Chủ Nhật, ngày 18 tháng 8 năm 2019        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  30/03/2011  
  Nói thơ, nói truyện  
 

          Một tối nói thơ, nói truyện diễn ra rất đơn giản. Một khoảng sân trước nhà nào đó trong xóm được quét sạch, mấy chiếc đệm, manh chiếu được trải ra chung quanh một đống un, vừa đuổi muỗi vừa có ánh sáng để đọc hoặc một ngọn đèn dầu đậu phộng, dầu cá, dầu mù u (dầu lửa hiếm, phải đi chợ xa mua mới có). Đống un được nhóm lên từ con cúi (còn gọi là công cúi, một thứ công cụ giữ lửa được đánh (tếch) bằng rơm, giống như thắt bím tóc), thính giả ngồi chung quanh, nghệ nhân ngồi giữa, gần đóng un, bắt đầu diễn xướng theo lớp lang, chương, hồi trong bổn thơ, bổn truyện..

 
 
 

NÓI THƠ, NÓI TRUYỆN

                                                                                      NGUYỄN HỮU HIẾU

 mùa nu_c n_i.jpg

            Trước Cách mạng tháng 8 - 1945, ở nông thôn Nam bộ hiện diện nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian. Tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế và sở thích cá nhân, mỗi nông dân có thể chọn một cách thư giản riêng trong lúc lao động hoặc sau một ngày miệt mài trên đồng ruộng. Điền chủ giàu có thì khỏi phải nói, họ bỏ ra một số tiền lớn, trị giá hàng mấy chục gịa lúa để mua máy hát loại lên dây thiều sang trọng nhứt lúc bấy giờ, có đầu pâter gắn kim chạy trên đĩa hát Asia, hát các tuồng hát bội hoặc cải lương thời thượng lúc ấy như Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, Lữ Bố hý Điêu Thuyền, Trảm Trịnh Ân hoặc Tô Ánh Nguyệt hay Cay đắng mùi đời...Lớp dân dã nếu có khả năng thì chơi đờn ca tài tử, nếu không thì hò hát lúc cày cấy, tát nước, chèo ghe, chăn trâu, cắt cỏ...hoặc chờ đến khi cúng hạ điền, thượng điền, kỳ yên để coi hát bội ở đình làng...

            Nhưng có lẽ phổ biến hơn hết là nghe nói thơ, nói truyện. Đây là dạng giải trí vừa đơn giản vừa rẻ tiền và ai ai cũng thưởng thức được. Nghệ nhân, tạm gọi như vậy, có thể chỉ là một cậu học trò học hết lớp dự bị (lớp hai) hoặc lớp ba trường làng (Cours Élémentaire) miễn có giọng đọc (chữ quốc ngữ) tốt, truyền cảm là được.  

            Thơ ở đây không phải là thơ theo nghĩa thông thường, mà truyện thơ (truyện viết bằng văn vần), nhưng người dân miệt Lục tỉnh không gọi như vậy mà quen gọi là thơ, để phân biệt với truyện (tức truyện viết bằng văn xuôi). Đó là các truyện thơ dân gian như : Thạch Sanh - Lý Thông, Lâm Sanh - Xuân Nương, Phạm Công - Cúc Hoa, Con Tấm - Con Cám, Nàng Út ống tre, Chàng Nhái - Kiển Tiên, Bạch Viên - Tôn Các, Cha Hồ - Chú Nhẫn, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Trần Minh khố chuối, Dương Ngọc, Nam Kinh - Bắc Kinh, Lang Châu cùi, Lão Trượng - Tiên Bửu, Tống Tử Vưu, Trần Đại Lang, Lý Công - Thị Hương, Ngọc Cam - Ngọc Khổ, Mục Liên - Thanh Đề, Chiêu Quân cống Hồ, Nhị thập tứ hiếu, Thằng Lãnh bán heo, Doan Văn - Chàng Lía, Sáu Trọng - Hai Đẩu, Thầy Thông Chánh, Cậu Hai Miên, Sáu Nhỏ, Năm Tỵ…được một số nhà thơ dân gian như Nguyễn Văn Khoẻ, Lê Ngọc Mai, Nguyễn Bá Thời, Nguyễn Kim Khuê, Huỳnh Kim Danh...biên soạn lại.

            Đây là các tập thơ mỏng, thường là thể lục bát, mỗi dòng hai câu. Nhà xuất bản thường là các nhà buôn như Thuận Hoà, Phạm Văn Cường, Phạm Văn Thình… ở Chợ Lớn in ấn. Ngoài bìa, quyển nào cũng in dòng chữ bổn cũ soạn lại. Mỗi quyển được gọi là bổn thơ. Đây đích thị là tác phẩm thơ ca bình dân. Tác giả dựa vào chuyện tích có sẵn trong dân gian, với lối văn biền ngẫu, chữ dùng nôm na, bình dị dễ hiểu, không văn chương hoa mỹ, không điển tích cao siêu, cầu kỳ...để diễn đạt.

            Mở đầu bổn thơ thường là hai câu lục bát na ná nhau giới thiệu về nguồn gốc, xuất xứ của truyện. Như trong Bạch Viên - Tôn Các :

            Sách ngoài tra khảo mọi nơi; Xem trong truỵên cũ thuở đời Hy Nguyên.

            Còn trong Con Tấm - Con Cám là :

            Nhà Đinh vào khoảng cuối trào; Quốc gia biến sự chuyện sao lạ lùng.

            Hoặc trong Ngọc Cam - Ngọc Khổ thì :

            Trải xem cổ tích truyền lời; Rằng xưa quốc thạnh thuở đời Minh vương.

            Còn kết thúc, đương nhiên là truyện có hậu, kẻ gian bị trừng trị, người ngay vinh hiển, giàu sang, gia đình sum hợp, như trong Thoại Khanh - Châu Tuấn :

            Từ đây an vững nghiệp vương; Nhơn dân cả nước thái bình âu ca.

            Tuấn vương ba vợ kia là; Đều sanh con phụng trổ ra cháu rồng.

            Đời đời giữ nghiệp tổ tông; Thay nhau kế trị ngôi rồng thảnh thơi.

            Hoặc trong Nam Kinh - Bắc Kinh là :

            Tích xưa bổn cũ lưu troàn; Giả chơn hai lẽ luận bàn tại tâm.

            Ta người diễn chánh quốc âm; Xưa nay ai cũng phải lầm, phải sai.

            Hậu sanh siển học, thiển tài; Nói theo truyện cũ vắn dài diễn ca. 

          Còn truyện, cũng trên cơ sở truyện tích dân gian có sẵn, được thể hiện bằng văn xuôi và chia thành : đoạn, thứ, hồi là một chặng trong diễn tiến câu chuyện do các tác giả bình dân kết cấu khi sáng tác, nó như là một màn, một cảnh trong cải lương, thường bắt đầu bằng :

            Thứ này tới thứ….

            Đoạn này kể đến…

            Hồi này nói việc…

            Ở đây nói về….

            Và kết thúc bằng : Xem hồi sau sẽ rõ…

            Sách sau khi in ra, được các nhà buôn phát hành đến tận các tiệm chạp phô (tạp hoá) người Hoa khắp miệt Lục tỉnh, để bán chung với trăm thứ hàng hoá khác. Nông dân ở trong đồng xa, một vài tuần, thậm chí đến cả tháng mới bơi xuồng hoặc chèo ghe đi chợ một lần, thấy có bổn thơ, bổn truyện mới, ai thích cứ mua về, không biết chữ thì nhờ người khác đọc.

            Thời này, xóm ấp nào cũng vài người đã học hết lớp ba trường làng, thừa sức đọc thơ, đọc truyện và trở thành một loại nghệ nhân nói thơ, nói truyện bất đắc dĩ cho xóm ấp.

            Một tối nói thơ, nói truyện diễn ra rất đơn giản. Một khoảng sân trước nhà nào đó trong xóm được quét sạch, mấy chiếc đệm, manh chiếu được trải ra chung quanh một đống un, vừa đuổi muỗi vừa có ánh sáng để đọc hoặc một ngọn đèn dầu đậu phộng, dầu cá, dầu mù u (dầu lửa hiếm, phải đi chợ xa mua mới có). Đống un được nhóm lên từ con cúi (còn gọi là công cúi, một thứ công cụ giữ lữa được đánh (tếch) bằng rơm, giống như thắt bím tóc), thính giả ngồi chung quanh, nghệ nhân ngồi giữa, gần đóng un, bắt đầu diễn xướng theo lớp lang, chương, hồi trong bổn thơ, bổn truyện...Thỉnh thoảng có giải lao cho nghệ nhân xả hơi, nghỉ mệt.

            Nghệ nhân nói thơ có trình độ, ngoài giọng đọc rõ ràng, truyền cảm còn phải nhập vai từng nhân vật trong truyện, nắm bắt trạng thái tâm lý nhân vật thể hiện qua giọng nói trong từng hồi, từng thứ...khiến người nghe có cảm giác như đang chứng kiến câu chuyện diễn ra trước mắt.

            Vì vậy, người ta phân biệt ra hai lối nói thơ :

            - Nói thơ Lục Vân Tiên : dành cho các bổn thơ dài như Lục Vân Tiên, Thạch Sanh - Lý Thông, Lâm Sanh - Xuân Nương, Phạm Công - Cúc Hoa, Con Tấm - Con Cám…áp dụng thang âm điệu thức oán, nên sắc thái lời nói thâm trầm, mụ mẫm, não nùng [1].

            - Nói thơ Bạc Liêu : thường dùng cho các bổn thơ ngắn.

            Do thỉnh thoảng mới mua hoặc mượn đâu đó bổn mới, nên bổn trước (bổn cũ) được đọc đi đọc lại nhiều lần đến nỗi chẳng những người diễn xướng mà ngay cả người nghe cũng thuộc làu cốt truyện và cuốn truyện sình lên, bìa rách tơi tả, phải lấy nẹp tre gia cố lại. Nếu ai đó có hỏi, một truyện đọc hoài không chán sao ? Xin thưa rằng, không chán, vì không đi nghe nói thơ, nói truyện nằm nhà không có gì tiêu khiển, giải trí mới chán. Hơn nữa, đến đây ngoài nghe nói thơ, nói truyện, còn được nghe những người lớn tuổi, có hiểu biết hơn mình bình phẩm về hành động, nghĩa cử, lời ăn tiếng nói của các nhân vật trong truyện, ý nghĩa của truyện...làm kinh nghiệm sống ở đời, thì sao gọi là chán!

             Nói là nói vậy, chớ có bổn mới vẫn thích hơn, nên mỗi khi có bổn mới, số thính giả tăng lên thấy rõ.

            Do đó, không lạ gì, trước đây có lúc ta tiếp xúc với một bà cụ quê mùa, một lão nông chất phác, chữ nho cũng như quốc ngữ một nét không biết, nhưng có thể nói và giảng vanh vách một số câu chữ nho căn bản trong Minh tâm bửu giám, điều đạo nghĩa, tiết hạnh trong Lục Vân Tiên hoặc thuộc lòng nhiều đoạn, nhiều thứ, nhiều hồi của một số bổn thơ, bổn truyện, mà phổ biến là Thạch Sanh - Lý Thông, Con Tấm - Con Cám, Nàng Út ống tre hay Gia Long tẩu quốc, Ngọn cỏ gió đùa, Cay đắng mùi đời...

            Trong xã hội văn minh hiện đại ngày nay, với khoa học công nghệ tiến bộ, kinh tế - xã hội ngày một phát triển, một số loại hình sinh hoạt văn hoá văn nghệ dân gian có thể bị biến dạng hoặc mai một, vì không còn cơ sở và điều kiện để tồn tại, trong đó có loại hình nói thơ, nói truyện. Có thể coi cây cầu khỉ gập ghình, chiếc cầu tre lắt lẻo chính là hình ảnh của lối nói thơ, nói truyện ngày xưa. Ngày nay, cầu khỉ dần được bê tông hoá, các phương tiện nghe nhìn hiện đại như radio, cassette, tivi... đã thế chỗ từ lâu những đêm nghe nói thơ, nói truyện bên cạnh đống un.

            Dẫu sao, cũng như cây cầu khỉ, loại hình sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian nói thơ, nói truyện đã hoàn tất vai trò lịch sử của mình. Bên cạnh chức năng giải trí, thư giản của nông dân Nam bộ trước đây; nói thơ, nói truỵên còn góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.

                                                                                                                         N.H.H

_____________________

[1] Lê Giang - Lư Nhất Vũ (chủ biên, 1995) : Dân ca Đồng Tháp, NXB Tổng hợp Đồng Tháp, tr.57-58


 
     
  Nguyễn Hữu Hiếu ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |