Thứ Sáu, ngày 23 tháng 8 năm 2019        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  21/10/2010  
  Sa Đéc, nơi tiếp nối Đông Kinh Nghĩa Thục Hà Nội  
 

      Phong trào Đông Du, Duy Tân  được hai cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh khởi xướng đã gây tiếng vang lớn trên cả nước, đặc biệt là ở Nam Kỳ. Cuối năm 1906, có cuộc họp “trù bị”, quyết định sẽ thành lập tại Hà Nội Đông Kinh nghĩa thục. 

 
 
 

Tháng 3-1907, các sĩ phu yêu nước cùng chí hướng với cụ Phan Bội Châu như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Hoàng Tăng Bí, Võ Hoành…bắt đầu mở trường Đông Kinh nghĩa thục tại số 4, Hàng Đào, Hà Nội. Mục đích của nhà trường là:

-Nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc và chí tiến thủ cho quần chúng.

-Truyền bá một nền tư tưởng, học thuật mới và một nếp sống văn minh tiến bộ.

-Phối hợp hành động với những sĩ phu đã xuất dương và hỗ trợ cho phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và phong trào Duy Tân đang phát triển trên cả nước.

Trường có 4 ban công tác: Ban Giáo dục, ban Cổ động, ban Trước tác và ban Tài chính để duy trì sự hoạt động theo một chương trình thống nhất. Các môn học chính là: Sử ký, Địa dư, Cách trí, Vệ sinh, Toán pháp, Luân lý, Thể thao…; các môn khoa học tự nhiên, trường dùng sách giáo khoa của các trường tiểu học Pháp. Các môn khoa học xã hội thì nhà trường tự soạn như:Nam quốc vĩ nhân, Nam quốc giai sự, Nam quốc lịch sử, Luân lý giáo khoa thư, Quốc dân độc bản…viết bằng chữ Hán. Cũng có nhiều bài học được soạn chữ Nôm, chữ Quốc ngữ theo thể lục bát để học sinh dễ nhớ, như Bài ca địa dư, Lịch sử nước nhà…Nội dung rất chú trọng, đề cao truyền thống dựng nước và giữ nước oanh liệt của dân tộc.

Đông Kinh nghĩa thục không đơn thuần là một trường học. Thực chất là một tổ chức cách mạng do các sĩ phu yêu nước tiến bộ tổ chức để hưởng ứng mạnh mẽ cuộc vận động cứu nước do Phan Bội Châu và Duy Tân hội phát động. Chỉ hoạt động được 9 tháng, Đông Kinh nghĩa thục đã khơi dậy, nuôi dưỡng một phong trào cách mạng công khai hợp pháp khá sôi nổi, quyết liệt theo khuynh hướng dân chủ tư sản; đồng thời cũng là cuộc vận động chính trị chuẩn bị tinh thần, tư tưởng cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ trong thời đại mới.

***

Tiếng vọng của phong trào Duy Tân đến Nam Kỳ trở thành Cuộc Minh Tân được các nhà yêu nước Nguyễn An Khương, Trần Chánh Chiếu và rất nhiều nhân sĩ trí thức đất Nam Kỳ hưởng ứng. Cùng với sự ra đời các khách sạn, hiệu buôn…là những bài báo đăng trên các báo Lục tỉnh tân văn, Nông cổ mín đàm…cổ vũ cho Cuộc Minh Tân.

Phong trào Duy Tân- Đông Kinh nghĩa thục- Cuộc Minh Tân ảnh hưởng trong nhân dân ngày càng lớn, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết yêu nước. Thực tế nầy trở thành nguy cơ lớn đối với thực dân Pháp ở Việt Nam. Trong phiên họp Hội đồng quân sự Đông Dương, bọn thống trị Pháp nhận định: “Không còn là một câu chuyện hoang đường khi khẳng định Đông Kinh nghĩa thục đã là một cái lò phiến loạn ở Bắc Kỳ.” Chúng chính thức thu hồi giấy phép, ra lịnh đóng cửa trường vào tháng 12-1907.

Bây giờ xin nói tiếng vọng hay nói khác hơn, ảnh hưởng của Đông Kinh nghĩa thục đến vùng Sa Đéc như thế nào.

Nhân vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội (27-6-1908), thực dân Pháp có cớ để bắt, lưu đày một số nhân sĩ của Đông Kinh nghĩa thục. Chúng kết án họ đã tuyên truyền cho nhân dân bất phục chính quyền.

Năm 1909, thực dân Pháp đưa đi đày Côn Đảo rất nhiều người trong đó có nhóm Đông Kinh nghĩa thục như Võ Hoành, Nguyễn Quyền, Lương Văn Can…

Năm 1910, các ông được thả ra nhưng bị đưa vô Nam, chỉ định cư trú-“an trí” mỗi người một nơi. Cụ Võ Hoành về Sa Đéc, cụ Nguyễn Quyền ở Bến Tre, còn cụ Lương Văn Cang thì bị đưa sang tận Nam Vang.

Cụ Võ Hoành về Sa Đéc cùng gia đình, làm một ngôi nhà tại làng Tân Qui Đông, sống bằng nghề coi mạch hốt thuốc và dạy chữ Nho.  

***

Tiếng vọng của Đông Kinh nghĩa thục từ Hà Nội vô Nam, được tiếp sức với Cuộc Minh Tân, đó là tiếng nói riêng góp vô tiếng nói chung của một phong trào yêu nước cách đây đúng một thế kỷ. Đặc biệt, đây là một cuộc vận động văn hoá, chính trị quan trọng trong phong trào đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta hồi đầu thế kỷ XX. Đặc biệt hơn nữa, phong trào này được khơi nguồn từ một nhà trường, chọn lĩnh vực giáo dục làm “mũi đột phá”, để thức tỉnh, cổ động mọi người hành động yêu nước.

Những tài liệu dùng để giảng dạy, học tập, tuyên truyền và văn thơ sáng tác đựơc lưu truyền vô Nam, tạo thành một hiệu ứng cộng hưởng lớn. Đọc lại những lời thơ phơi bày tình cảnh, thân phận của người dân mất nước nô lệ :

“…Non sông thẹn với nước nhà,

Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu.

Việc dây thép, việc tàu, việc pháo,

Việc luyện binh, việc giáo học trường,

Việc công nghệ, việc nông thương,

Việc khai mỏ khoáng, việc đường hỏa xa,

Giữ các việc chẳng qua người nước,

Kẻ chức bồi, người tước cu ly…

….Các thứ thuế các làng thêm mãi,

Hết dinh điền rồi lại trâu bò….

…Làm cho thất thập cửu  không,

Làm cho xơ xác, khốn cùng chưa thôi…”([1][1])

 

Rồi kêu gọi mọi người:

“…Thương ôi Bách Việt giang san.

Văn minh đã sẵn, khôn ngoan có thừa

Hồn mê mẩn tỉnh chưa, chưa tỉnh ?

Anh em ta phải tính nhường sao…”

 

Trong Nam, khởi đầu cho Cuộc Minh Tân là các ông Nguyễn An Khang (hay Nguyễn An Khương, thân phụ nhà cách mạng Nguyễn An Ninh), Nguyễn An Cư, Trần Chánh Chiếu (Gilbert Chiếu)… Ở Sa Đéc, ông Đặng Thúc Liêng cũng có hoạt động cho phong trào này.

Cuộc Minh Tân là cuộc vận động duy tân nước nhà theo gương người Nhựt. Phát triển công thương nghiệp, mở mang trường học, sửa đổi phong tục là những vấn đề tương quan nhau để đạt mục đích sau cùng là đánh đổ thực dân Pháp.

Ở Nam Kỳ lục tỉnh, người ta thường nhắc đến là nơi hưởng ứng cuộc vận động Đông Du của cụ Phan Bội Châu mạnh nhứt, với số tiền quyên góp lớn, với hơn 75 thanh niên được gửi sang Nhựt du học…, đó là những hoạt động bí mật. Còn cổ súy công khai cho Cuộc Minh Tân là trên diễn đàn báo chí miền Nam. Hàng trăm bài báo trên Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, …bên cạnh cổ động cho việc thành lập các công ty, khách sạn (một số là cơ sở kinh tài của phong trào); nội dung chính là công cuộc Minh Tân với ý nghĩa là Minh đức, Tân dân.

Những bài dùng hình thức kêu gọi, đối thoại, giải thích đã có từ xưa như Mẹ dạy con, Vợ khuyên chồng, Thiếu nữ kén chồng, Lời khuyên của ông lão, Giáp Ất luận bàn…xuất hiện thường xuyên trên mặt báo; ví dụ:

… “-Hễ vạn sự khởi đầu nan,

Sau làm quen biết mở đàng lớn ra.

Hổ cho Nam Việt chúng ta,

Nên nay chư vị mới là xuất thân,

Đáng khen đáng mến nhiều phần,

Champagne Nam Việt mới lần rót ra,

Uống lần đầu của chúng ta,

Chúc cho ruột thịt mới mà gặp nhau (…)

…Nam nhờ ruộng, Bắc nhờ nghề,

Nếu không tiên liệu người chê muôn phần….

Kêu gọi tham gia cuộc Minh Tân, nói rõ cuộc Minh Tân là gì:

“…Nầy nầy cuộc Minh Tân, nọ nọ đàng tấn bộ.

Mình chẳng phải là cây là gỗ, tuy lăn tròn còn có lúc dựng lên; mình nào như là thớt là nền, cứ nằm mẹp để cho người xát đạp (….)

Cuộc Minh Tân là dựng hãng lập lò, đặng mà dệt lụa vải, làm pha ly (phalê), ống khói, thuộc da, thông quốc dụng.

Đàng tấn bộ là chiêu thương hiệp bổn, phòng sau dạy đàn em, bảo trẻ nhỏ, học hành nghề nghiệp sáng gia tư…”

Bài ca khuyên người đi tu” của ông Nguyễn Quyền viết cho Đông Kinh nghĩa thục ngoài Hà Nội, chuyền vô Nam được “cải biên” lại:

Từ rày cắt tóc đi tu,

Tụng kinh An Thái, ở chùa Minh Tân

(ngoài Bắc là: “kinh Độc lập, chùa Duy Tân”)

Ngày đêm khấn vái chuyên cần,

Cầu cho ích quốc lợi dân mới là,

Tôi quyết tu, tu sao cho mở trí dân nhà,

Tu cho độ được nước ta phú cường

Lòng thành đốt một từng hương,

Nam mô phật tổ Hồng Bàng chứng minh,

Tu hành một dạ đinh ninh,

Nắng mưa dám quản công trình một hai…([2][2])

 

Trên cái nền như vậy, khi ông Võ Hoành bị chỉ định cư trú ở Sa Đéc “Tuy bị dò xét kỹ, các cụ không hoạt động được gì nữa, song nhờ tư cách cùng chí khí, các cụ cảm hoá được một số đồng bào. Nhiều gia đình ở Long Xuyên, Sa Đéc, Bến Tre ngưỡng mộ các cụ, cho con em lại học, và một số đông nhà cách mạng lớp sau này, nghĩa là từ 1925 trở đi, tự hào rằng đã được các cụ dạy bảo từ hồi còn nhỏ. Người Pháp đâu có ngờ rằng bắt các cụ biệt xứ lại là vô tình giúp các cụ gieo mầm cách mạng ở những nơi xa xôi.” ([3][3])

Dù bị giám sát, theo dõi của bọn lính kín, nhưng ngôi nhà ở Tân Qui Đông, Sa Đéc của ông Võ Hoành trở thành một tàng thư, chứa sách vở dạy học trò, vừa coi mạch hốt thuốc…để kín đáo, khéo léo liên lạc với những người yêu nước như: Nguyễn Sinh Sắc, Nguyễn Quang Diêu, Lê Văn Đáng…Ông Nguyễn Quyền từ Bến Tre cũng tới Sa Đéc để bắt liên lạc và sau khi kết thông gia với ông Võ Hoành thì về ở hẳn Sa Đéc cho đến cuối đời.

Sa Đéc là nơi đón nhận hai nhân vật cốt cán của Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội.

Ông Võ Hoành còn nổi tiếng là người khảng khái, khí phách, cương trực khiến nhà cầm quyền Sa Đéc lúc bấy giờ phải kiêng nể, e dè. Ông không nhận tiền trợ cấp hàng tháng của Pháp, không chịu đóng thuế thân, không treo cờ Pháp nhân ngày 14-7, quốc khánh Pháp.([4][4])

Từ “lò đào tạo” của ông Võ Hoành, một số thanh niên, học trò bí mật tham gia các tổ chức cách mạng. Tháng 8-1945, nhóm của ông Võ Hoành được cô giáo Ngài-Trần Thị Nhượng tiếp nhận, tổ chức thành lực lượng hỗ trợ giành chính quyền tại tỉnh Sa Đéc vào ngày 25 tháng 8 năm 1945.

Tại Sa Đéc còn có “Sa Đéc nghĩa thục”.

Tháng 8 năm 1928, tại thị xã Sa Đéc, “Sa Đéc học đường”, một trường tiểu học tư thục được thành lập có 5 lớp (từ lớp năm đến lớp nhất, tương đương trường tiểu học có 5 lớp từ lớp 1 đến lớp 5 ngày nay). Hồi ký của ông Hà Huy Giáp ghi lại :

“Trường do sáng kiến của đồng chí Châu Văn Liêm hùn vốn với các đồng chí lương y Nguyễn Kiều, Trần Kim Giáp, Trần Nhật Tân nhằm làm tài chính cho đoàn thể và nơi liên lạc của đoàn thể. Từ hiệu trưởng (hồi đó gọi là Cai trường) đến thầy giáo đều là hội viên của “Thanh niên” (tức Thanh niên cách mạng đồng chí hội, BT.). Chỉ cô giáo dạy lớp 5 là chưa hội viên, nhưng có thiện cảm với Hội.

Trường thu nhận những em quá tuổi vào trường công hoặc các em bị đuổi ở trường công, thậm chí thu nhận cả những em ba gai, đánh bạn, đánh thầy, mắng cả cha mẹ.

Chúng tôi nhận tất cả với niềm tin rằng với tình thương, niềm tin và sự coi trọng các em, kết hợp giáo dục kiến thức với giáo dục tinh thần tự hào, tự trọng của dân tộc, làm cho các em biết tủi nhục vì sự mất nước của dân tộc, chắc chắn sẽ cải tạo được các em.

Chúng tôi chỉ tỏ ra thầy trò trong giờ lên lớp. Ngay trong lớp, trò muốn thử thầy, đặt ra những câu hỏi có liên quan đến vấn đề mình dạy. Có những câu hỏi không liên quan gì thì thầy hứa sẽ trả lời trong giờ nghỉ hay khi có dịp. Còn những vấn đề thầy không biết thì thú thiệt với trò rằng mình không biết, sẽ tra cứu trả lời khi đã nắm được vấn đề. Những vấn đề liên quan đến bí mật của Hội hay của trường thì trả lời mình không biết, dù mình biết.

Ngoài lớp, chúng tôi coi nhau như anh em. Có nhiều em xấp xỉ bằng tuổi tôi. Có một em lớn hơn tôi một tuổi. Nhưng em rất gương mẫu về mọi mặt. Tốt nghiệp, em này thi vào bưu điện. Về kiến thức chúng tôi phải dựa vào sách giáo khoa của trường công. Nhưng trong lúc giảng dạy, chúng tôi tìm cơ hội liên hệ với xã hội hàng ngày và truyền cho các em những tư tưởng tiến bộ trích trong các tác phẩm lưu hành thời bấy giờ.

Trong việc quản lý trường lớp, trên cơ sở quy chế chung, chúng tôi hướng dẫn các em nội quy cụ thể của lớp nhằm giúp các em học hành tốt, cư xử hàng ngày ở trường lớp, ngoài xã hội với tình cảm anh em, tình người, gây truyền thống tốt đẹp cho trường.

Anh Nguyễn Kim Cương (trong cấp ủy của Hội), phụ trách lớp nhì, đã giúp đỡ tôi nhiều trong công tác giảng dạy cũng như quản lý.

Mỗi lần em nào làm bài sai hay trả lời sai, trước hết chúng tôi tìm xem trong cách giảng dạy của mình có gì thiếu sót. Lúc đó chưa có băng ghi âm như ngày nay. Một mặt chúng tôi nhớ xem mình đã nói có gì sai, có gì khó hiểu; mặt khác, hỏi các em mình đã nói như thế nào. Tóm lại là tự phê bình và đề nghị các em phê bình mình rồi mới tìm hiểu cách học tập trên cơ sở tự lực là chính; tuy nhiên không được làm bài cho bạn, giúp như thế bằng mười hại bạn.

Đến kỳ thi tốt nghiệp, tỷ lệ đỗ của trường chúng tôi vuợt hẳn trường công. Về sau nhiều em đã tham gia phong trào 1930-1931 hay ít ra cũng thiện cảm với phong trào. Trong khí thế đi lên của trường, đoàn thể phải nhường trường cho người khác để đối phó với sự phân liệt của đoàn thể.

Anh Châu Văn Liêm và cả bọn chúng tôi thỏa mãn với khoá học 1928-1929 của Sa Đéc học đường. Trừ đồng chí Cai trường là có học đến năm thứ 4 trường Trung cấp sư phạm Sài Gòn, còn lại 5 anh chị em chúng tôi chưa có ai học một lớp sư phạm nào mà giảng dạy vẫn có chất lượng về kiến thức, về hạnh kiểm. Chúng tôi cũng không được vinh dự học chính trị trực tiếp với đồng chí Nguyễn Ái Quốc, chỉ được anh em truyền lại và đưa cho nghiên cứu cuốn “Đường kách mệnh”.([5][5])

Ngọn lửa yêu nước, cách mạng đã bừng sáng trong các thế hệ giáo chức, thanh niên học sinh của Sa Đéc nửa cuối thế kỷ 19 và những thập niên đầu thế kỷ 20 được tiếp thêm từ các nguồn lực giáo dục, trong đó có tiếp nhận từ nguồn Đông Kinh nghĩa thục của Hà Nội  .

 

 

Tháng 9-2010

Nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội

 

 

 



[6][1] Trích “Đề tỉnh quốc dân ca” của Phan Bội Châu, Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục, NXB Văn hoá, 1997, trang  152-155…

[7][2] Xem Sơn Nam: Miền Nam đầu thế kỷ XX, Thiên Địa Hội và cuộc Minh Tân, Phù Sa, Sài Gòn, tr.160-185…

[8][3] Nguyễn Hiến Lê- Đông Kinh nghĩa thục , Tác giả XB, 1956, trang 110.

[9][4] Ông Vương Hồng Sển, có thời gian làm công chức tại toà bố Sa Đéc; ông Sển kể rằng, có lúc ông đến nhà ông Võ Hoành xin được học chữ nho; vì nghĩ ông Sển là công chức Pháp nên ông Võ Hoành từ chối, nói đại ý : “Học làm gì cái thứ chữ mất nước ấy !....”. Chủ tỉnh Sa Đéc, người Pháp cũng thừ a nhận với ông Sển: “Thầy ông (chỉ ông Võ Hoành) là một người anh hùng -…”

[10][5] Hà Huy Giáp; Đời tôi, những điều nghe, thấy và sống. Hồi ký cách mạng. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, trang 55, 56, 57.

 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
     
  Lê Kim Hoàng ( Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |