Thứ Tư, ngày 15 tháng 7 năm 2020        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  25/01/2014  
  NHÀ THƠ LÝ THUẬN KHANH, QUA HAI CUỘC TRƯỜNG CHINH VẪN KHÔNG CHỒN CHÂN MỎI GỐI  
  Lý Thuận Khanh là thi nhân của dân tộc, qua hai cuộc kháng chiến, nguồn thơ ông không cạn mà luôn chắt lọc cho đời những bài thơ chan chứa tình người, tình non nước, tình Đảng, Bác Hồ. Cho nên các thế hệ yêu thơ luôn tìm đến với thơ ông để thấy nơi đó sự động viên, sẻ chia, bồi đắp thẩm mỹ ngôn từ, sự lạc quan yêu đời, đứng thẳng người mà bước tới… Tuy tên tuổi ông không ồn ào, nhưng luôn có vị trí xứng đáng trong lòng của mỗi người yêu thơ. Nhà thơ Lý Thuận Khanh, qua hai cuộc trường chinh vẫn không chồn chân mỏi gối là một trong những người có được vị trí đó. Ông là nhà cách mạng lão thành, ra đi suốt từ năm 1936 đến nay, với 65 tuổi đảng, trải qua nhiều chức vụ lãnh đạo quan trọng trong hệ thống chính trị của nước ta như thường vụ tỉnh ủy, ủy viên ban tuyên huấn khu ủy khu Trung Nam Bộ (khu 8). Nhưng thơ là người bạn đời, như mạch nguồn sông nước, như máu tuần hoàn chảy khắp châu thân, thơ còn là vũ khí chiến đấu mà ông là chiến sĩ đi cùng: Thơ như mây bay quanh tuổi già; Cỡi đầu non, đè lên sóng cả; Thơ như hoa giữa đời tuổi trẻ; Lọng ngàn mây, đẹp mãi ngàn hoa (Thơ).  
 
 


Nên dù hoàn cảnh nào ông vẫn làm thơ và làm thơ là niềm đam mê của đời ông. Ông là người kỹ tính khi viết, chắt lọc ngôn từ đến mềm mới viết thành câu. Ông đến với thơ  trước năm 1945, liên tục sáng tác trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và từ ngày đất nước hòa bình cho đến nay, ngòi bút của ông không ngơi nghỉ. Những bài thơ của ông đã góp cho các tờ báo: Đất Việt, Long Châu Hà, Kiến Phong, Văn nghệ giải phóng, Đồng Tháp, An Giang, Tạp chí Thất Sơn, Báo Ngày mới (trong lòng đô thị Sài Gòn) với nhiều bút danh. Do hoàn cảnh sáng tác, độ dài thời gian, cuộc sống chinh chiến trong chiến khu, qua nhiều chiến trường ác liệt nên ông không có điều kiện lưu giữ thơ mình. Sau này các Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, An Giang… muốn ông tập hợp thơ của mình để xuất bản thành tập, nhằm ghi nhận sự đóng góp to lớn của ông trên thi đàn của dân tộc và cũng để phổ biến thơ ông ra công chúng rộng rãi. Ông lục trong kho tư liệu của mình nào có còn nhiều thơ đâu, chỉ có một ít bài mà tờ giấy đã úa vàng, ông lại tìm trong trí nhớ của mình, bạn bè gần xa, những bạn đọc nhớ thơ ông cũng sưu tập giúp… gom góp lại cũng được ngót trên 100 bài, chủ yếu là những bài thơ viết sau này. Nhiều bài thơ ông sáng tác từ những thập kỷ 40, 50 của thế kỷ XX… thất lạc trên 90%. Đây là điều đáng tiếc cho bản thân ông nhưng cái lớn hơn là sự mất đi những giá trị tư tưởng, ngôn từ, nghệ thuật của những năm tháng đấu tranh rực lửa của đồng bào mình được ông dệt thành thơ, được ông rút ruột Cửu Long cho lòng đất mẹ mà các thế hệ sau không còn cơ hội được thưởng thức. Bởi ông không phải làm thơ để cốt in thành tập, mà ông làm thơ để cho nhân dân mình, chiến sĩ mình đọc và nuôi dưỡng, bồi đắp chân, thiện, mỹ trong tâm hồn họ và qua đó họ có lý tưởng hơn trong công cuộc trường chinh này, nên việc ông không lưu giữ thơ mình lại là điều tất nhiên. Giá như Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, nơi ông gắn bó lâu đời nhất, (từng là người sáng lập, lãnh đạo, dìu dắt), Hội Văn học Nghệ thuật An Giang mà tiền thân của hội này là Long Châu Hà vì hai hội này ông có công đóng góp rất lớn trong hai cuộc kháng chiến, bỏ công ra một ít, sưu tập những bài viết của ông trong đó có thơ, tôi tin rằng số lượng những bài viết và thơ của ông sẽ rất nhiều và phong phú, chứ không dừng lại ở con số gần 100 như hiện có và xem đó là nghĩa cử của hậu thế đối với tiền nhân vậy. Với sự hối thúc của bạn bè, những người yêu thơ ông, một mình, bằng nhiều cách, ông cặm cụi trên con đường nhặt đậu, đến nay cũng in được các tập thơ chung, riêng để thỏa sự khát khao của bạn đọc: Chiếc lá thu; Tiếng hát dưới trăng; Hồi chuông tiếng mỏ vọng về; Hát với mùa xuân; Tình bạn, tình thơ; Dệt mãi những vần thơ.

Cứ nuối tiếc và có thể sự nuối tiếc này còn nhân lên trong một ngày gần đây là không sưu tập những bài viết về các thể loại, đặc biệt là thơ của ông qua hai cuộc kháng chiến và trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, để in thành toàn tập, vừa để tri ân ông, vừa để lưu giữ lại những giá trị tư tưởng được ông chắt lọc trong cuộc trường chinh của dân tộc dệt thành thơ. Tôi và chúng ta - người hậu thế không làm được điều này xem như mình có lỗi và bỏ đi một khối lượng văn thơ yêu nước hừng hực mà ông đã rút ruột mình viết ra. Thơ ông có mặt trong suốt hai cuộc kháng chiến, nó thật sự xác định chân lý, là bài ca yêu nước, đôi chân vạn dặm của lớp lớp thanh niên ra trận, tạo dựng chân, thiện, mỹ cho những thế hệ người trường chinh đánh giặc, là ngọn lữa thiêu đốt quân thù theo năm tháng thời gian: Tổ quốc trên đầu ấy lợi danh; Vì dân cứu nước dạ trung thành; Non sông trước mặt ngàn cân nặng; Phụ mẫu trên vai một gánh quằn; Thanh kiếm Kinh Kha chưa rửa hận; Câu thơ Đồ Chiểu quyết tung hoành; Ra đi chiếc nóp thành tri kỷ; Đâu tá quê nhà những mái tranh… (Lên đường - sáng tác năm 1945).

Hoặc ông viết về người chiến sĩ: Là chiến sĩ thi gan cùng gió bụi; Lấy máu xương xây đắp cuộc đời; Xem gian lao là cả một trò chơi; Đem khí phách trui rèn trong vũ bão (Ngày đi cứu nước - sáng tác năm 1946).

Ở chiến khu Đồng Tháp Mười sang thời chống Mỹ, xứ được mệnh danh vô cùng khắc nghiệt muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tợ bánh canh (ca dao), ông lại viết nhẹ nhàng, tươi vui về quê hương mình như không hề có khó khăn là gì: Tháp Mười đẹp nhất hôm nay; Có hoa “giải phóng” nở dài trên sen; Những người chiến sĩ đã quen; Đi là chiến thắng dựng trên đầu thù.

Thơ ông không ầm ào mà sâu lắng, tự nhiên nhưng không thô, ca ngợi nhưng ngôn từ không sáo rỗng, cấu tứ chặt, có lẽ chỉ có Lý Thuận Khanh - một con người trải nhiều mới làm được điều đó: Tháp Mười ngàn sen nở; Mỗi đóa mỗi anh hùng; Danh thơm lừng muôn thuở ; Trai dũng gái kiên trung.

Miền Nam thành đồng Tổ quốc nói chung và nhân dân Đồng Tháp Mười nói riêng cám ơn ông đã tổng kết về chủ nghĩa anh hùng của họ như thế. Chỉ bốn câu này đã đưa ông thành nhà thơ của nhân dân, vì ông đã tổng kết rất tài tình về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân mình bằng thơ rất hay và đầy đủ như thế. Các thế hệ ở Đồng Tháp Mười khi nói về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quê hương mình trong công cuộc chống giặc ngoại xâm vừa qua thường đưa bốn câu thơ của ông ra chứng minh và chỉ cần bấy nhiêu là đủ.  

Hoặc ông viết về chiến tranh nhân dân của dân tộc mình, về những con người đi đánh giặc với những loại công cụ làm vũ khí sao mà gần gũi, đơn sơ, nhẹ nhàng, phơi phới, nhưng rất khí phách, đậm chất anh hùng: Chiếc liềm cắt, con dao… thành quả đấm; Mảnh khăn rằn, cây bút nhỏ đứng lên (Mùa bão nổi).

Và con người đi đánh giặc, đâu cần đến tuổi trưởng thành hay là những đấng nam nhi, chỉ cần lòng yêu nước rực cháy thì: Cô em gái vấn chưa tròn mái tóc; Vội xuống đường thoăn thoắt bước dân công.

Trận chiến và mặt trân đánh giặc được ông khái quát thành một thứ thiên la địa võng, giăng bủa quân thù ở khắp mọi nơi, làm cho chúng không thể thoát đi đâu được nếu chúng có mặt trên đất nước Việt Nam này: Đâu có quân thù nơi đó có xung phong; Cây gậy trúc, chiếc mo trầu… có mặt (Căn hầm trú ẩn) - Cây lúa , cây chông làm dũng sĩ; Một thân tràm cháy nám cũng xung phong (Đường tháng Tám).

Tại sao con người Việt Nam đánh giặc, khí phách của Việt Nam đánh giặc nó gan góc, quyết liệt khác với tất cả những người đánh giặc trên thế giới này, được ông cắt nghĩa thật tài tình và kẻ thù không hiểu đúng người Việt Nam ta cũng ở tinh thần này đây: Một dân tộc từ bùn đen nô lệ đã đứng lên rửa nhục cho mình và họ đã làm được: Đã dựng lên cả sự nghiệp anh hùng (Đường tháng Tám).

Ông tắm mình cùng nhân dân mình. Và ông: nóp với giáo, chiếc khăn rằn, đôi dép râu đi suốt cuộc trường chinh với họ thì mới nói được điều đó và nói một cách rất súc tích về lòng yêu nước của đồng bào mình, về cây tràm, ngọn cỏ, cọng rau đánh giặc của xứ sở, làng quê mình. Người đọc ngấm cái chất này ở ông, khi lật trang báo, cầm tuyển tập thơ văn mà tỉnh Đồng Tháp xuất bản, không có thơ của ông thì họ thấy thiếu một cái gì lớn lắm, bởi thơ ông trở thành ngôn từ để họ sử dụng trong cuộc sống, món ăn tinh thần không thể thiếu trong hành trang của mình. Thơ của Lý Thuận Khanh thôi thúc con người vươn tới hiện thực cuộc sống độc lập tự do và hiện thực đó được dệt thành cấu tứ trong thơ ông, không gân guốc mà rất đời, nên thơ ông gần gũi với quần chúng, đi cùng năm tháng với dân tộc, với cách mạng không hề lạc nhịp: Sống đem cành lá ngăn xâm lược; Chết hóa thành chông giữ Tháp Mười (Nhớ).

Đất nước giải phóng, độc lập đã về với non sông thì tiếng thơ của Lý Thuận Khanh vui lên cùng với niềm vui của dân tộc, căng lòng mình đón ánh nắng độc lập, tự do: Hát lên đi ta mừng thắng lợi; Chào mùa xuân giải phóng quê ta (Hát lên mùa xuân).

Và luôn ghi nhớ thắng lợi vĩ đại này là nhờ có Đảng, Bác Hồ lãnh đạo nhưng ông lại dùng nghệ thuật ẩn dụ dệt thành thơ nói lên ý tưởng chính trị của mình: Xuân đã sang nắng hồng tràn cỏ nội; Hương lúa thơm dài trên đại lộ mùa vui - Có Đảng, Bác mặt trời xuân tỏa sáng; Đời vui sao đẹp mãi nước non này (Mùa xuân sang đẹp mãi non nước này).

Khi Bác Hồ mất đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa (Tố Hữu), với nhà thơ Lý Thuận Khanh, nhà thơ của chiến trường đồng bằng châu thổ Cửu Long, Nam Bộ này, ông cùng đồng bào mình khóc Bác với những lời quặn đau xúc động, ngẹn lòng: Bác đã mất!; Vĩnh biệt rồi người cha yêu kính; Muối xát đôi miền, đau xót quê hương; Cây lúa hậu phương, cây súng chiến trường; Lòng quặn thắt tiếc thương người vô hạn… - Bác không còn nữa; Ruộng ThápMười đau nhói; Dòng Cửu Long nghẹn uất sôi trào; Vĩnh biệt này trời đất cũng buồn đau (Bác Hồ sống mãi - 9/1969).

Hay cách ông nhớ Bác, nhớ công ơn của Bác Hồ đối với dân tộc, với ngày độc lập hôm nay và cũng báo cáo với Bác chiến thắng của con cháu Bác làm nên ngày đại thắng trọn vẹn, hết sức nhẹ nhàng, tha thiết, tình cảm và có thể nói Đảng, Bác Hồ luôn chiếm vị trí xứng đáng trong thơ ông: Đất của ta, trời của ta giải phóng; Như có Bác Hồ về đứng đó cao cao; Bên đàn cháu con vây quanh, hớn hở đón chào; Bác ơi! nước non này trọn vẹn; Độc lập hoàn toàn đã thật sự hôm nay (Sa Đéc ngày giải phóng).

Và ông còn nói với thế hệ sống trong điều kiện hòa bình bằng những dòng rút ruột, đồng thời là sự chuyển giao thế hệ, nối tiếp xứng đáng với truyền thống cha anh và đừng bao giờ quên giá trị của hòa bình, độc lập được tạo nên bằng núi xương, sông máu của đồng bào mình : Dù ngày bình thường hay giây phút thiêng liêng; Hãy nhớ lấy “độc lập, tự do, hòa bình” là vô giá - Hạnh phúc nhất đời chú rể, cô dâu; Cầm trong tay đóa hoa ngày cưới; Hoa chiến công của liệt sĩ anh hùng; Đã kết nên và cài lên ngực áo cho mình (Đóa hoa ngày cưới).

   Nói đến Lý Thuận Khanh mà chỉ dừng lại ở thơ là chưa đủ, hơn thế nó còn là một thiếu sót bởi ông vừa là người sáng tác, vừa là người ươm mầm, xây dựng, đào tạo nên những cán bộ, nhà văn, nhà thơ trong kháng chiến, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và những nhà văn nhà thơ này đã góp phần tạo nên một diện mạo văn học của cách mạng, tạo nên đời sống tinh thần phong phú cho người dân trong kháng chiến, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng lạ thay ông rất khiêm tốn, chỉ có những người gần ông, hiểu biết mới phát hiện ra điều này, chứ tuyệt nhiên ông không hề hé môi.

   Càng đọc ta càng thấy ở ông sự chắt lọc ngôn từ đến khó tính. Hơn 95 mùa xuân tuổi tác, 65 tuổi đảng, hơn 68 năm làm thơ, nhưng đọc thơ ông nào ai biết tuổi tác của nhà thơ mà chỉ biết những vần thơ tươi xanh, hừng hực sức sống và còn nhiều khám phá: Thuở xanh khói súng pha màu tóc; Tuổi hạc tình xuân mãi chẳng già.

   Ông viết đều, viết không ngơi nghỉ, từ những năm kháng Pháp đến chống Mỹ, xây dựng CNXH chưa bao giờ trên văn đàn vắng bóng thơ ông. Ông làm thơ như con người hít thở không khí, như sao trời tô thắm đêm đen.

 Người đọc Đồng Tháp như một thói quen lật báo lên tìm đọc thơ Lý Thuận Khanh. Và thơ Lý Thuận Khanh trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với họ.

Cám ơn nhà thơ cho ta những tiếng thơ hào sảng, lạc quan yêu đời. Tôi luôn mong đọc được, học được ở ông sự lạc quan, nhịp sống tươi vui của những vần thơ bay bổng, chất chứa tình người sâu thẳm bao la.

 


 

                                                                                               

 

 

 
     
  Đỗ Hoàng Tiễn ( báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật










  • Tiếng rao đêm (23/03/2020)








  • TUỔI XẾ CHIỀU (17/03/2020)



  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |