Chủ Nhật, ngày 23 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  16/11/2016  
  SỰ GIAO THOA CÁC THỂ LOẠI VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TẬP TẢN VĂN BẾN SÔNG QUÊ CỦA BẠCH PHẦN  
  Bến sông quê có sự giao thoa, phức hợp nhiều thể loại, giọng điệu như những điều vừa trình ở phần trên đã mang đến một làn gió mới cho người đọc. Lý giải về sự thành công này sẽ thiếu sự toàn diện nếu không kể đến những đóng góp của Bạch Phần cho văn học nghệ thuật tỉnh nhà trong nhiều năm qua như: thơ, truyện ngắn, vọng cổ, sân khấu cải lương…  
 
 

bến sông.jpeg


SỰ GIAO THOA CÁC THỂ LOẠI VÀ GIỌNG ĐIỆU

TRONG TẬP TẢN VĂN BẾN SÔNG QUÊ CỦA BẠCH PHẦN (*)

                                                                                                          

HỒ VĂN

 

            Có ý kiến nhận định rằng: Thời đại văn xuôi ngày nay là thời của tản văn. Nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng đã thể nghiệm và thành danh với thể loại này. Ở góc nhìn tiếp nhận văn chương, tản văn đã đáp ứng được thị hiếu của người đọc đương đại bởi dung lượng, phương thức biểu đạt và nội dung thông điệp của nó. Tản văn năng động, dễ đọc nhưng không dễ viết, càng khó hơn là làm sao tác phẩm đi vào lòng người và sống mãi với thời gian. Tập tản văn Bến sông quê của Bạch Phần ra đời chưa xa, vào tháng 03/2015, đã để lại nhiều dư ba trong lòng bạn đọc. Có nhiều cách để tiếp cận và khám phá đứa con tinh thần của Bạch Phần, nhưng với tôi, bằng góc nhìn về phương thức biểu đạt, tập tản văn của chị hấp dẫn, thu hút bởi có sự giao thoa của nhiều thể loại, giọng điệu. Chính yếu tố dung hợp, hòa nhập nhiều thể loại, giọng điệu ấy đã cộng hưởng, tạo ra sự lan tỏa vào trái tim độc giả qua từng trang viết của chị. Đồng thời, bằng góc nhìn này, ta còn lí giải một cách sâu sắc hơn về sức sáng tạo của Bạch Phần trên hành trình cày xới mảnh đất văn chương nghệ thuật.

            Dễ thấy, nếu trước đây tản văn là thể loại thường dành cho các cây bút nam giới, thì từ sau 1986, những cây bút nữ giới viết về thể loại này phát triển khá mạnh. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, mang dấu ấn sâu đậm nhất là hai nhà văn nữ: Dạ Ngân với Hoa ở trong lòng, Lục bình mải miết, Gánh đàn bà…; Nguyễn Ngọc Tư với Ngày mai của những ngày mai, Yêu người ngóng núi, Đong tấm lòng… Còn trong tỉnh Đồng Tháp, những tác giả nữ hay viết tản văn đăng báo như Ngọc Điệp, Thu Phương... Nhưng đến Bạch Phần mới thật sự in thành tập. Bến sông quê gồm 22 tác phẩm, chị đã nhặt nhạnh tìm lại những mảng ký ức của cuộc đời mình và bộc lộ cái nhìn đầy xúc cảm trước những vấn đề mang tính thời sự hơn mười năm qua. Sự giao thoa của các thể loại, giọng điệu là sự dung nhập của từ hai đến nhiều thể loại, giọng điệu trong cùng một tác phẩm. Hoặc đó chính là hiện tượng nhà văn trong quá trình sáng tác đã tích hợp nhiều phương thức biểu đạt, tạo ra sự cộng hưởng làm cho tác phẩm hấp dẫn người đọc. Cách thể hiện này là do thiên bẩm hay kinh nghiệm trong quá trình sáng tác đều nói lên sự dụng công đầy sáng tạo của người viết. Sự giao thoa của các thể loại, giọng điệu trong tập tản văn Bến sông quê được nhìn ở hai phương diện cụ thể: xét về mức độ hư cấusự kiện trong tác phẩm. Ở đây, ta thấy có sự tương tác của hồi ký, bút ký, phóng sự, tự truyện... Xét về phương thức biểu đạt là có sự hòa nhập, dung hợp của trữ tình, tự sựnghị luận

            Trước tiên, ở phương diện thứ nhất, người đọc sẽ dễ dàng nhận ra những tác phẩm thiên về phóng sự: Dấu ấn mặt đường, Cà phê…quán, Bi kịch gia đình thời mở cửa, Trẻ em Việt Nam trên Biển Hồ…; bút ký như: Rau vườn, Nước mắm cá linh…;  hồi ký với hàng loạt những tác phẩm: Phơi bánh đêm xuân, Quê ngoại, Bến sông quê, Chiếc phà… dòng sông, Mình ơi…và hai tác phẩm được xem như là tự truyện: Cây bằng lăng trổ hoa, Cây cầu. Phóng sự trong tản văn của Bạch Phần là những vấn đề nóng hổi, mang tính thời sự. Trên cơ sở người thật, việc thật, tác giả đưa ra thực trạng và hướng giải quyết. Mặt khác nó còn mang chất chính luận sâu sắc. Bút ký trong Bến sông quê không chỉ là những sự kiện khô khan mà đậm chất trữ tình kết hợp hài hòa với tùy bút, ngẫu hứng và xúc cảm bay bổng của cây bút nữ. Hai tác phẩm Cây bằng lăng trổ hoa, Cây cầu mặc chiếc áo của tản văn nên dung lượng ít. Xét về độ hư cấu, cách kể, tình huống, nhân vật, đặc biệt là mạch ngầm, sự ẩn dụ cho người đọc liên tưởng, hai tác phẩm như là một truyện ngắn. Tuy nhiên nhân vật, nội dung tác giả lại viết về chính mình nên tôi gọi là tự truyện. Nếu như Cây bằng lăng trổ hoa tác giả đưa ra hình tượng loài hoa đồng nội với vẻ đẹp hình sắc và phẩm chất tâm hồn chịu thương, chịu khó, nhẫn nhục, hy sinh để làm đẹp cho đời thì Cây cầu là biểu tượng cho một tấm lòng biết sẻ chia, quan tâm đến người khác. Đó là vẻ đẹp của người phụ nữ bình dị mà sâu sắc, của người dân Nam bộ hào phóng, sống quên mình.

             Trong tản văn của Bạch Phần, hồi ký có cùng pha, tần số giao động nhiều nhất, nên nó có khả năng giao thoa với các thể loại khác. Trừ Bức tranh Dã tràng Tản mạn “Ngày sách Việt Nam”, tất cả các bài viết còn lại đều đậm nhạt chất hồi ký. Nhìn ở góc độ thi pháp, Bạch Phần đã thành công trong việc sử dụng thủ pháp đồng hiện: hiện tại, quá khứ, tương lai đan xen nhau. Nhiều tác phẩm bắt đầu ở tình huống hiện tại rồi trở về quá khứ, sau đó quay lại hiện tại, hướng đến tương lai (Phơi bánh đêm xuân, Tiếng chim gọi bạn, Quê ngoại… ); hoặc xé toạc rào cản thời gian, không gian địa lý hướng thẳng về quá khứ (Trẻ em Việt Nam trên Biển Hồ, Bến sông quê, “Mình ơi”…). Thống kê 22 bài viết trong Bến sông quê, những trạng ngữ chỉ thời quá khứ gần, quá khứ xa xuất hiện với tần số lặp đi, lặp lại một cách khá nhặt, ám ảnh người đọc: hồi đó, hồi ấy, hồi ở, ngày xưa, hồi nhỏ, hồi ở quê, mấy tháng qua, trước kia…; trạng ngữ lâm thời: nhớ những mùa nước nổi, lâu lắm rồi, bồi hồi nhớ về tuổi thơ, từ ngày ba tôi mất… Đâu phải vô tình Bạch Phần chọn Bến sông quê làm chủ đề cho tập tản văn của mình. Có rất nhiều yếu tố, nhưng bằng góc nhìn thể loại, ta có thể khẳng định: chính sự giao thoa mãnh liệt của thể hồi ký đã tác động mạnh mẽ vào sự lựa chọn này.

            Sự giao thoa của bút ký, phóng sự với thể loại hồi ký đã giúp cho tản văn của Bạch Phần có cái nhìn góc cạnh, đa chiều, giàu xúc cảm về cuộc sống lẫn nghệ thuật. Theo cách nói hoa mỹ của người bình dân Nam bộ là người viết có khả năng nắm bắt được quá khứ lẫn vị lai. Qua đó mỗi người đọc sẽ có suy nghĩ và ứng xử đúng đắn, hợp với vai xã hội mà mình đang đảm đương. Tản văn Trẻ em Việt Nam trên Biển Hồ được lâm thời như là một phóng sự viết về một vấn nạn nhức nhối của đất nước, giàu tính nhân văn: nhiều trẻ em là cháu con mang dòng máu Việt đang sống trong cảnh không nhà, thất học, rày đây mai đó, nay hồ mai sông, không có ý chí cầu tiến và quyết tâm thay đổi vận mệnh. Điều đau xót nhất của bài phóng sự nêu ra là họ không còn biết đâu là quê hương, nguồn cội, bởi những phận người cứ mãi lênh đênh giữa trời nước bao la. Tác phẩm được bắt đầu bằng một giọng hồi ức của ngày xưa qua lời ru của má: Nam vang đi dễ khó về/ Trai đi có vợ, gái về có con làm cho bài phóng sự trở nên mềm hóa giàu chất văn chương và ẩn chứa nhiều cảm xúc của người viết lẫn nhân vật được nhắc đến. Kết thúc tác phẩm là một dấu chấm hỏi, một dấu chấm than đặt giữa lòng người: Phải chăng, câu hát ru xưa vẫn còn phù hợp với tình cảnh cư dân Việt Nam trên Biển Hồ hiện nay(?). Chỉ trách là: Đường về quê không xa, không phải vì ngăn sông cách núi, mà bởi vì lòng người “ngại núi, e sông”(!). Nước mắm cá linh ghi chép tỉ mỉ một món ăn, một đặc sản vùng sông nước Nam bộ đang dần bị mai một, dần mất đi cái chân đúng nghĩa. Bài viết quay về quá khứ để nhớ lại những kỷ niệm ấu thơ, thể hiện niềm luyến tiếc vấn vương: Ngày xưa mỗi khi má sanh em bé, tôi thường thích quẹt cái ơ cá kho tiêu của má, vì nó đậm đà…. Hồi tưởng một thời đã qua để nêu lên một kiểu tư duy, một cách sống ngược đang hiện hữu trong xã hội hiện nay với một cấu trúc câu: Hồi đó…, còn bây giờ… Hồi ký trong tản văn của Bạch Phần giao thoa với nhiều thể loại khác đã làm nên một cái nhìn: nhân ái nhưng trực diện và riết róng trước cuộc đời (diễn đạt theo Thai Sắc).

Biên độ giao thoa của thể loại hồi ký quá lớn so với các thể loại khác khiến người đọc có cảm giác là giọng hồi tưởng cứ trực diện trong trái tim, trong từng tản văn của Bạch Phần. Chờ có dịp, nó bung tràn ra trên trang viết của chị. Hồi ký của Bạch Phần chính là những mảng ký ức vụn đã tìm thấy đâu đó trong quá khứ cuộc đời. Tác giả nén chúng lại để làm nên những tản văn rất riêng, giàu cảm xúc chân thật. Gom những mảng ký ức rời rạc trong 22 tản văn của tập Bến sông quê, ta thấy một Bạch Phần sống thủy chung, nhân hậu, nặng ân tình, biết đau trước nỗi đau của người khác, biết trăn trở trước vẻ đẹp của những truyền thống đạo đức, văn hóa đang dần biến chất. Tình cảm ấy, không bắt nguồn từ những điều cao xa, mà từ những thứ thật gần gũi, bình thường, người đọc có thể gặp đâu đó ở vùng quê Nam bộ: bến nước, cây cầu, dòng sông, con đò, cây bằng lăng, phượng vỹ… Nhưng đâu phải ai cũng nhận ra. Chỉ có Bạch Phần tinh tế, giàu xúc cảm, kết hợp với sự trải nghiệm của thời thơ ấu đầy gian khổ khó khăn mới làm được điều đó.

Bên cạnh tản văn, thể loại đang nóng hiện nay là hồi ký. Ở những nền văn học tiên tiến, nhiều cuốn hồi ký của một số chính trị gia, những người nổi tiếng được tiêu thụ với số lượng rất khủng. Trong nước, một số hồi ký cũng để lại tiếng vang lớn. Ngợi ca có, phê phán có, văn chương nghệ thuật mà. Nhưng thực tế cho thấy, nhờ hồi ký mà độc giả lớn tuổi sẽ chiêm nghiệm lại một thời đã qua. Với người trẻ, họ cũng muốn tìm hiểu thế giới ngày xưa của lớp người đi trước như thế nào. Họ cần một cái nhìn, cách nghĩ chủ quan về cuộc sống, thời cuộc của quá khứ mà không bị che mờ bởi góc nhìn nào cả. Tản văn Bến sông quê có thể làm tư liệu văn chương nghệ thuật, văn hóa, chính trị, lịch sử… bởi sự đan xen nhiều thể loại, nhất là hồi ký và còn từ chính bởi nhân cách sống, cũng như công việc của tác giả.

Ở phương diện còn lại, Bến sông quê của Bạch Phần có sự đan xen hòa quyện của ba phong cách: tự sự, trữ tình và nghị luận. Chất trữ tình thể hiện trong giọng điệu hoài cổ, nuối tiếc về một thời đã qua, hay những vấn đề trực diện xảy ra hàng ngày. Cuộc sống bắt ta phải biết quên đi nhiều thứ, nhưng điều đọng lại thường là những nỗi buồn. Trong một vài tác phẩm, chất trữ tình còn bộc một cách trực tiếp trên trang viết của Bạch Phần. Giọng điệu trữ tình trong tản văn làm cho tác phẩm mang chất thơ bay bỗng. Giọng điệu tự sự trong tản văn gắn với những chi tiết thực, những mảng lắp ghép, vụn vặt của đời sống đã qua và hiện tại, nhưng thông điệp mà người viết gửi đến cho độc giả là những vấn đề lớn của quê hương, đất nước. Tản văn mang phong cách tự sự được thể hiện qua phương thức biểu đạt: trần thuật, miêu tả, thuyết minh… Người đọc sẽ tìm thấy trong giọng điệu tự sự của Bạch Phần những tư liệu đáng tin cậy và một con người tinh tế, phát hiện ra nhiều điều rất đỗi bình thường mà vĩ đại trong cuộc sống. Chất nghị luận trong tản văn dựa trên những vấn đề nổi bật trong đời sống xã hội để bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình. Trong Bến sông quê, tản văn mang sắc thái nghị luận không khô khan, chính trị hóa nhờ có sự giao thoa với các phong cách khác như trữ tình, tự sự - đậm thủ pháp nghệ thuật văn chương - làm cho nó trở nên sinh động, hấp dẫn, thu hút người đọc. Theo hướng giọng điệu này, ta thường gặp ở phần kết có những câu chủ đề chứa đựng những điều mà tác giả muốn gửi gắm. Để bày tỏ ý kiến về vấn nạn giao thông, cuối tản văn Dấu ấn mặt đường, Bạch Phần viết: Nếu như ai cũng có ý thức khi tham gia giao thông, biết lo sợ và có trách nhiệm với nhau, không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác khi điều khiển phương tiện giao thông, thì tai nạn giao thông chắc không xảy ra nhiều như thời gian qua. Hay kết thúc bài viết về hiện tượng xã hội quá trọng bằng cấp như hiện nay, người ta đổ xô đi học, mọi giá phải lấy cho được tấm bằng, mặc dù năng lực, sở trường không tương xứng, trong tản văn Bằng cấp, tác giả bộc lộ nhận định bằng một câu kết: Thời bây giờ lấy bằng thạc sĩ thiệt dễ như chơi! Một câu ngắn có 11 chữ kết hợp với tu từ so sánh, nhưng ẩn sâu trong ấy nhiều tâm trạng và thái độ của người viết. Tản văn viết theo phương thức chính luận còn làm cho tác phẩm giàu chất triết lý, suy ngẫm sâu sắc.

Mảng tự sự trong 22 tản văn Bến sông quê đa dạng, phong phú: quá khứ, hiện tại và cả mơ ước tương lai, nhưng có thể khái quát thành một số đề tài nổi bật như sau: những vấn đề trong gia đình: Mình ơi, Cây cầu…; những vấn đề nóng hổi về xã hội: Tản mạn “Ngày sách Việt Nam”, Dấu ấn mặt đường, Bằng cấp, Trẻ em Việt Nam trên Biển Hồ, Cà phê …“quán”(!)…; phong tục tập quán, văn hóa: Bến sông quê, Phơi bánh đêm xuân, Mai vàng ngày tết, Gói bánh ăn tết, Nước mắm cá linh…; những hồi ức, dấu ấn tuổi thơ: Cây bằng lăng trổ hoa, Phượng vỹ sân trường… Đọc những tản văn giàu chất tự sự, ta sẽ nhận ra một Bạch Phần với nhiều trải nghiệm, sâu sắc và nhạy cảm trước cuộc đời. Tác giả sử dụng phương thức trần thuật thường gắn liền với những hồi ức; phương thức thuyết minh, miêu tả thường sử dụng trong việc giới thiệu những phong tục, tập quán. Tản văn giàu chất tự sự còn giúp người đọc hình dung ra những nét văn hóa của con người, thiên nhiên, đời sống của quê hương Đồng Tháp nói riêng, Nam bộ nói chung. Đó là dòng sông Tiền gắn liền chuyến phà Cao Lãnh đã đi vào những trang thơ văn; món nước mắm cá linh, đặc sản Đồng Tháp; mai vàng Nam Bộ; trẻ em Biển Hồ; bà ngoại; người cha… Loáng thoáng trong tản văn của Bạch Phần có nhắc đến chiến tranh với một thời đạn bom, nghèo khổ: Quê ngoại, Cây bằng lăng trổ hoa, Mình ơi… Chiến tranh không phải là đề tài, đối tượng của tác phẩm hướng đến, mà chiến tranh như là một ký ức, một nỗi ám ảnh, chấn động vùng hoài niệm xa xăm trong tâm hồn nữ văn sĩ.

Nếu ở phương diện thứ nhất, hồi ký có cùng pha dao động với nhiều thể loại khác trong tản văn Bạch Phần, thì ở phương diện này, người đọc dễ dàng nhận ra điều ấy ở tản văn mang phong vị trữ tình. Tản văn đậm sắc thái trữ tình làm cho Bến sông quê của Bạch Phần giàu chất thơ ca. Trong bài viết Có một Bạch Phần trong tản văn, Thai Sắc từng nhận định:… Nơi hầu hết các tản văn giàu chất thơ của Bạch Phần là trong cái đẹp lung linh của sự vật, hiện tượng cũng như lối tiếp cận đề tài và cách diễn đạt đượm phong cách thi ca, tác giả bao giờ cũng gửi gắm vào đấy nỗi tiếc nhớ khắc khoải hòa vào niềm ao ước cháy bỏng được trở lại một thời đẹp đẽ nào đó từ những mất mát hay tha hóa… Khi mà nửa thế giới này thường thích nói về tình cảm, gián tiếp hay trực tiếp bộc bạch nỗi niềm tâm sự riêng tư, thì trong những tản văn giàu chất trữ tình ở Bến sông quê, ta không chỉ thấy Bạch Phần khai thác ở chiều kích nội tâm, tâm trạng của con người, mà còn khai thác ở những chi tiết rất thật từ hiện thực đời sống. Đó là những giây phút đốn ngộ để rồi thăng hoa của người nghệ sỹ với cuộc đời. Chất trữ tình không chỉ làm mềm hóa nhiều phương thức thể hiện khác trong tản văn, mà còn bắt người đọc phải phiêu theo cảm xúc, giọng điệu, lời tâm tình của tác giả.

Bến sông quê có sự giao thoa, phức hợp nhiều thể loại, giọng điệu như những điều vừa trình ở phần trên đã mang đến một làn gió mới cho người đọc. Lý giải về sự thành công này sẽ thiếu sự toàn diện nếu không kể đến những đóng góp của Bạch Phần cho văn học nghệ thuật tỉnh nhà trong nhiều năm qua như: thơ, truyện ngắn, vọng cổ, sân khấu cải lương… Chính sự đa tài trong việc thể nghiệm nhiều loại hình nghệ thuật đã nhen nhóm cho sự ra đời của tập tản văn này. Sau khi khảo sát những gì Bạch Phần đã viết, tôi khẳng định một điều rằng: Bến sông quê giàu chất văn chương nhất so với những tác phẩm văn xuôi trước của chị, bởi tập tản văn đã thấm đẫm những dòng hồi ức kết hợp nhuần nhị với phương thức biểu đạt trữ tình giàu xúc cảm của một nữ văn sỹ. Bạch Phần sống nhân hậu, thủy chung, trăn trở với cuộc đời và có trách nhiệm với xã hội. Đôi khi cuộc sống bắt người ta phải quên, ít quan tâm nhiều thứ, nhưng Bạch Phần thì không phải vậy, lại đa mang và cả đa đoan. Sợi chỉ đỏ thể loại hồi ký và phong cách trữ tình đã xâu chuỗi 22 tác phẩm trong Bến sông quê còn làm cho tản văn của Bạch Phần chứa chan nỗi niềm hoài cổ, giàu chất triết luận về cuộc sống, nghệ thuật, khao khát tìm về cái chân, sự mộc mạc, bình dị toát ra từ con người và quê hương Nam bộ nói chung. 

Cầm tập Bến sông quê với 22 tác phẩm thấy nhẹ, nhưng nặng ân tình và sự công phu của tác giả với trên mười năm gom góp những ký ức trong thẳm sâu tâm hồn và những trở trăn với dòng đời đang cuồn cuộn chảy. Từ những đóng góp của tập tản văn, tôi tin trong thời gian tới, Bạch Phần sẽ tiếp tục thể nghiệm mình ở thể loại khác. Đó có thể là hồi ký. Một cuốn hồi ký giàu chất văn chương qua góc nhìn của một nhà văn nữ từng công tác trong ngành công an.

                                                                        Tháp Mười, tháng 10/2015

                                                                                                                                                 H.V

Tài liệu tham khảo:

  1. Bến sông quê, Bạch Phần, NXB Phương Đông, 2015.
  2. Có một Bạch Phần trong tản văn, Thai Sắc, Văn nghệ Đồng Tháp số 5 (537) ngày 05.3.2015.

 

___________________

(*) Tác phẩm tham dự Cuộc vận động sáng tác tác phẩm LLPB lần thứ II năm 2015 do Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp tổ chức.
 
     
  Hồ Văn ( Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)








  • THƯ CẢM ƠN! (19/08/2018)

  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |