Thứ Hai, ngày 26 tháng 10 năm 2020        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  03/10/2011  
  NGHỀ TẰM TƠ TÂN CHÂU TRONG KÍ ỨC ÔNG ÚT NHƠN  
  Tằm là loài sinh vật có sức đề kháng yếu, phải được chăm sóc kỹ lưỡng. Những ông bà nuôi tằm dày dặn kinh nghiệm đã tôn gọi Ông Tằm chớ không dám kêu con tằm như người bình thường!  
 
 

                                                                

 

 

Đầu thế kỷ XX, Tân Châu đã nổi tiếng là xứ tằm tơ. Hai cơ sở được hình thành. Hãng tằm trên thành lập năm 1909 tại ấp Long Hưng, làng Long Phú, với mấy dãy nhà sàn cất theo kiểu người Chăm, chuyên sản xuất giống dâu và tằm tốt, cung cấp hom dâu, trứng bướm và phổ biến cách trồng dâu nuôi tằm cho nông dân trong vùng. Hoạt động đến năm 1946, Hãng tằm trên phải dỡ bỏ vì đất lở.

Năm 1912, Hãng tằm dưới được dựng lên, vị trí nằm đối diện với Trường tổng Tân Châu (École Cantonale de Tan Chau). Hoạt động được 6 năm, do quản lý không tốt, bị thua lỗ, năm 1918, chủ Hãng tằm dưới phải bán lại cho Sở Canh nông Nam Kỳ.

Ông Út Nhơn([1]), sinh năm 1927, gốc người làng Long Phú, huyện Tân Châu. Năm ông 12 tuổi đã thấy làng Long Phú có nhiều nhà sống bằng nghề nuôi tằm, ươm tơ. Chính bà nội ông Út Nhơn, bà Phạm Thị Huối là một trong những người chuyên nghề nuôi tằm, ươm tơ. Trong làng cũng có các nhóm thợ dệt từ Chợ Thủ lên họp thành những xóm dệt đêm ngày vang tiếng thoi đưa…

Trồng dâu

Đất trồng dâu là đất phù sa mịn màng dễ thoát nước, cây dâu không chịu úng, cũng không chịu thiếu nước. Cày đất xong vun luống, chọn những cành dâu khỏe mạnh, cắt hom, đem giâm nơi đất ẩm, che mát, hoặc có thể trồng thẳng xuống luống theo hàng, từng liếp khoảng cách độ hơn thước tây (1 mét). Khi hom dâu đâm chồi có thể bón thêm phân bò hoai hoặc các loại phân hữu cơ có tại chỗ.

Cây dâu trồng một năm cao khoảng trên 1m, bắt đầu thu hoạch được. Chừng 5 năm thì dâu lão, lúc nước giựt (từ tháng 10 - 11 âm lịch), chặt gốc chừa từ mặt đất lên vài tấc, xới đất vun lại gốc cho dâu đâm chồi rồi tiếp tục chăm sóc.

Những cánh đồng dâu đi vào thơ ca luôn làm chạnh lòng người xa xứ:

Bãi dài xanh ngắt nương dâu…

Thuở ấy, hai bên bờ sông Tiền trải từ biên giới Campuchia cho đến Tân Châu, Chợ Mới, nhất là các làng Tân An, Vĩnh Hòa (Tân Châu), Long Điền, Chợ Thủ (Chợ Mới), những bãi dâu xanh mướt bạt ngàn. Ông Nguyễn Hiến Lê ca ngợi phong cảnh hùng vĩ của sông Tiền, đoạn Hồng Ngự - Cao Lãnh, ông gọi miền Hồng - Cao:

“Từ Hồng Ngự, xuôi dòng Tiền Giang lần lượt hiện ra những bụi tre rậm rạp, những vườn gòn lưa thưa, những cồn cát đìu hiu, những ruộng dâu xanh mướt, những hàng sao nghiêm trang sau những hàng dừa yểu điệu, và bất giác ta ngâm lên những vần thơ của Thôi Hạo trong bài Hoàng Hạc lâu, và của Huy Cận trong bài Tràng giang.” ([2])

Hái dâu

Lá dâu là thức ăn của tằm. Trong ruộng dâu, có từng đám dâu cho phẩm chất lá khác nhau. Nếu trong ruộng dâu mà có xác súc vật chết, ví dụ xác chó chết thì không được hái mà phải chôn kỹ, để qua một mùa mưa thì mới có thể cắt dâu cho tằm ăn được. Chọn dâu nuôi tằm cũng không kém phần công phu, lá dâu phải tươi, khô ráo, không được ẩm ướt, mùa nắng khoảng tháng giêng, tháng hai thuận lợi cho việc hái dâu, còn mùa mưa phải đợi những ngày nắng ráo.

Để cho gọn có thể mang đi xa, người ta cắt từng nhánh dâu bó lại kỹ lưỡng đem về để trên giàn trại thoáng mát cho tằm ăn dần.

Hình ảnh cô gái hái dâu gợi bao thương nhớ khó quên, trở thành mô típ quen thuộc trong văn thơ cổ. Tìm trong kho tàng ca dao, tục ngữ ta được khá nhiều những câu ca ngợi vẽ đẹp của những cô thôn nữ hái dâu… Thì ra trong đời sống lao động dù nhọc nhằn, bao giờ người ta cũng tự bù đắp cho mình bằng lời ca tiếng hát; cuộc sống mà không được thi vị hóa thì buồn tẻ lắm thay!...

Người Tân Châu không biết tự bao giờ truyền nhau những câu ca dao xác tín:

Trai nào thanh bằng trai sông Của,

Gái nào thảo bằng gái Tân Châu,

Tháng ngày dệt lụa trồng dâu,

Thờ cha nuôi mẹ quản đâu nhọc nhằn…

Chăn tằm

Có câu Làm ruộng ăn nằm, chăn tằm ăn đứng. Ai giải thích thế nào cũng được. Chỉ biết nuôi tằm là một nghề cực nhọc, kèm theo nó là những kiêng cữ trở thành qui ước bất thành văn trong xóm làng làm nghề trồng dâu nuôi tằm. Chẳng vậy mà từ bao đời nay, từ nghề nuôi tằm có biết bao từ ngữ đi vào cuộc sống.

Có tục ngữ, có ca dao:

Tằm có lứa, ruộng có mùa.

Tằm đói một bữa bằng người đói nửa năm.

…Sáng trăng trải chiếu hai hàng,

Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ;

Quay tơ thì giữ mối tơ,

Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh…

Tằm là loài sinh vật có sức đề kháng yếu, phải được chăm sóc kỹ lưỡng. Những ông bà nuôi tằm dày dặn kinh nghiệm đã tôn gọi Ông Tằm chớ không dám kêu con tằm như người bình thường!

Khi tằm ăn rỗi ba lần thì lột xác đủ sức đẻ ra cái kén, tức là cái ổ, trong đó con nhộng hình thành; nhộng trong kén khoảng 8 - 10 ngày thì cắn kén chui ra bắt cặp. Người nuôi tằm phải nắm rõ chu kỳ này, dùng tờ báo (xưa gọi giấy nhựt trình) trải trên nia làm nơi cho chúng bắt cặp… qua một đêm, con cái nhả ra cái kén. Kén này hình thành chừng độ 8 ngày, nếu quá thì nhộng sẽ thành bướm cắn nát kén (thành những sơi tơ đứt). Kén được đem ươm thành tơ…

Công đoạn vắn tắt thì như vậy, không thể kể ra hết từng chi tiết được.

Kể ra đây mẫu chuyện dân gian trong xóm làng nghề dâu tằm Tân Châu thuở ấy. Nhà hễ nuôi tằm thì kiêng cữ nhiều thứ, trong đó có chuyện không được quan hệ vợ chồng trong nhà! Bởi vậy có anh chồng cất một cái chòi ngoài vườn để rủ vợ ra, nhưng chị vợ không hiểu và cũng không chịu ra. Tức quá, anh chồng đọc mấy câu thơ:

Đã biểu ngưng tằm mấy lứa thôi;

Đợi hoài hổng chịu ra ngoài ấy.

Trong nhà tằm ở, ngoài này đợi,

Đó biết đây không, hết chịu rồi!

 

Chợt nhớ câu Tang điền thương hải hay Tang thương biến cải([3]). Còn Nguyễn Du, trong Truyện Kiều, dùng hình ảnh, điển tích Ra tuồng trên Bộc trong dâu…([4]) để cảnh báo Kim Trọng và Thúy Kiều không được vượt quá giới hạn trai gái khi chưa đi đến hôn nhân.

Chí nam nhi ngày xưa thường nói Tang bồng hồ thỉ([5]); bây giờ cũng nhắc người trẻ tuổi cần phải Lập chí, lập thân, lập nghiệp… để có ích cho đời.

             




[1] Nguyễn Văn Nhỏ, Nguyễn Hữu Nhơn…

[2] Nguyễn Hiến Lê viết trong bài tựa cuốn Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu của Nguyễn Văn Hầu.

[3] Cũng nói Thương hải biến di tang điền - Biển hóa nương dâu. Ý nói những sự thay đổi trong đời chưa thể biết trước được; đôi khi biển cả có thể biến thành ruộng dâu và ngược lại.

[4] Theo điển tích Tang trung Bộc thượng, nghĩa là trong ruộng dâu, trên sông Bộc - Thời xưa trai gái thường hẹn hò nơi này, không ai nhìn thấy, để làm… chuyện ấy…

[5] Cũng nói Hồ thỉ tang bồng - Hồ là cây cung, thỉ là mũi tên. Tang là cây dâu, bồng là cỏ bồng. Ngày xưa khi sinh con trai, người ta làm cung bằng cây dâu, lấy cỏ bồng làm tên; dùng cung tên nầy bắn đi 4 phương; ngụ ý mong mỏi người con trai này lớn lên sẽ tỏ rõ chí khí nam nhi: tung hoành bốn cõi…

 
     
  Lê Kim Hoàng ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • RẠCH BÀU HÚT (18/09/2020)
















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |