Chủ Nhật, ngày 18 tháng 8 năm 2019        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  06/04/2011  
  CẢI LƯƠNG NAM BỘ TRÊN ĐẤT BẮC HỒI ĐẦU THẾ KỈ XX  
  Từ 1930 trở đi, Hà Nội được coi như mảnh đất màu mỡ cho cải lương Nam Bộ thi thố. Các gánh hát lớn ở Sài Gòn như Tái Đồng Bang, Thịnh Lạc Bang, Tân Hý Bang, Phước Cương… cùng biết bao nghệ sĩ thời danh lưu diễn tại các rạp hát Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, tạo nên một sinh hoạt văn nghệ sôi nổi, đặc sắc và độc đáo.  
 
  CaiLuongSo.Com---138_Doanhat60.jpg


CẢI LƯƠNG NAM BỘ TRÊN ĐẤT BẮC

HỒI ĐẦU THẾ KỶ XX

Là một loại hình nghệ thuật trẻ tuổi, ra đời sau chèo và tuồng… nhưng sân khấu cải lương lại chiếm được nhiều cảm tình của công chúng cả nước, đặc biệt là của công chúng Bắc Hà. Nó đã bắt đầu làm quen khán giả đất Bắc bởi ông Sáu Súng (Nguyễn Văn Súng) khoảng năm 1919.

Ảnh: Một rạp hát Cải lương thập niên 60

Ông Sáu Súng quê ở miền Nam, trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ông bị bắt lính sang Pháp, đánh với Đức, bị thương nên được về nước. Để kiếm sống, ông xin phép chính quyền đương thời hành nghề chớp bóng lưu động. Với một cái máy chiếu phim cũ kỹ mang từ Pháp về, vợ chồng ông rày đây mai đó chiếu đi chiếu lại mấy bộ phim câm. Khán giả xem mãi cũng chán nên dần dần việc chớp bóng không còn hấp dẫn người xem được nữa. Ông nghĩ ra việc tổ chức gánh xiếc (lúc ấy gọi là hát xiệc). Gặp khi cải lương vừa mới ra đời và được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt… nên Sáu Súng đưa ca hát cải lương vào gánh xiếc của mình. Việc làm đó đã đưa lại những kết quả ngoài sức tưởng tượng của ông. Rồi cứ như thế mà gánh lưu diễn dần ra ngoài Bắc. Có lẽ còn gờm khán giả khó tính Hà Nội, còn e ngại trước bậc đàn anh chèo - tuồng mà buổi diễn đầu tiên của gánh Sáu Súng lại diễn ở rạp Bà Ký Tích, phố Tân Ninh (Bắc Giang). Đêm diễn ấy có rất đông người đến xem, được cổ vũ và tán dương nhiệt liệt bởi lối ca ra bộ, tô đậm và làm hấp dẫn những bản xưa như huỳnh vân, tứ đại oán, bình bán vắn…. Sau mấy đêm thắng lợi giòn giả, Sáu Súng quyết thẳng tiến về Hà Nội. Và công chúng Hà thành đã chào đón loại hình nghệ thuật trẻ trung này bằng tất cả những gì ưu ái nhất. Cũng chính từ đó cải lương Nam Bộ chiếm được cảm tình nồng hậu của khán giả Hà Nội cho đến tận bây giờ.

Nối tiếp gánh Sáu Súng của cái thuở ban đầu lưu luyến ấy là gánh Phước Hội Bang. Gánh nầy được thành lập bởi những tay tài tử Nam Bộ tại Nha Trang, tuồng diễn có y quan rực rỡ, có kịch bản hẳn hòi. Trong gánh có Tư Cao (quê Cao Lãnh - Đồng Tháp, sau là nghệ sĩ tài danh của sân khấu cải lương trên đất Bắc) là trụ cột. Gánh diễn nhiều đêm liền tại rạp Quảng Lạc - Hà Nội, ông bầu Bảy Hội tha hồ hốt bạc.

Khoảng giữa năm 1923, có một cô thiếu nữ Nam Bộ tên là Hai Chung (tên giấy tờ là Anna Nguyễn Thị Chung), vốn con nhà khá giả, vì quá mê cải lương mà đứng ra lập gánh Tân Lập Bang ở Hà Nội, mộ đào kép trong Nam rồi diễn ở rạp Tonkinvise (phố Hàng Quạt). Các tuồng như Lục Vân Tiên, Bèo nước duyên mây, Thay hồn đổi xác, Trần Thế Mỹ… rất được yêu chuộng. Sau một thời gian, có lẽ do không quán xuyến nổi nên cô Hai sang gánh lại cho thầy Ba Khuê (cũng là người Nam Bộ) làm đề pô rượu ở phố chợ Hôm - Hà Nội. Được ít lâu rồi rã gánh, vì giá thuê rạp khá cao. Kế đến là gánh Phước Lập Bang do bà Lý Dục Hanh (tức bà phán Đoan - chủ hiệu đăng ten) thành lập. Gánh này cũng làm mưa làm gió ở Hà Nội, khiến cho lâu đài tuồng và chèo cổ lung lay mạnh.

Tưởng cũng nên nhắc lại 2 đêm diễn hồi đầu tháng 4.1923 tại Nhà Nhạc Hội bên Bờ Hồ của sinh viên trường Luật, với vở Tối độc phụ nhơn tâm để giúp Hội Nam Kỳ Tương Tế. Sang năm 1925, sinh viên trường Cao Đẳng có 3 đêm diễn vở Châu Trần tiết nghĩa để giúp nạn lụt Biên Hòa, hội Thiện Bắc Kỳ và hội Nam Kỳ Tương Tế…

Ngọn lửa cải lương Nam Bộ cứ âm ỉ trong lòng người Hà Nội, nhiều giọng ca tài tử miền Nam đang ở Hải Phòng, Cẩm Phả được Tư Hợi qui tụ về trong ngôi nhà đồng hương của một bà phán ở phố Lamblo (Lý Quốc Sư bây giờ).  Rồi ngày 16.11.1926, diễn tuồng Trang Tử Cổ Bồn gây quỹ giúp dân bị lụt. Năm sau, suốt 2 đêm 31.7 và 01.8.1927, nó được diễn trang trọng tại sân khấu Cải lương Hí Viện (sau là rạp Chuông Vàng ở phố Hàng Bạc - Hà Nội), tạo nên cuộc tranh luận của báo giới Hà thành…

Trong những năm 1925 - 1926, các nhóm tài tử của đất Thăng Long cũng chơi cải lương nhưng còn chịu ảnh hưởng của chèo nhiều. Nhóm tài tử phố Hàng Giấy đã mạnh dạn thuê rạp ông Ba Bò (rạp lá, thắp đèn măng - sông) ở Ô Chợ Dừa để diễn vở Lễ mừng bằng nước lã. Tuy ở ngoại ô nhưng khán giả rất đông và được hoan nghênh nhiệt liệt.

Trong 4 đêm liền, từ 20 đến 23.11.1927 tại Quảng Lạc Hí Viện, gánh cải lương Nghĩa Hiệp Bang của ông bầu Năm Đẩu từ Sài Gòn ra, diễn các vở như Anh hùng náo, Tra án Bàng Quí Phi, Quần anh kiệt, Hạng Võ biệt Ngu Cơ. Những đêm kế tiếp, gánh diễn ở Cải Lương Hí Viện với những tuồng tích từ truyện Tàu, trang phục rực rỡ, đào kép đẹp, ca mùi… làm nức lòng người Hà Nội. Hà thành ngọ báo không tiếc lời tán dương.

Từ 1930 trở đi, Hà Nội được coi như mảnh đất màu mỡ cho cải lương Nam Bộ thi thố. Các gánh hát lớn ở Sài Gòn như Tái Đồng Bang, Thịnh Lạc Bang, Tân Hý Bang, Phước Cương… cùng biết bao nghệ sĩ thời danh lưu diễn tại các rạp hát Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, tạo nên một sinh hoạt văn nghệ sôi nổi, đặc sắc và độc đáo. Cho đến tận bây giờ, sân khấu cải lương vẫn còn được công chúng mộ điệu nặng lòng với nó.

 

N.T
 
     
  Nguyễn Nhất Thống ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |