Thứ Bảy, ngày 5 tháng 12 năm 2020        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  06/10/2020  
  CÂY CHUỐI DÂN GIAN  
 

Xã hội ngày nay tuy phát triển vượt bậc so với ngày xưa, nhưng những giá trị từ chuối mang lại như kể trên (tùy vùng miền, tùy nơi, tùy gia đình) là rất lớn, khó kể hết được. Bởi vậy mà ngày nay, loại cây này vẫn còn hiện hữu ở thế gian…

 
 
 

CÂY CHUỐI DÂN GIAN

 

TRẦN THỊ NGỌC LY

 

Chuối là loại cây nhà lá vườn, mọc tự nhiên và được trồng phổ biến ở nhiều nơi. Chuối phục vụ rất nhiều cho sinh hoạt của người và vật. Loại cây này có rễ mọc chùm, thân suông, trữ nhiều nước, bọng, có nhiều lớp áp sát kết thành. Chuối không có cành hay chỉa ngọn như những giống cây khác mà chỉ mọc ra tàu dài, nhờ đọt non vươn cao rồi trưởng thành. Khi đọt trưởng thành sẽ tạo ra những tàu lá chuối dài ốp lấy thân rồi xòe ra xung quanh. Đây cũng là điểm khác biệt giữa cây chuối với những giống cây khác.

Tuổi thọ và vòng đời cây chuối không cao, chỉ được vài tháng và chỉ cho ra duy nhất một buồng chuối. Khi cây chuối già cho ra bắp, nở hoa, đậu trái và buồng chuối phát triển đủ lớn thì người ta sẽ chặt bỏ ngang thân nó để cho cây con mới được mọc lên. Nhờ thế mà vòng đời mới của cây chuối được tiếp tục.

1. Các loại chuối

- Chuối già cui: Tuy ăn ngon nhưng có người cho rằng thịt nó độc hơn những giống chuối khác, nên họ không ăn về đêm bởi khó tiêu hóa.

- Chuối già hương: Khác chuối già cui ở mùi thơm và ăn ngọt hơn.

- Chuối lá Xiêm: Giống này được nhập từ Thái Lan, có thân to, tròn, ngọt và ngắn hơn so với chuối già cui, khi chín có màu vàng tươi. Có hai loại: Xiêm trắng và Xiêm đen. Xiêm đen khác với Xiêm trắng ở sắc đen và có vị ngọt hơn.

- Chuối tá quạ: Hay tá quả, ý nói to, lớn. Là giống chuối cho trái rất to, chỉ cần ăn một trái, có thể thay cơm. Khi chín, trái màu vàng và có da căng bóng.

- Chuối cau: Trái nhỏ nhất trong các giống chuối, khi chín có màu vàng tươi, thơm và rất ngon.

- Chuối sáp: Có thân giống chuối cau. Là loại ngon nhất sau khi được nấu chín so với các chuối khác, nhờ thịt nó cứng, dẻo, ngọt và thơm.

- Chuối ngự: Ngày xưa, những vật gì dâng lên cho vua chúa dùng thường có từ ngự, chỉ sự tôn quý. Như vậy, chuối ngự là loại ngon nhất được đem dâng lên vua, chúa dùng, có xuất xứ từ Huế và phổ biến nhiều nơi về sau. Loại này có hình dáng giống chuối lá Xiêm nhưng ngon, ngọt và to hơn.

- Chuối hột: Là giống khác biệt nhất, bởi có nhiều hột bên trong thịt, trái chín ăn ngọt, vỏ dày, có đổi màu hơi vàng sau khi chín và được ngâm làm rượu thuốc. Riêng trái sống vẫn có thể ăn được.

2. Chuối trái

Sau khi chuối buồng được đốn sẽ còn sống, đầy nhựa, người ta muốn ăn chín tự nhiên thì sẽ đem giú cho nó nhanh trở mình (thay màu da chuối), bằng hai cách:

+ Giú nhờ khói nhang: Cắt nhỏ các nải ra, để xếp chồng lên nhau vào một cái lu, rồi cắm vào đó ba cây nhang, sau một đêm, lấy ra để ngoài tự nhiên. Nhờ độ nóng lan tỏa của lửa và khói nhang mà chuối hấp thụ rồi chín nhanh.

+ Giú trong lu gạo: Độ nóng của gạo sẽ giúp ủ chuối chín tự nhiên. Khác với nhang, chuối giú trong gạo cần để lâu ngày hơn, khi thấy có màu vàng thì lấy ra.

Cách nấu chuối trái chín cũng cần mẹo để chuối chín ngon, mềm và dẻo: Ngâm nước lạnh trước khi luộc. Đến khi luộc, cho chuối vào nồi từ lúc còn lạnh cho đến khi sôi dần lên (không để nước sôi rồi mới cho chuối vào). Việc này giúp vỏ chuối sau khi chín không bị đen.

Với những sản phụ trong tháng, nhiều người ở miền Nam thường cho họ ăn chuối lá Xiêm chín với món kho mặn, vì họ quan niệm nó lành tính. Ở miền Bắc thì cho ăn chuối già cui, chuối hương… vì họ cho rằng, chuối có nhiều chất bổ dưỡng, người mẹ sẽ có nhiều sữa cho con bú và giúp trẻ không bị bón.

3. Thân, lá và cọng chuối 

- Thân chuối: Dùng thanh tre nhọn, kết nối bằng cách xuyên qua thân nhiều cây chuối lớn, làm bè di chuyển trên sông nước. Dân gian còn dùng làm bè cho tàu cống (tàu tống ôn, tống quái). Các thân cây chuối rời, con nít thường dùng làm phao nổi để bơi lội chơi giỡn trên sông. Có nơi còn dùng thân chuối, thái nhuyễn trộn với cám làm thức ăn cho heo.

- Lá chuối: Dùng gói các loại bánh như bánh tét, bánh chuối, bánh ú, bánh ít… Người ta cắt rời tàu lá, đem phơi một nắng cho lá dẻo hơn, không bị rách hay tét khi gói bánh. Lau sạch lá trước khi gói và nấu chín lá cùng với bánh. Khi đổ bánh xèo, lá chuối được lót ngăn tách mỗi cái bánh, sau khi đổ xong để bánh không bị dính vào nhau. Con nít khi chơi nhà chòi cũng dùng tàu lá chuối để làm mái che, lót nền ngồi và còn tuốt lá làm tóc giả…

- Cọng chuối (còn gọi là bẹ chuối): Đập bẹp một đầu để làm cây thoa mở chống dính chảo khi đổ bánh xèo, bánh khọt, bánh kẹp… Tước nhỏ, phơi khô làm dây gói bánh nhờ vào sự dẻo dai và dễ buộc chặt. Con nít còn rọc cọng ra nhiều miếng nhỏ làm súng chuối, tạo tiếng nổ mỗi khi vung lên dập xuống.

4. Những điều liên quan đến cây chuối

- Chuối trong ẩm thực:

Trái chuối khi chín, ngoài việc ăn trực tiếp thì còn được dùng chế biến thêm nhiều món ăn như chè chuối, chuối xào dừa, chuối hầm dừa… Tất cả các món ăn này gần giống như nấu chè, có kèm theo bột báng, bột phai, nước dừa khô, thêm gia vị đường cát, chút muối.

Chuối chiên, cũng là món ăn ưa thích. Cắt nửa trái chuối, ép cho trái nhòe ra, lớn thêm chút rồi lăn vào thau bột đã được chuẩn bị sẵn, có nêm chút gia vị vừa ăn rồi cho vào chảo dầu sôi, đợi chuối chín vàng, trở đều, sau đó gắp ra để ráo dầu.

Chuối nướng trái chuối đã lột vỏ, để nguyên hay bọc một lớp xôi nếp bên ngoài rồi nướng vàng. Đây cũng là một món ăn hấp dẫn.

Có người còn xẻ trái chuối thành nhiều miếng nhỏ, phơi khô làm chuối khô, chuối sấy. Người ta còn chế thêm nhiều món ăn như mứt chuối (chuối chín, ép cán mỏng tròn) hay làm mứt từ trái chuối non; kẹo chuối (hình như viên kẹo, có thêm đậu phộng).

Nhiều loại chuối trái như chuối ngự, chuối già cui, chuối già hương, chuối hột… có thể ăn sống kèm chung với nhiều loại rau và bánh tráng cuốn.

Bắp chuối xắt sợi được dùng nấu canh sim lo, món canh có nguồn gốc từ người Khmer nấu chung với cá khô (tên đầy đủ theo chữ phiên âm là som - lo - mô - chu). Không chỉ nấu canh mà bắp chuối còn được xắt sợi làm gỏi ăn với cháo hay làm ghém trộn chung với giá ăn với món bún nước. Thân cây chuối non cũng được xắt sợi nhuyễn làm gỏi như bắp chuối.

Dân gian thường dùng chuối hột, ngâm làm rượu thuốc, giúp trị đường ruột, tiêu hóa và đau nhức xương khớp rất hiệu quả.

- Chuối trong văn học dân gian:

Để răn dạy con cái trong nhà phải biết yêu thương, đùm bọc, bảo vệ nhau, dân gian có câu ca dao: Chị em như chuối nhiều tàu/ Tấm lành che tấm rách, đừng nói nhau nặng lời. Một sự trách hờn, nuối tiếc, công mình bỏ ra chăm sóc, theo đuổi nhưng không được đền đáp xứng đáng trong tình cảm trai gái: Công anh trồng chuối lên bàu/ Lá thời ai rọc, bỏ tàu bơ vơ. Cha mẹ khi về già dễ đau ốm, bịnh tật, phận làm con phải biết lo lắng, chăm sóc, kính dưỡng cho tròn bổn phận để làm vui lòng cha mẹ: Mẹ già như chuối ba hương/ Như xôi nếp mật, như đường mía lau

Lời ru bé ngủ: Ầu ơ… Gió đưa bụi chuối sau hè/ Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ hay: Mẹ già như chuối chín cây/ Gió lay mẹ rụng con phải mồ côi…

- Chuối trong mâm ngũ quả ngày tết:

Khi Tết đến, cách chưng mâm ngũ quả của người miền Nam và miền Bắc có khác nhau. Người miền Nam không chưng chuối chung trên mâm ngũ quả. Không những vậy, họ còn kiêng cữ việc này, vì cho rằng, như vậy sẽ dẫn đến xui xẻo, bởi chuối là nói trại của chúi lủi (một sự tuột dốc trong làm ăn và các việc khác). Nhưng ở miền Bắc thì ngược lại hoàn toàn, trên mâm ngũ quả, nải chuối xanh được xem là chủ lực, tuyệt đối không thể thiếu trong ngày tết. Nó giống như bàn tay vững chãi để nâng đỡ các thứ khác, còn màu xanh là màu hy vọng.

- Chuối trong tang lễ:

Khi gia đình có người thân mất, sau khi người nhà tắm rửa, thay đồ cho người mất xong, sẽ giăng mùng cho người mất nằm bên trong, tránh linh miêu phóng qua người theo tích xưa, rồi để nải chuối lá Xiêm xanh trên bụng người mất. Việc này được hiểu như sau: Người sống vừa mất dễ bị tích tụ âm khí và mùi không sạch bay ra ngoài. Nải chuối xanh giúp hút khí độc âm và mùi người mất, nhờ mủ của nó. Khi liệm người mất thì nải chuối xanh bị chặt ra làm nhiều khúc và quăng bỏ, tránh để người hay vật ăn, không tốt. Khi liệm xong, người xưa còn đặt cây chuối con trước đầu hòm, có công dụng như nải chuối. Nếu tàu chuối nhanh héo thì chứng tỏ chỗ đó khí độc nhiều. Sau khi động quan, cây chuối cũng bị chặt bỏ theo nải chuối.

Ngày mở cửa mả, cọng chuối được dùng làm cầu thang đặt trước đầu mả, với quan niệm giúp người mất theo chỗ đó mà về dương gian.

Riêng người mất đang mang thai thì người nhà sẽ trồng cạnh mộ của họ một cây chuối. Khi nào thấy chuối trổ bắp, tức là ma phụ đã sinh con. Việc sinh con này không có nghĩa là đứa bé còn sống mà xem như đã sinh ra ma con theo quan niệm dân gian.

Xã hội ngày nay tuy phát triển vượt bậc so với ngày xưa, nhưng những giá trị từ chuối mang lại như kể trên (tùy vùng miền, tùy nơi, tùy gia đình) là rất lớn, khó kể hết được. Bởi vậy mà ngày nay, loại cây này vẫn còn hiện hữu ở thế gian…

 

T.T.N.L
 
     
  Cộng tác viên ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |