tình hình kinh tế của từng thôn mà số lượng thành viên trong hội đồng gia giảm; phổ biến như sau:

- Hương cả: cao tuổi nhất trong HĐHC;

- Hương chủ (hay Hương chánh);

- Hương lão: cố vấn HĐHC;

- Hương sư: đóng vai trò trung gian giữa hương chức và cấp trên;

- Hương trưởng: cố vấn trong việc thực hiện chỉ thị của cấp trên;

- Hương quản: chịu trách nhiệm tuần phòng và cảnh sát;

- Hương lễ: phụ trách việc tổ chức nghi lễ chính thức;

- Hương nhạc: chỉ huy các nhạc công;

- Hương ẩm: tổ chức các cỗ cúng và tiệc tùng trong làng;

- Hương văn: người có năng lực thơ văn nhất của xã, thôn;

- Hương thân : cùng Hương hào phụ trách công việc hành chính của xã, thôn;

- Hương hào:cùng Hương thân phụ trách công việc hành chính của xã, thôn;

- Xã trưởng: người trung gian chính thức của địa phương với cấp trên;

- Thủ bộ: giữ các bộ thuế của thôn;

- Thủ chỉ: giữ công văn giấy tờ của thôn;

- Thủ bổn: giữ công quỹ;

- Thủ khoản: quản trị công điền, công thổ;

- Câu đương: thẩm phán của thôn;

- Cai đình: quản trị đình làng. (*)

Số lượng và chức danh trong HĐHC bất định, nhiều ít tùy theo thôn. Có nơi người ta thêm chức Hương y hoặc thêm vị thứ hai (thêm chữ nhì). HĐHC chia thành hai bộ phận: hương chức trưởng là bộ phận quyết nghị, hương chức thứ là bộ phận chấp hành (gồm Hương thân, Xã trưởng (hay Thôn trưởng) và Hương hào cùng một số phụ tá giúp việc.

          1.2. Sau khi Pháp chiếm Nam kỳ, hoàng đế Việt Nam không còn thế quyền lẫn thần quyền trên phần đất này. Xét thấy bộ máy hành chính xã, thôn của ta khá hoàn chỉnh, nên họ duy trì bộ máy này trong việc thống trị Nam kỳ. Phát hiện ra trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, thứ ba của Thủ Khoa Huân ở Định Tường (Tiền Giang, 1869 -1875), đình làng là nơi hội họp, bàn bạc quốc sự dưới sự chủ trì của HHHC, ở nhiều làng xã người cầm đầu nghĩa quân là hương chức... nên họ giải tán hàng loạt HĐHC ở nhiều làng và bắt đầu kiểm soát người việc tham gia vào HĐHC. Đến năm 1904, họ tiến hành cuộc cải cách hương chính lần thứ nhất, với mục đích tách công việc hội hương (tín ngưỡng và văn hóa) ra khỏi việc quản lý hành chính, để dễ kiếm soát. Quy mô HĐHC như sau:

          - Hương cả:  người đứng đầu làng, chủ trì các buổi họp, giữ văn thư;

- Hương chủ: phụ tá Hương cả, thay thế khi ông này vắng mặt;

- Hương sư: cố vấn cho dân làng về pháp luật;

- Hương trưởng: cùng các hương chức đầu làng giám sát các hương chức khác, giữ ngân quỹ, trợ giúp các nhân viên giáo huấn;

- Hương chánh: hòa giải các tranh tụng;

          - Hương giáo: thư ký của HĐHC, hướng dẫn các hương chức thứ, ra chỉ thị và hướng dẫn những người mới được gọi ra làm việc cho làng;

- Hương quản: phụ trách cảnh sát, tư pháp và cả việc giao thông chuyên chở của làng;

- Hương bộ:gữ sổ sách và các chương mục kế toán, quản trị công sản và vật liệu của làng;

- Hương thân: hương chức thứ nhất trong vị hương chức thừa hành, đóng vai trò trung gian giữa quyền tư pháp và HĐHC;

- Xã trưởng: giữ vai trò trung gian giữa chính quyền địa phương và cấp trên, giữ ấn tín và thu các sắc thuế;

- Hương hào: cùng các hương chức thừa hành thực hiện việc duy trì an  ninh trật tự, thi hành các chỉ thị của cấp trên;

          - Chánh lục bộ: phụ trách công việc hội tịch (có từ 1904, nhưng đến cuộc cải cách lần thứ hai - 1927, mới được xếp vào HĐHC.

          1.3. Sau Cách mạng tháng Tám - 1945:  Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) gọi HĐHC gọi là  Hội đồng Nhân dân (HĐND) xã (15 - 20 thành viên, do phổ thông đầu phiếu bầu ra). HĐND bầu ra UBND.

1.4. Năm 1949, thời Nam kỳ tự trị, HĐND xã còn gọi là Hội tề xã gồm 8 người theo Chính phủ VNDCCH, do dân bầu ra. HĐND xã chia thành hai ủy ban:

- Một phụ trách hành chính, tư pháp và các vấn đề xã hội do Hương cả đứng đầu;

- Một phụ trách kinh tế, tài chính và nghi lễ do Hương chủ đứng đầu.

1.5. Thời kỳ 1952 - 1953, gọi là Hội đồng Hương chính, gồm 9 người.

1.6. Thời Việt Nam Cộng hòa: Từ 1954, gọi là Ủy ban Nhân dân. Đến 1956 gọi là Hội đồng xã, gồm từ 3 đến 5 người, do tỉnh trưởng chọn.

Sau năm 1975 đến nay, tùy theo địa phương, do nhiều nguyên nhân và nhu cầu khác nhau, đình được sử dụng  làm trường học, kho hợp tác xã… Đến khoảng năm 1986, việc thờ cúng ở đình dần dần được khôi phục, đình hư hỏng được trùng tu... Nay nhiều đình được nhân dân đóng góp xây dựng khang trang, song không thờ chiến sĩ trận vong, không sử dụng vào các việc công ích khác như chức năng vốn có của nó. Nhà bia liệt sĩ, Trung tâm Văn hóa xã, Trung tâm Giáo dục cộng đồng... lại được xây dựng mới bên ngoài khuôn viên đình làng.

Đình làng dù được khôi phục, nhưng tồn tại bên lề xã hội nông thôn đang phát triển.

Tóm lại, Đình làng Việt Nam nói chung, đình làng Đồng Tháp nói riêng, hình thành và phát triển trong thiết chế xã hội vua - thần thời phong kiến, gắn chặt với nền hành chính xã, thôn tự trị. Thần Thành hoàng ngự trị trong đình làng với tư cách là đại điện của hoàng đế có nhiệm vụ chăm sóc dân làng. Có thể nói khác hơn, đình là gạch nối giữa làng với nước. Làng là nước thu gọn. Đình là nơi tập trung trí tuệ của làng với các bậc kỳ lão, là nơi hương chức và dân làng bàn việc việc làng, việc nước qua một tổ chức gồm có bộ phận quyết nghị và bộ phận chấp hành, trong tính cộng đồng xã, thôn tự trị.

Dù đình làng Việt Nam không có quy mô của một kim tự tháp hay một đoạn vạn lý trường thành, song có bao nhiêu thôn, làng là có bấy nhiêu ngôi đình. Ở đó, tình yêu quê hương, làng xóm, nghĩa cộng đồng nông thôn của biết bao thế hệ được xây đắp, vun bồi thành tình yêu nước đến tận hôm nay.

Đình làng là một đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Đặc trưng này thể hiện rõ nhất trong xã hội nông thôn, trong đó tính cộng đồng xã, thôn vừa là sợi dây liên kết mật thiết, thắt chặt các phần tử trong cộng đồng vừa là động cơ thúc giục cộng đồng phát triển theo yêu cầu của lịch sử.          

II. Một số điều kiện để đình làng hội nhập và phát triển trong xã hội hôm nay:

2.1. Qua biến thiên của lịch sử, kể từ ngày thực dân Pháp xâm lược nước ta đến sau Cách mạng tháng Tám – 1945, cấu trúc đình làng Việt Nam nói chung, ở Nam bộ nói riêng bắt đầu rạn nứt và đi đến chỗ tan vỡ, chỉ tồn tại dưới dạng một di sản văn hóa.

Đình làng dưới xã hội phong kiến thời Nguyễn dù được hình thành theo triết thuyết vua - thần, song lại được xây dựng và tồn tại trên nền tảng cộng đồng xã thôn tự trị: phép vua thua lệ làng. Vì thế, ngày nay, dù kết cấu của xã hội mới đã phá vỡ cấu trúc đình làng xưa, song trong nền tảng của xã hội xã, thôn, tinh thần cộng đồng xã, thôn vẫn tồn tại, vẫn còn là động cơ thúc đẩy sự phát triển. Do đó, ta có thể đưa đình làng hội nhập vào nhịp phát triển của xã hội nông thôn ngày nay, nếu đình làng đựơc tái cấu trúc hợp lý.

Theo giáo sư Trần Văn Giàu, tinh thần cộng đồng xã, thôn của người Việt, hiểu theo nghĩa rộng thông thường của tiếng Việt, đó là ý thức, tình cảm gắn bó giữa người tộc Việt với nhau (tức tinh thẩn cộng đồng dân Việt), là hệ tư tưởng yêu nước. Theo nghĩa hẹp của môn Nhân học văn hóa (Cultural anthropology), tính cộng đồng chỉ sự gắn kết từng nhóm trong cộng đồng lớn hơn... (gia đình, gia tộc, tôn giáo…), gần với tính tập thể.

Nói cách khác, tinh thần cộng đồng xã, thôn là sự gắn kết hài hòa quyền lợi giữa các tập thể, cộng đồng trong xã hội nông thôn trước xu thế phát triển. Nói cụ thể hơn, đó sự liên kết tự nguyện chặt chẽ giữa các hộ gia đình, các tập thể… trong tinh thần dân chủ, để làm sao cho xã hội ổn định và phát triển dưới sự điều phối của chính quyền địa phương. Có nhiều biểu tượng thể hiện tính cộng xã thôn, trong đó đình làng là biểu tượng chung nhất.

Về vật thể, đình làng xưa gồm có đình và nhà việc (còn gọi là nhà hội hay nhà làng). Đình vừa là nơi thờ phượng vừa là hội họp HĐHC (bộ phận quyết nghị) và dân làng. Nhà việc là nơi làm việc hành chính của hương chức (bộ phận chấp hành).

Đình làng Nam bộ vốn dĩ có ba chức năng: tín ngưỡng, văn hóa và hành chính. Nay chỉ còn hai chức năng: tín ngưỡng và văn hóa. Còn chức năng hành chính chuyển ra khỏi đình. Việc thờ phượng thần Thành hoàng chỉ còn là di sản văn hóa. Còn thiết chế hành chính xã, thôn, vẫn tồn tại theo định chế mới của từng giai đọan lịch sử, dưới dạng một hệ thống tổ chức, thể hiện tính cộng đồng xã, thôn, gồm bộ phận quyết nghị và bộ phận chấp hành.

          2.2. Mô hình đề xuất:

          Đình làng là biểu tượng chung nhất của tính cộng đồng xã, thôn. Vì thế, trong quá trình tái cấu trúc, đưa đình làng trở về hội nhập trong xã hội nông thôn hiện nay, tính cộng đồng không thể vắng mặt trong cơ cấu của bộ máy điều hành mà chủ yếu là hai bộ phận quyết nghị (hội đồng đại diện cho quyền lợi của các tập thể, cộng đồng trong xã) và bộ phận chấp hành (cơ quan thừa hành, thực hiện các nghị quyết của hội đồng).

          - Cơ quan quyết nghị - tạm gọi là Hội đồng hương thôn (HĐHT):Tức Hội đồng Nhân dân (HĐND) xã mở rộng, bao gồm các thành viên trong HĐND và các vị đứng đầu các tổ chức có trong từng xã, như: Mặt trận Tổ quốc; Văn hóa - Thể thao; Hội Nông dân; Hội Phụ nữ; Hội Thanh niên; Hợp tác xã; Hội quán; các câu lạc bộ; Ban tế tự đình, Ban quản lý các di tích...                                                                   

Các nghị quyết của HĐHT có giá trị như nghị quyết của HĐND. Chủ  tịch HĐHT do chủ tịch HĐND phụ trách, chỉ đạo điều hành chung các sinh hoạt.

- Cơ quan chấp hành gồm một chủ tịch và hai hoặc ba phó chủ tịch (tùy theo yêu cầu):

+ Chủ tịch HĐHT: chỉ đạo điều hành, phụ trách chung các hoạt động;

          + Phó Chủ tịch Hội hương: do Trưởng ban Tế tự đình phụ trách: công việc chính là thờ cúng, tế tự các thần đang thờ cúng trong xã; chiến sĩ trận vong, anh hùng liệt sĩ; tổ chức kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7); tôn vinh Bà mẹ Việt Nam anh hùng; phối hợp với Phó Chủ tịch Hội chánh, điều hành hai hoạt động: sinh hoạt cộng đồng và sinh hoạt văn nghệ - thể thao (về mặt cơ sở vật chất);        

+ Phó Chủ tịch  Hội chánh: do Phó Chủ tịch văn xã của UBND đảm nhiệm, điều hành hai hoạt động chính: sinh hoạt cộng đồng và sinh hoạt văn nghệ - thể thao.

                   Khuôn viên được chỉnh trang (có bàn thờ chiến sĩ trận vong trong đình và trong khuôn viên có Đài Liệt sĩ), xây dựng một số phòng ốc làm nơi thực hiện các loại hình hoạt động: thờ cúng thần Thành hoàng và các đối tượng khác; văn phòng; nơi hội họp cho các sinh hoạt cộng đồng và sinh hoạt văn nghệ - thể thao.

Tóm lại, để đình làng có thể hội nhập vào xã hội nông thôn hiện nay, ta thử thực hiện mô hình bình cũ rượu mới:

 

Trên đây là một vài suy nghĩ về vấn đề làm thế nào để khôi phục vai trò của đình làng, hiện đang tồn tại bên lề của xã hội, tái hòa nhập vào đà phát triển của nông thôn hôm nay.

 

N.H.H

 

_______________

(*) Nguyễn Xuân Đào (1958), Tổ chức hành chánh tại cấp xã ở Việt Nam, bản tiếng Anh, do Nguyễn Văn Thuần dịch.
 
     
  Nguyễn Hữu Hiếu ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |