Thứ Bảy, ngày 22 tháng 2 năm 2020        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  11/12/2019  
  ĐÌNH THẦN THƯỜNG PHƯỚC - ĐIỂM TỰA TÂM LINH VÙNG BIÊN  
  Nhằm khuyến khích mọi người cùng chung tay giữ gìn, tôn tạo và phát huy giá trị của một di tích lịch sử - văn hoá dân tộc lâu đời như Đình thần Thường Phước, ngày 22-12-2016, UBND tỉnh Đồng Tháp đã ký quyết định số 1511/QĐ-UBND-HC xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá cấp tỉnh cho Đình thần Thường Phước. Đình Thần Thường Phước bước sang một trang mới sau quyết định xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá ấy.  
 
 

ĐÌNH THẦN THƯỜNG PHƯỚC -

ĐIỂM TỰA TÂM LINH VÙNG BIÊN (*)

(Trích)

 

NGÔ TRẦN HẬU NGHỆ

 

Sau khi cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định ở căn cứ Gò Công thất thủ, nhiều nghĩa quân còn lại phải ly tán khắp nơi để tránh sự vây bắt của kẻ thù. Theo các bậc cao niên kể lại, một trong những người lính ấy là ông Thái Công Chiều đã tạm lánh về tận vùng biên giới Việt Nam - Campuchia rồi khai cơ lập nghiệp ở đây. Đến năm 1883, bằng uy tín và đức độ của mình, đồng thời cũng nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh của người dân địa phương, ông đã đứng ra vận động bà con trong vùng cùng góp công, góp của để xây dựng một ngôi đình trên phần đất ven bờ sông Tiền thuộc thôn Thường Phước lúc đó, nay thuộc ấp 1, xã Thường Phước 1, huyện Hồng Ngự với tên gọi là Đình thần Thường Phước.

Khi mới xây cất lần đầu, Đình thần Thường Phước khá đơn sơ, được làm bằng tre, lá, cột gỗ, nền đất, cất theo kiểu ba gian, một nóc để thờ thần Thành Hoàng bổn cảnh. Kể từ đó, ngôi đình thần trở thành niềm tự hào, là niềm vui chung của cả cộng đồng dân cư khu vực biên giới này. Bởi ngoài việc thờ thần Thành Hoàng bổn cảnh, ngôi đình này còn là nơi để thờ phụng, tưởng nhớ các bậc Tiền hiền và Hậu hiền đã khai hoang lập ấp, mở mang bờ cõi và cũng là nơi mọi người cùng đến vui chơi, sinh hoạt cộng đồng, tổ chức lễ hội… hàng năm.

Năm 1887, khi ông Thái Công Chiều qua đời, con trai của ông là Thái Công Lợi đã dời ngôi đình về gần ranh giới Việt Nam - Campuchia, cách vị trí cũ hơn 300 thước về phía biên giới. Đây là vị trí thuận lợi hơn cho người dân địa phương chiêm bái trong mỗi kỳ lễ hội hay cúng viếng thần Thành Hoàng bổn cảnh trước khi đi sang đất bạn Campuchia hay khi vừa quay trở về nước mình. Dù ngôi đình thần Thường Phước hiện nay không còn ở vị trí do ông Thái Công Lợi định vị xây dựng xưa kia nhưng vẫn còn đó trong dân gian một địa danh Bến Đình ngay sát biên giới Việt Nam - Campuchia ngày nay.

Kể từ khi được xây dựng, Đình thần Thường Phước ngày càng quan trọng hơn trong đời sống tâm linh của người dân địa phương. Thông qua những lễ hội cúng đình, tổ chức hát đình, trò chơi tập thể…, tình cảm xóm giềng ngày một thắt chặt hơn, cuộc sống càng yên vui hơn.

Đến năm 1944, Đình thần Thường Phước được vua Bảo Đại sắc phong thần Thành Hoàng bổn cảnh. Sắc được viết bằng chữ Hán, trên giấy kim tiên có in hoa văn và hình rồng, được đựng trong một cái hộp kín và giao cho một vị chánh tế cất giữ. Nguyên văn sắc thần được phiên âm như sau:

Sắc Châu Đốc tỉnh, Tân Châu quận, An Thành tổng, Thường Phước thôn, phụng sự Bổn cảnh Thành Hoàng tôn thần, hộ quốc tý dân nẫm trứ linh ứng. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh, miễn niệm thần hưu trứ, phong vi Tĩnh hậu dực bảo trung hưng trung đẳng thần. Chuẩn kỳ phụng sự khang cơ, thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân.

Khâm tai.

Bảo Đại thập cửu niên, tam nguyệt, nhị thập nhị nhật.

Dịch nghĩa:

Sắc phong cho thôn Thường Phước, tổng An Thành, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, phụng sự thần Bổn cảnh Thành Hoàng, đã có công giữ nước giúp dân, bấy lâu linh ứng thật rõ ràng. Nay trẫm vâng mệnh sáng tỏ, luôn mong nghĩ đến sự tốt đẹp của thần nên phong là Tĩnh hậu dực bảo trung hưng trung đẳng thần. Vậy cho phép việc thờ phụng, mong thần hãy giúp đỡ, che chở cho dân chúng của trẫm.

Kính thay.

Ngày 22 tháng 3 năm Bảo Đại thứ 19.

Đình làng được sắc phong của vua, được xem  là một sự kiện trọng đại với mỗi người dân Thường Phước. Theo quan niệm thiên tử phong bách thần, thần Thành Hoàng bổn cảnh được thờ trong đình làng một khi được sắc phong sẽ chính thức trở thành người đại diện cho thiên tử để quản lý một địa phương về mặt tâm linh. Khi đó, thần Thành Hoàng bổn cảnh sẽ là cấp thừa hành của thiên tử để bảo vệ dân làng, phù hộ cho người dân được mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống yên lành. Mặt khác, Đình thần Thường Phước được sắc phong, không những chứng tỏ triều đình đã công nhận thôn Thường Phước đã có một thiết chế công sở văn hoá tín ngưỡng dân gian trọn vẹn mà còn chứng tỏ người dân nơi đây đã có cuộc sống ổn định cả về vật chất lẫn tinh thần.

Kể từ đây, các lễ hội hay sinh hoạt cộng đồng của người dân địa phương gắn chặt với Đình thần Thường Phước, được tổ chức có quy cũ và trang trọng hơn trước.

 Theo cổ lệ, hàng năm, ít nhất Ban Tế tự Đình thần Thường Phước cũng có hai lệ cúng lớn là cúng lễ Hạ điền có kết hợp cúng lễ Kỳ yên vào ngày 16 - 17 tháng 4 âm lịch và đến ngày 16 - 17 tháng chạp âm lịch, dân làng lại cúng lễ Thượng điền. Nội dung cúng lễ Hạ điền hay Thượng điền đều có liên quan đến nghi thức cúng vị Thần Nông, khấn cầu cho phong điều vũ thuận, quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt. Trong hai lễ cúng này thì điều khác nhau cơ bản là cúng lễ Hạ điền được cúng vào đầu mùa mưa, có ý nghĩa như lễ xuống đồng, khai trương cho việc cày cấy trong năm, còn lễ cúng Thượng điền được cúng vào cuối mùa mưa, khi mùa vụ đã kết thúc, lúa thóc đã vào bồ. Lễ Thượng điền thường được cúng nhỏ hơn lễ Hạ điền nhưng lại mang ý nghĩa như một lời tạ ơn Trời Đất, Thần Nông…, đã mưa thuận gió hòa, giúp cho mùa màng tươi tốt, thóc lúa đầy bồ. Tùy theo điều kiện, khả năng của từng gia đình, vật phẩm mang đến cúng đình trong lễ Hạ điền và lễ Thượng điền cũng rất đa dạng như gạo, nếp, các loại đậu, trái cây… mà mình làm ra được. Đôi khi, cúng phẩm mang đến đình khá đơn giản nhưng đó là tấm lòng chân thành của bà con trong làng xóm dâng lên các ơn trên.

Sau buổi tế lễ trang nghiêm của Ban Tế tự trong đình, các hoạt động vui chơi giải trí như nhảy dây, kéo co, đập nồi, hát bội…, diễn ra sôi nổi. Nếm trải qua  những ngày làm lụng vất vả, người dân Thường Phước lại có dịp vui chơi, sinh hoạt cộng đồng, được tận hưởng lộc của thần Thành Hoàng ban cho, được ăn uống, trò chuyện, giao lưu ngay dưới mái đình thân yêu của mình. Chút an ủi này sẽ là động lực để mọi người tiếp tục cuộc mưu sinh vất vả ở những ngày sau đó.

Ở góc độ khác, từ trước khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngoài việc là nơi sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân thì Đình thần Thường Phước còn là một nơi hoạt động của cán bộ cách mạng. Những cuộc vận động nhân dân đấu tranh, những lời hiệu triệu chống Pháp được phát ra từ ngôi đình này không phải là ít. Tiêu biểu nhất phải kể đến trường hợp của ông Đào Công Nghiệp. Theo lời kể của các bậc cao niên và có sự xác nhận của nhà cánh mạng lão thành Phạm Ngọc Hinh thì ông Đào Công Nghiệp, dưới vai trò là một trong những bậc Tiền hiền khai khẩn cho Đình thần Thường Phước đã tích cực hoạt động cách mạng tại đây. Năm 1940, ông Đào Công Nghiệp bị giặc bắt, đày đi Côn Đảo rồi hy sinh trong nhà tù ngoài đó.

Trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đang diễn ra, nhiều Việt kiều yêu nước từ Campuchia trở về Việt Nam đã được tập hợp lại, thành lập cả trung đội dưới sự chỉ huy của ông Lâm Thành Thái. Chính trung đội đóng chốt trong Đình thần Thường Phước là lực lượng đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ người dân trên vùng biên giới này.

Sau ngày nước ta giành được nền độc lập, Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Trước hoàn cảnh đó, Đình thần Thường Phước tiếp tục trở thành một địa điểm quy tụ các chiến sĩ cách mạng và quần chúng nhân dân yêu nước hoạt động chống ngoại xâm. Ngoài ra, nhiều buổi lễ truy điệu các chiến sĩ đã hy sinh cũng được tiến hành ngay trong ngôi đình này.

 Cuộc kháng chiến ngày càng quyết liệt, giặc càn quét, tàn phá khắp nơi. Trước tình hình đó, năm 1947, ông Thái Công Cẩn kêu gọi bà con địa phương di dời Đình thần Thường Phước về vị trí mới cũng gần bờ sông Tiền, nay thuộc ấp 3, xã Thường Phước 1. Về vị trí mới, Đình thần Thường Phước dù được cất bằng gỗ, tre, lá thô sơ nhưng vẫn là nơi người dân địa phương thờ cúng thần Thành Hoàng bổn cảnh, các bậc tiền nhân cũng như là nơi hội họp, sinh hoạt cộng đồng.

Khi Hiệp định Giơ - ne - vơ sắp được ký kết, Mỹ âm mưu lật đổ Bảo Đại để đưa Ngô Đình Diệm lên thay. Nắm được ý đồ của chúng, Đảng ta tranh thủ thời cơ vận động Ban Tế tự trong đình tiến hành kêu gọi nhân dân tề tựu lại đòi quận trưởng quận Hồng Ngự chấp thuận cho ta được tự do hội đình và được tên quận trưởng đồng ý. (**) Từ đó, chính quyền cách mạng đã chọn ra một số cán bộ tiêu biểu như các ông Nguyễn Văn Thôi, Nguyễn Công Lập, Thái Công Giỏi đưa vào trong Ban Tế tự. Thông qua hoạt động hội đình, ta tuyên truyền cho nhân dân đấu tranh chống địch càn quét, bắt bớ, đánh đập người tùy tiện, thu hút nhiều người tham gia.

Để kiểm soát hoạt động của Đình thần Thường Phước, Ngô Đình Diệm cho xây một đồn bót gần ngôi đình. Nhằm thoát khỏi sự kiểm soát đó, năm 1958, các ông Nguyễn Văn Thôi, Nguyễn Văn Xướng và Nguyễn Công Lập vận động nhân dân di dời Đình thần Thường Phước về vị trí mới, gần với bến đò Mương Miễu, nay thuộc ấp 3, xã Thường Phước 2. Tại đây, Đình thần Thường Phước được cất quy mô hơn, rộng hơn 100 thước vuông. Lúc này, cột và vách đình được làm bằng gỗ, mái đình lợp ngói, nóc đình có 3 mái. Với quy mô đình như vậy cộng với vị trí của đình thuận tiện cho cả người đi bằng đường bộ lẫn đường thủy nên số người đến thăm viếng, chiêm bái, cúng đình rất đông.

Đến năm 1989, bờ sông Tiền bị sạt lở nhiều đoạn sát tới ngôi đình. Thấy vậy, ông Thái Công Giỏi và ông Trịnh Hoàng Mẫm vận động nhân dân địa phương di dời Đình thần Thường Phước về vị trí hiện nay, tại ấp 1, xã Thường Phước 2, thuộc huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

Tại đây, Đình thần Thường Phước được xây dựng trong một khuôn viên rộng gần hai công rưỡi đất. Dưới sự quan tâm tu bổ, sửa sang của vị chánh bái đời thứ 13 - ông Trịnh Hoàng Mẫm - cùng với sự chung sức, chung lòng góp của, góp công của bà con trong vùng, Đình thần Thường Phước ngày càng được tu bổ hoàn thiện hơn. Kể từ đó, Đình thần Thường Phước càng gắn bó hơn nữa với đời sống tâm linh, sinh hoạt  của nhân dân  địa phương và cả khách vãng lai.

Nhằm khuyến khích mọi người cùng chung tay giữ gìn, tôn tạo và phát huy giá trị của một di tích lịch sử - văn hoá dân tộc lâu đời như Đình thần Thường Phước, ngày 22-12-2016, UBND tỉnh Đồng Tháp đã ký quyết định số 1511/QĐ-UBND-HC xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá cấp tỉnh cho Đình thần Thường Phước. Đình Thần Thường Phước bước sang một trang mới sau quyết định xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá ấy.

N.T.H.N

 

______________

(*) Tác phẩm tham dự xét đầu tư năm 2019 của Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp;

(**) Bảo tàng Tổng hợp Đồng Tháp (2016), Lý lịch di tích đình Thường Phước, trang 5.

 
     
  Cộng tác viên ( Hội Liên hiệp VHNT ĐồngTháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật




  • Phụng! (09/12/2019)

  • NỒI LÁ XÔNG … (09/12/2019)

  • LỜI PHÊ (09/12/2019)















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |