Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  27/09/2016  
  BỐN MƯƠI NĂM KÝ ĐỒNG THÁP - VIẾT VỀ CHIẾN TRANH NHƯ LÀ MỘT THI PHÁP  
  Tác phẩm văn học để có thể vươn đến đỉnh cao, trước tiên nó phải khai thác, đi sâu vào mọi mảng hiện thực đời sống, đi sâu vào nội tâm, chiều kích tâm hồn của con người, phản ánh thực tế bằng nhiều góc nhìn khác nhau. 40 năm ký Đồng Tháp đã đi đúng hướng khi viết về hiện thực chiến tranh như là một thi pháp, nhưng để tác phẩm có thể vươn cao, vươn xa hơn thì đòi hỏi sự dụng công, sáng tạo không ngừng của các tác giả trong thời gian sắp tới.  
 
 

Ky-Dong-Thap.jpg

BỐN MƯƠI NĂM KÝ ĐỒNG THÁP -

VIẾT VỀ CHIẾN TRANH NHƯ LÀ MỘT THI PHÁP

                                                                                         

HỒ VĂN

 

            Đọc xong 40 bài ký, gấp sách lại, quê hương Đồng Tháp hiện lên trong tâm trí tôi là những trở trăn của nhân dân bên luống cày, miếng ruộng sau ngày hòa bình thống nhất; sự thay da đổi thịt từng phút, từng giờ trong công cuộc đổi mới, dựng xây đất nước; sự nhận đường đúng đắn trong tái cơ cấu nông nghiệp… Nhưng trong từng trang viết, tôi thấy thấp thoáng bóng dáng của chiến tranh, lúc ẩn, lúc hiện, khi hồi ức, khi liên tưởng. Điều đáng trân trọng ở những người cầm bút là, hiện thực chiến tranh trong tuyển tập 40 năm ký Đồng Tháp được phác họa không phải là những số liệu, sự kiện, hình ảnh rời rạc, khô khan mà nó được thông qua lăng kính, cái nhìn chủ quan của những văn nghệ sỹ đích thực. Chiến tranh trở thành một yếu tố nghệ thuật, một trong những hình thức, phương thức thể hiện, để tạo nên những tác phẩm độc đáo và sáng tạo, mang đến cho độc giả những xúc cảm thẩm mỹ cao.

            Bốn mươi bài ký gắn với bốn mươi năm Đồng Tháp trưởng thành và phát triển từ trong vô vàn gian khó, có đến 17/40 tác phẩm đề cập đến chiến tranh, thời chiến tranh. Nó được nhắc đến nhiều nhất qua những ký ức một thời, sự hồi tưởng về quá khứ: Vùng đất tôi yêu - Lê Ngọc, Bộ đội về - Nguyễn Sơn, Đất thức - Nguyễn Huỳnh Hiếu, Ký ức một thời - Phạm Thị Toán… Người đọc có cảm giác hồi ức chiến tranh như là mạch nguồn khơi gợi cảm xúc cho những tác giả viết ký. Bên cạnh những mảng hồi ức lắp ghép, chiến tranh còn được thể hiện một cách trọn vẹn, dày đặc trong cả tác phẩm, khiến độc giả cảm nhận như đang sống trong thời chiến tranh, trực diện với chiến tranh: Một thời để nhớ - Huỳnh Anh, Những ngày nước mắt và hoa - Bạch Phần, Gió Thanh Mỹ - Trần Mạnh Hảo… Mười bảy tác phẩm với mức độ đậm nhạt khác nhau khi viết về chiến tranh nằm đan xen theo thế cài răng lược với các tác phẩm còn lại, làm cho tuyển tập chật cứng hiện thực chiến tranh.

            Hiện nay, định nghĩa về khái niệm thi pháp rất nhiều, phức tạp, chằng chịt, nói chữ ta gọi là phồn tạp. Nhưng cách hiểu thông thường, phổ biến nhất: thi pháp chính là cách thức, phương thức, yếu tố nghệ thuật được thể hiện trong tác phẩm văn chương. Qua sự thể hiện đó, người đọc sẽ thấy được thế giới hiện thực cuộc sống, thế giới tâm hồn của tác giả, những thông điệp mà người nghệ sỹ khéo léo gửi gắm trong tác phẩm. Nói cụ thể hơn, nhà văn phản ánh thực tế không phải bê nguyên xi những gì từ cuộc sống, mà phải biết lựa chọn những chi tiết, sự kiện, hình ảnh đắt nhất đưa vào sáng tác của mình, để tác phẩm mang tích nghệ thuật cao. Nói chiến tranh trong 40 năm ký Đồng Tháp như là một thi pháp, có nghĩa là hiện thực chiến tranh được phản ánh trong từng bài ký đã được kinh qua quá trình sàng lọc, chịu sự chi phối bởi cái nhìn nghệ thuật của người viết. Mặt khác, thời chiến tranh còn được xem như là một cấu trúc của tác phẩm, tạo nên thời gian, không gian đa chiều kích. Hồi ký Một thời để nhớ của bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp, tỉnh ủy viên, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh Đồng Tháp, ít nhiều ảnh hưởng đến xúc cảm thẩm mỹ, cách thể hiện của tác giả Quỳnh Anh. Ông Nguyễn Thanh Tâm tự viết 20 năm trước, ngày này, yếu tố đầu tiên để làm nên tác phẩm nghệ thuật chính là tâm hồn người chiến sỹ được đặt trong tâm thế của một nghệ sỹ, một nhà văn... 

            Cuộc chiến, thời chiến tranh chống Mỹ cứu nước chỉ có một, nhưng mỗi nhà văn, nhà thơ lại có những hiện thực chiến tranh rất riêng trong tác phẩm của mình. Do nhu cầu xã hội hiện tại, hiện thực chiến tranh về cuộc kháng chiến ấy cũng khác nhau trong từng thời kỳ. Chẳng hạn, hiện thực chiến tranh trong tác phẩm văn học trước 1975 đầy những mảng sự kiện, những vinh quang, chiến thắng hào hùng của dân tộc. Nhưng hiện thực chiến tranh sau 1986 lại đầy rẫy những mất mát, đau thương, bi kịch cuộc sống, bi kịch chiến tranh. Mười bảy bài ký viết về chiến tranh có mười bảy cái nhìn, sự phản ánh về hiện thực chiến tranh khác nhau. Với Lê Ngọc trong Vùng đất tôi yêu, thời chiến tranh hiện về với những kỷ niệm không thể nào quên nơi vùng đất Láng Biển, Tháp Mười: Mùa nước hành quân bằng xuồng, mùa khô cuốc bộ; những mùa tát cá, trốn địch, mang đi bán đổi lương thực, suốt ngày ở cánh đồng chỉ nghe gió thổi rì rào trên lá đưng, tiếng chim kêu… và còn biết bao nhiêu chuyện nữa không sao nói hết. Đọc Một thời để nhớ của Quỳnh Anh kể về cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ, hiểm nguy của bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp, hiện thực chiến tranh hiện lên trong cảnh xương rơi, máu đổ vì bom đạn giặc; sự gan góc anh hùng của người nữ chiến sỹ cách mạng làm công tác quân y. Ẩn trong những năm tháng tưởng chừng như mỗi con người không thể vượt qua, người đọc còn thấy hình ảnh vài con đom đóm lập lòe xé đêm tối. Chỉ vài đốm sáng ấy trong bầu trời đêm đen kịt đã mang lại niềm tin hy vọng, để ta có được ngày độc lập hôm nay. Riêng Bạch Phần, qua Những ngày nước mắt và hoa, ghi lại những ký ức chiến tranh khi tác giả còn ngồi trên ghế nhà trường. Hiện thực chiến tranh hiện lên trong từng trang viết của chị là những mất mát, chết chóc, máu đổ loang dài, nước mắt chảy ngược vào tim vì nỗi uất nghẹn, căm thù tội ác của giặc. Xót cho những người hy sinh trong khoảng thời khắc, khi mà chỉ vài tháng sau, đất nước ta đã hoàn toàn giải phóng.

            Cấu trúc của một bài ký viết về chiến tranh trong tuyển tập 40 năm ký Đồng Tháp thường gặp là: đang sống, viết, cảm xúc về một vùng đất, quê hương, con người ở hiện tại bỗng dạt dào, nghẹn ngào quay về với chiến tranh, chiến khu xưa, một thời đạn bom, khói lửa, nhiều hy sinh mất mát, sau đó trở lại với hiện tại. Nếu là hồi ký, tác phẩm hướng người đọc ngay từ dòng chữ đầu tiên là quay về với những năm tháng đấu tranh: chiến thắng chính bản thân mình, chiến thắng với cuộc sống khắc nghiệt, chiến thắng kẻ thù nguy hiểm, tàn bạo… Đan xen giữa thời chiến tranh và thời đổi mới, dựng xây đất nước là ranh giới mờ chồng trong tâm thức người viết. Độc giả có cảm giác, khi chạm đến bất cứ địa hạt nào của con người và vùng đất Đồng Tháp là tự nhiên có nhiều, rất nhiều mạch ngầm của thời quá khứ, chiến tranh tràn về, trào dâng. Qua đó cho thấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã kết thúc hơn bốn mươi năm qua, nhưng dư chấn của nó thật mạnh mẽ, sâu sắc. Có người cả đời phải ăn mày dĩ vãng (chữ dùng của Chu Lai). Chiến tranh vẫn còn âm ba, len lỏi trong mọi ngõ ngách đời sống, văn hóa, tâm linh, trên sách báo, phim ảnh mà nhất là trong văn học, nghệ thuật của dân tộc ta. Điều đáng quý ở các văn nghệ sỹ tỉnh nhà là, có người cả đời chỉ viết một hoặc hai tác phẩm, nhưng trong quá trình sáng tác đã biết trăn trở với ngòi bút của mình, phản ánh cuộc sống, hiện thực chiến tranh bằng cả trái tim và theo cách của người làm nghệ thuật. 

            Nhìn chiến tranh như là một thi pháp còn có nghĩa: với những mảng hiện thực chiến tranh mà nhà văn thể hiện trong tác phẩm của mình, người tiếp nhận văn chương sẽ khai thác để tìm ra những giá trị đích thực của nó. Sự hồi ức, phản ánh lại thời chiến tranh trong các bài ký của các tác giả Đồng Tháp, không phải chỉ để vương vấn, hoài cổ, không phải lúc nào cũng muốn trở về với quá khứ để bới móc, đào xới hay gieo lòng thù hận, khoét sâu thêm vết thương chiến tranh mà hơn thế, mỗi tác phẩm ấy sẽ có tác động lớn đến con người hôm nay và mai sau, ôn cố tri tân, rút ra những bài học, những triết lý, chân lý sống dù trong bất cứ hoàn cảnh, thời chiến hay thời bình. Nhìn chiến tranh như một thi pháp ta sẽ thấy những được mất của nó, được mất của đời người do nếm trải hiện thực chiến tranh. Qua chiến tranh, ta thấy nhiều người trở nên anh hùng, sống cuộc sống cao thượng, hết lòng vì Đảng, vì dân, nhưng cũng có kẻ hèn nhát, đốn mạt, đầy xấu xa, kinh tởm.

            Đọc Những ngày nước mắt và hoa của Bạch Phần, tôi xúc động bởi tình yêu trong chiến tranh cũng bị quăng quật như số phận con người. Tình yêu của anh giải phóng quân dành cho cô gái đã ra đi trong đợt tuyên truyền chuẩn bị giải phóng được thử thách trong đạn bom, mất mát, hy sinh và những ám ảnh chiến tranh, sự cắn rứt lương tâm của bản thân sau ngày độc lập. Gương của anh và cô gái như những đóa hoa, còn hương thơm của hoa chính là hương thủy chung trong tình yêu đôi lứa. Dư chấn của chiến tranh, của nghịch cảnh cuộc sống khiến người chiến sỹ không trụ nổi trên đời, thể hiện bằng một cái chết âm thầm, không một vòng hoa mừng công trạng. Với Đất ấm tình anh viết về người anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Tre của tác giả Lê Minh Thành Vinh, người đọc dễ dàng thấu hiểu tại sao Thanh Mỹ là vùng đất trung dũng, kiên cường, chở che cách mạng như Phạm Thị Toán khẳng định trong Ký ức một thời. Sự kiên trung, bất khuất của con người Thanh Mỹ (tiêu biểu như liệt sỹ Nguyễn Văn Tre) đã thấm vào từng thớ đất, làm cho quê hương anh đã anh hùng, trở nên anh hùng hơn. Qua chiến tranh, Đồng Tháp không chỉ có những con người anh hùng, mà cây cỏ, dòng sông, ngọn gió cũng hóa anh hùng. Tác phẩm Ở một vùng đất mới, tác giả Lâm Ngọc viết về sự đổi mới, phát triển của vùng kinh tế mới: Quân xâm lược Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa hung hăng có trong tay vũ khí hiện đại lại sợ những người tay không hiền lành, sợ cả cây cỏ vô tri. Hình tượng ngọn gió trong Gió Thanh Mỹ của Trần Mạnh Hảo là một hiện thực, cũng là một ẩn dụ cho sức mạnh quật khởi của từng con người, từng trận đánh chiến thắng kẻ thù hung bạo. Gió nhè nhẹ ru mát lòng người, gió chuyển thành bảo táp, mưa sa và gió trời Thanh Mỹ, Tháp Mười cứ xoáy cũng như con người từng quằn quại trong từng cơn khát cháy đòi giải phóng quê hương.

            Hồi ức về quá khứ, chiến tranh giúp người đọc cảm thấy trân trọng những giá trị của cuộc sống thời bình. Những bài học lớn từ những cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ sẽ giúp ta trưởng thành, sáng suốt, bản lĩnh trong xây dựng và đổi mới đất nước. Khát khao làm giàu như khao khát hòa bình độc lập; mọi sức mạnh, sự sáng tạo đều khởi nguồn từ nhân dân. Người Đồng Tháp sống chân chất, hiền hòa, nghĩa khí, hết mình với Đảng và nhà nước như: Ba Lê Hiếu - có công lớn trong cuộc khai hoang vùng đất Tân Hồng; Tư Khánh với thương hiệu bột Bích Chi… Quan trọng là làm sao đánh thức được tiềm năng ẩn tàng trong từng con người họ. Đất nước ta đánh thắng giặc từ những vũ khí: thiên thời, địa lợi, nhân hòa của vùng đất đầy bí hiểm, thì đổi mới đất nước hay tái cơ cấu nông nghiệp trong thời gian hiện nay cũng phát huy nét văn hóa đó mà vươn lên. Hay việc vận dụng chiến thuật du kích thời chiến vào kinh tế, ngoại giao: mềm mỏng, lâu dài, chớp thời cơ, lấy nhỏ thắng lớn, lấy từ cái chưa được đến cái được…, mục đích cuối cùng là phải đạt mục tiêu đề ra. Thời chiến, xác định được kẻ thù và cả sức mạnh kẻ thù đã khó, bởi biết người, biết ta trăm trận trăm thắng. Thời bình, xác định đâu là bạn, đâu là thù càng khó hơn, bạn có thể trở thành thù và ngược lại. Đôi khi kẻ thù không đâu xa, mà ở chính trong bản thân mỗi con người. Tác giả Lâm Ngọc viết về vùng kinh tế mới Tân Phú với những hồi ức về thời chống Mỹ cho thấy cuộc đấu tranh với kẻ thù đã vô cùng gian khổ, thời bình, con người đấu tranh với chính mình cũng gian khổ không kém. Đó là cuộc đấu tranh đi - ở diễn ra trong lòng người quyết liệt; tiếp theo là cuộc đấu tranh giữa người với đất. Và, cuộc sống gắn liền với thử thách, sẽ còn nhiều cuộc đấu tranh khác nữa đang chờ đợi những con người kiên trung Đồng Tháp đã từng kinh qua lửa đạn chiến tranh. 

            Viết về chiến tranh như là một thi pháp chú trọng đến cách thể hiện, sắp xếp các mảng hiện thực chiến tranh theo cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, nhằm mục đích xây dựng tác phẩm giàu giá trị nghệ thuật, ẩn chứa nhiều thông điệp sâu sắc đến người đọc. Bên cạnh đó, những tác phẩm xuất sắc viết về chiến tranh thường phản ánh đúng, chân thật hiện thực chiến tranh: chiến tranh như là chiến tranh. Tuy nhiên, những bài ký viết về chiến tranh trong 40 năm ký Đồng Tháp, góc nhìn chưa đa dạng dẫn đến các mảng hiện thực chiến tranh chưa phong phú, sinh động, nặng về hồi tưởng, chưa đi sâu vào chiều kích nội tâm, nhân tính, thử thách con người qua những bi kịch, nghịch lý của chiến tranh. Trong Cần đánh thức khát vọng làm giàu của người nông dân, Tùng Thiện có nhắc đến sự kiện chiến tranh biên giới Tây Nam còn đó những mất mát đau thương, rất thực tế nhưng lạ, độc đáo. Đó là mảng hiện thực chiến tranh gắn liền với trang sử hào hùng của nhân dân Đồng Tháp. Vết thương của cuộc kháng chiến chống Mỹ chưa lành, chiến tranh Tây Nam lại bồi thêm thương tích vào vết sẹo còn nhức nhối ấy. Thật diệu kỳ, con người Đồng Tháp vẫn vượt qua và đạt được nhiều thành tựu như ngày hôm nay. Hiện thực chiến tranh biên giới Tây Nam rất cần những người cầm bút phản ánh vào trong tác phẩm văn học giống như bao hiện thực cuộc sống khác trên quê hương này. Thảng hoặc, trong phong trào sáng tác quần chúng, đã có những bài viết về nó, nhưng vì điều kiện nào đó mà chưa đến tay được độc giả. Thiết nghĩ, vấn đề này rất cần chiếc cầu nối của ban biên soạn tuyển tập ký.

            F. Grim từng khẳng định: Bông hoa càng vươn cao về phía mặt trời thì rễ của nó càng ăn sâu vào lòng đất. Bông hoa trong câu danh ngôn ấy có nhiều ẩn dụ, nhưng theo cách nhìn của tác giả bài viết này thì nó mang vẻ đẹp của nghệ thuật. Tác phẩm văn học để có thể vươn đến đỉnh cao, trước tiên nó phải khai thác, đi sâu vào mọi mảng hiện thực đời sống, đi sâu vào nội tâm, chiều kích tâm hồn của con người, phản ánh thực tế bằng nhiều góc nhìn khác nhau. 40 năm ký Đồng Tháp đã đi đúng hướng khi viết về hiện thực chiến tranh như là một thi pháp, nhưng để tác phẩm có thể vươn cao, vươn xa hơn thì đòi hỏi sự dụng công, sáng tạo không ngừng của các tác giả trong thời gian sắp tới.

                                                                                               

Tháp Mười, tháng 4.2016

                                                                                                                                              H.V

 
     
  Hồ Văn ( Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |