Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  10/01/2017  
  HAI TÁC GIẢ TIÊU BIỂU CỦA TRUYỆN NGẮN VĂN NGHỆ ĐỒNG THÁP 2016  
  Những khoảnh khắc mờ ảo ấy phải chăng là thế mạnh trong bút pháp và phong cách truyện ngắn cũng như có sự trùng hợp ngẫu nhiên đến kì lạ của hai tác giả Nguyễn Lệ Ba và Hồ Văn, dù mỗi người thể hiện một cách khác nhau? Dẫu thế nào thì tôi vẫn cho rằng, chính điều đó đã làm nên nét riêng và cái hay của truyện ngắn từng tác giả.  
 
 

ẢNH NGUYỄN LỆ BA.jpg

Tác giả Nguyễn Lệ Ba


ẢNH HỒ VĂN.jpg

Tác giả Hồ Văn


HAI TÁC GIẢ TIÊU BIỂU

CỦA TRUYỆN NGẮN VĂN NGHỆ ĐỒNG THÁP 2016

 

TAO ĐÀN

 

Tôi muốn nói đến hai cây bút quen thuộc và nổi bật trong mảng sáng tác truyện ngắn, xuất hiện trên Văn nghệ Đồng Tháp suốt thời gian qua, nhất là trong năm 2016: Nguyễn Lệ Ba và Hồ Văn. Trong số 21 truyện ngắn được đăng tải (không kể 7 truyện ngắn ở mục Văn nghệ học đường), riêng Nguyễn Lệ Ba và Hồ Văn, mỗi người đã được in 4 tác phẩm, cộng lại, chiếm tỉ lệ hơn 1/3 dung lượng chuyên mục này - một con số ấn tượng (*)!

Số lượng tác phẩm được biên tập, chọn in như vậy quả là đáng nễ, bởi bản thảo truyện ngắn của nhiều tác giả khắp nơi gửi về Ban Biên tập không ít. Tuy nhiên, điều đáng bàn ở đây, không chủ yếu ở tiêu chí số lượng mà hơn thế, là chất lượng tác phẩm. Nếu không quá ngoa ngôn, với tư cách một bạn đọc khó tính hơn là người viết lí luận phê bình bán chuyên nghiệp, tôi xác quyết rằng, đây chính là những truyện ngắn hay nhất của Văn nghệ Đồng Tháp năm qua.

Cái chung rõ nét trong truyện ngắn của hai tác giả này là phong cách tự sự không quá thiên về tả thực hay mô phỏng sự kiện một cách sa đà, thuần túy mà cao hơn, tác phẩm của hai anh luôn biết thông qua chi tiết, từ chi tiết có chọn lọc mà đụng đến tầng sâu của số phận con người, tạo dư chấn trong lòng độc giả. Tôi gọi đó là những truyện ngắn thân phận. Và để viết theo hướng này không hề dễ chút nào!

Nếu Nguyễn Lệ Ba trong Về với đất không chỉ day dứt về thân phận người đã chết (được về với đất theo nghĩa bóng) của nhân vật Thanh mà còn trăn trở với thân phận người đang sống (được về với đất đúng nghĩa đen, về lại nơi chôn rau cắt rốn sau khi bị giải tỏa) của nhân vật tôi thì Hồ Văn trong Bụi tre ngoài đồng đã vẽ lên, chồng lên thân phận của mấy lớp, mấy thế hệ nhà nông xung quanh miếng đất ngoài đồng có bụi tre gai với biết bao sự giành giật, giằng xé, níu kéo vô cùng phức tạp, đa chiều của một vùng nông thôn đang chuyển mình trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nguyễn Lệ Ba trong Những linh hồn chưa ăn cháo lú đã khắc họa một cách đậm nét thân phận nhân vật trong các mối quan hệ đặc biệt: quan hệ nổi, láng giềng thân thiết: thợ hớt tóc - thầy giáo và quan hệ chìm, không nhận biết được: Việt cộng nằm vùng - lính cộng hòa, cuối cùng nhằm khẳng định một chân lí: tình người bao giờ cũng cao cả và đẹp đẽ nhất khi họ biết sống thiện, sống vì người khác trong khả năng có thể. Đoạn cuối truyện, khi linh hồn chưa ăn cháo lú của chú Tư và thầy giáo Năm trở về đứng trên cầu Vĩnh Thạnh, bên cạnh một đôi trai gái đời thực đang tha thiết tỏ tình, cùng nói với nhau những lời sám hối vô cùng xúc động là những dòng viết xuất thần của Nguyễn Lệ Ba. Còn trong Tiếng vọng của đồng bưng, hai nhân vật chính của Hồ Văn cũng có những thân phận vô cùng đặc biệt, trong mối quan hệ vợ chồng đặc biệt. Chú Sáu - người chiến sĩ duy nhất còn sống của tiểu đội, nhưng vợ ở nhà tưởng chồng hi sinh đã đi lấy người khác là bạn thân của chú - cuối cùng làm chồng của bà Câm, con gái câm điếc đi lang lang của tiểu đội trưởng đã hi sinh, như một sự gia ơn hay đúng hơn là biết ơn, hàm ơn với đồng chí, đồng đội. Chi tiết bà Câm bỗng nhiên nói được chỉ mỗi một từ ái (yêu) chính là triết lí nhân văn sâu sắc nhất mà tác giả gửi gắm qua mô tả thân phận độc đáo của những nhân vật này. Từ ái chính là tiếng vọng của đồng bưng, tức là tiếng vọng của đất đai hiền hòa xứ sở, cũng là tiếng vọng của cuộc chiến đấu chính nghĩa mà biết bao đồng đội thân yêu của chú Sáu đã đi qua, còn được trở về hay vĩnh viễn nằm lại nơi ấy.

Đỗ Thừa của Nguyễn Lệ Ba, dù bút pháp tự sự có chút khác hơn so với ba tác phẩm còn lại, song nhìn chung đây cũng là một truyện ngắn thân phận theo kiểu riêng, gân guốc và hiện đại hơn. Thân phận nhân vật chính Đỗ Thừa được tác giả xây dựng theo cái cách khác người, từ lối đặt tên theo truyền thống gia đình đến hành vi ăn trộm đồ ăn nhà giàu đem cho người nghèo cho đến sự kiện được vợ từ trên trời rơi xuống nhờ hành động bắt ma có một không hai nhuốm màu phi lí nhưng tin được: Ôm cái đầu rễ tre của ông, tui biết ngay mình nhầm. Lúc đó quýnh quáng, không biết làm gì nên... thôi kệ, lỡ rồi! Còn Cánh hạc thuở học trò của Hồ Văn, dù là một truyện ngắn mang dáng dấp đặt hàng, nhân sự kiện kỉ niệm 60 năm ngày thành lập Trường Trung học Phổ thông Thành phố Cao Lãnh mà tác giả là cựu học trò, vẫn vượt ra khỏi khuôn khổ ngợi ca thầy cô và ngôi trường cũ theo kiểu cổ động xuôi chiều mà ngược lại, mang đến cho độc giả cách nhìn sâu sắc về thân phận nhân vật Sơn giàu sống động, gợi mở: Dẹp qua tự ti, mặc cảm là kẻ tha phương cầu thực, sự nghiệp chưa ổn định, chưa làm nên trò trống gì cho đời; lại thêm gia cảnh gãy đổ, lam lũ bán buôn kiếm sống qua ngày, Sơn hứa với con gái trở về hội trường trong màu thơ ngây, tinh khiết của cánh hạc thuở học trò.

Tôi muốn dành nói nhiều hơn một chút về hai truyện ngắn thân phận mà mình thích hơn cả: Vạt bần xa tắp bên sông của Nguyễn Lệ Ba và Đường về của Hồ Văn. Nếu muốn nói đến đặc điểm thân phận con người được khắc họa đậm nét trong văn xuôi hiện đại ở Đồng Tháp thì rõ ràng những tác phẩm như hai truyện ngắn này là rất tiêu biểu.

Trong Vạt bần xa tắp bên sông, hai nhân vật Lựu và Lan - hai mẹ con, có số phận khác người. Người mẹ bị bệnh phong (cùi), luôn sống trong mặc cảm cô đơn, tưởng như mãi bị xóm giềng, người đời ghẻ lạnh, hất hủi lại được số phận run rủi để có được đứa con, tồn tại như một nỗi đau tột cùng nhưng cũng là một niềm hạnh phúc vô bờ bến. Đứa con hoang mới lớn, lần đầu tiên đi làm xa nhưng có một quyết định táo bạo tày trời đến mức khó tin là quyết theo trai, ở lại xứ người, bỏ mẹ một mình trở về. Cái mô - típ vụng trộm trong quan hệ trai gái của hai nhân vật mẹ Lựu và con Lan, được tác giả sử dụng lặp lại trong truyện ngắn này, không khiến người đọc bực bội, khó chịu mà ngược lại, rất được cảm thông, tha thứ. Dường như đó chính là ân phúc của trời đất ban cho cuộc sống thấm đẫm bi kịch của họ. Vạt bần xa tắp bên sông dưới con mắt người mẹ, khi theo đoàn gặt thuê trở về quê là một hình ảnh giàu tính ẩn dụ, hướng tới một khát vọng sống tốt đẹp ở thì tương lai. Và vì vậy, có thể nói, dù cốt truyện và chi tiết ăm ắp những buồn tủi, đau đớn, Vạt bần xa tắp bên sông vẫn ánh lên nguồn sáng tươi vui, thấm dẫm nhân văn bằng một cái kết mở ăm ắp hi vọng. Cũng với cốt truyện và chi tiết đầy những buồn tủi, đau đớn như trên, truyện ngắn Đường về đã tạo ra một không gian nghệ thuật đậm chất Nam bộ với thân phận đặc biệt của hai nhân vật Năm Chùa và Lưu - hai ông cháu. Đường về cũng là một ẩn dụ nghệ thuật, có thể được hiểu theo các diễn giải khác nhau: đó là đường về cõi vĩnh hằng của nhân vật Năm Chùa sau một cuộc đời đầy gian truân ở trần thế; đó là đường về của mẹ thằng Lưu khi nhận tin cha bệnh trọng nhưng muộn màng vì những lí do bất khả kháng; đó là đường về - con đường theo nghĩa đen mà tai nạn giao thông đã khiến thằng Lưu trở nên tưng tửng và em gái nó đã mất mạng; đó cũng là đường về trong câu hỏi trong trỏng của thằng Lưu khiến má nó tuôn trào nước mắt: Đường này có về tới Bạc Liêu không má?... Nhưng trên tất cả, vẫn là thân phận trớ trêu của gia đình nhân vật Năm Chùa, nhất là hai ông cháu. Nếu Năm Chùa bị vợ bỏ lại cùng con gái, sống cuộc đời gà trống nuôi con rồi nuôi cháu thì con gái ông sinh được hai mặt con rồi cũng bị chồng gạt, phá chòi dong thẳng về Bạc Liêu một đi không trở lại; và thằng Lưu suốt đời sống với cái đầu trẻ con ẩn trong thân xác của người lớn. Khác với kết truyện có phần sáng sủa của Nguyễn Lệ Ba trong Vạt bần xa tắp bên sông, cái kết trong Đường về, dù Hồ Văn đã có chút gượng ép khi đưa chi tiết bà ngoại thằng Lưu ngoài Bắc trở vào với những thiện ý mang tính chuộc lỗi, cũng như hình ảnh một Bạc Liêu rất gần bởi con đường Hồ Chí Minh đã khánh thành thì người đọc vẫn cảm thấy ngậm ngùi, thương cảm cho thân phận các nhân vật vẳng lên trong câu hát đẫm buồn được trích dẫn cuối truyện. Và đó chính là chút khác biệt trong kiểu kết - thúc - mở của hai truyện ngắn hay này.

Nói đến truyện ngắn là nói đến chi tiết. Quá lên, có thể nhại chữ mà rằng: Phi chi tiết bất thành truyện ngắn! Thật vậy, một truyện ngắn chỉ có thể ra đời khi tác giả gia công sắp xếp một cách tối ưu hệ thống chi tiết, từ đó mà xác lập cốt truyện, cài đặt nhân vật, tổ chức hành văn..., kể cả những truyện ngắn được gọi là truyện ngắn luận đề hay truyện ngắn tùy bút... Hiểu như vậy để thấy, một truyện ngắn hay là một truyện ngắn có hệ thống chi tiết ít nhất hàm được một số đặc trưng như: chặt chẽ, đầy đủ, tiêu biểu, chọn lọc, phù hợp, khơi gợi..., trong đó, bất luận thế nào cũng phải nổi lên một hai chi tiết quan trọng, chủ chốt, lấp lánh ý tưởng nhân văn, tạm gọi là những chi tiết thần của truyện. Theo quan niệm ấy, không hề cường điệu chút nào, tôi cho rằng Nguyễn Lệ Ba và Hồ Văn chính là những ông thầy của chi tiết, ít nhất là trên địa hạt truyện ngắn Văn nghệ Đồng Tháp năm qua. Đọc truyện ngắn của hai anh, người đọc đắm mình trong ăm ắp chi tiết chọn lọc và thỉnh thoảng phải giật mình, sởn gai ốc bởi bắt gặp những chi tiết đắt giá, khiến thiên truyện không thể không sáng bừng lên, lung linh, ám ảnh. Chỉ lấy ví dụ minh họa từ hai truyện ngắn vừa đề cập ở trên cũng có thể cảm nhận rõ rành điều đó. Trong Vạt bần xa tắp bên sông, người đọc có thể quên nhiều câu, đoạn nhưng những chi tiết như khoảnh khắc cái mùi kinh khủng ấy cùng tấm thân đàn ông lực lưỡng đã đổ ấp lên người nhân vật Lưu - cùi hay giây phút Lan khom người chui qua vách mùng để theo trai, bỏ mẹ nằm một mình đầy lo sợ, ấm ức trong đêm và từ đó cũng quyết ở lại phía vạt bần xa tắp bên sông, mặc cho mẹ về quê một mình... đầy sức nặng ấy thì chắc chắn phải nhớ và nhớ một cách ám ảnh. Tương tự, trong Đường về, chi tiết âm thanh độc huyền cầm từng... tưng... tưng... tứng... tưng lẩy ra từ bàn tay nhân vật Năm Chùa cứ lặp đi lặp lại suốt cả thiên truyện hay chi tiết cái đăng bắt cá linh với 12 cửa địa ngục được thằng Lưu phát hiện ông ngoại mình đã cắt bỏ không còn một cửa nào, giúp đàn cá có hướng thoát... khiến người đọc mãi day dứt bởi biết bao ý tưởng nhân văn toát lên ngay từ chính những chi tiết đơn lẻ đó. 

Một thu hoạch riêng, thích thú nhất của tôi về phương diện nghệ thuật từ truyện ngắn của Nguyễn Lệ Ba và Hồ Văn, đó là cả hai tác giả đều khá vững tay trong việc xử lí những khoảnh khắc mờ ảo (chữ dùng của tác giả bài viết này) - một trong những thủ pháp khiến tác phẩm văn xuôi hiện đại hấp dẫn, lung linh hơn. Tôi chỉ dám gọi là khoảnh khắc mờ ảo chứ không dám đụng đến nguyên lí của một khuynh hướng nghệ thuật, nhất là trong văn xuôi của thế kỉ XX được gọi là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo nổi lên ở các nước Mỹ La tinh sau Đại chiến thế giới lần thứ II mà nhà văn đạt giải Nobel văn học, người Colombia Gabriel García Márquez với các tác phẩm nổi tiếng như Trăm năm cô đơn, Ngài đại tá chờ thư, Tình yêu thời thổ tả... là tiêu biểu.

Để viết về nhân vật chị Hạnh, nhất là khoảnh khắc xuất hiện ở cuối truyện ngắn Về với đất với một khoảng trời mở mờ ảo như vậy chứng tỏ Nguyễn Lệ Ba đã rất làm chủ bút lực của mình. Cũng như vậy, những trang mô tả maBụi tre ngoài đồng cho thấy Hồ Văn đã biết chừng mực khi kết hợp các chi tiết thực và ảo, hiện thực và huyền thoại trong truyện ngắn của mình.

Trong Những linh hồn chưa ăn cháo lú, Nguyễn Lệ Ba đã kết hợp các chi tiết thực và ảo, hiện thực và huyền thoại nơi hai nhân vật chú - Tư - hớt - tóc - Việt - cộng - nằm - vùng và thầy - giáo - Năm - lính - cộng - hòa trong phần cuối truyện, khiến tác phẩm không chỉ đậm chất nhân văn (những người chết vì còn duyên nợ sâu sắc với trần thế mà linh hồn họ không chịu qua cầu Nại Hà ăn cháo lú, để vẫn còn dịp quay trở lại dương gian) mà còn ám ảnh và hấp dẫn người đọc bởi nghệ thuật hư cấu bằng khí quyển huyền ảo kết hợp giữa hiện đại và dân gian của tác giả. Cũng như vậy, trong Cánh hạc thuở học trò, Hồ Văn đã gia công trên nhiều trang dòng với bút pháp đồng hiện, qua đó đặc tả tâm trạng và tính cách nhân vật cựu - học - sinh - Sơn khi lần lượt chạm vào những con hạc giấy để từ đó biết bao kỉ niệm đẹp đẽ, tươi rói về tình bạn, tình thầy trò nơi trường cũ lần lượt hiện ra thiêng liêng và xúc động.

Trong Đỗ Thừa, cũng bằng bút pháp trên, Nguyễn Lệ Ba đã dẫn dắt người đọc cùng Đỗ Thừa vừa tò mò vừa lo lắng, quyết tìm cho ra nguyên nhân ma ám trong ngôi nhà kín cổng cao tường (thực ra là âm mưu của hai nhân vật ở ké là Huệ và Thái nghệ sĩ, tạo hiện trường giả ma để dễ bề quan hệ vụng trộm nhưng bất thành), cuối cùng thân phận nhân vật chính được định đoạt bằng một bước ngoặt cuộc đời độc nhất vô nhị với chi tiết cái đầu rễ tre vô cùng ấn tượng. Còn trong Tiếng vọng của đồng bưng của Hồ Văn, chi tiết bà Câm nói được á...í...ái...ái cũng như không khí chung cả truyện luôn phảng phất dư vị hay tiếng vọng của một cõi xa xăm nào đó như tên tác phẩm gợi ra từ ban đầu, khiến truyện ngắn này khắc họa một cách sâu sắc thân phận con người vùng sâu Tháp Mười trong thời bình cũng như trong chiến tranh ái quốc.

Những khoảnh khắc mờ ảo ấy phải chăng là thế mạnh trong bút pháp và phong cách truyện ngắn cũng như có sự trùng hợp ngẫu nhiên đến kì lạ của hai tác giả Nguyễn Lệ Ba và Hồ Văn, dù mỗi người thể hiện một cách khác nhau? Dẫu thế nào thì tôi vẫn cho rằng, chính điều đó đã làm nên nét riêng và cái hay của truyện ngắn từng tác giả. Có phần cực đoan, tôi cho rằng, nếu không có những khoảnh khắc mờ ảo trên, chắc chắn những truyện ngắn của hai anh sẽ nhạt đi, mỏng hơn và có thể chẳng có gì sâu sắc đến phải nhớ và ám ảnh người đọc.

Để cảm được cái hay của những truyện ngắn này, đương nhiên là phải đọc và đọc không chỉ một lần. Bài viết chỉ là một thao tác giới thiệu mang tính thống kê và gợi mở. Rất mong bạn đọc của Văn nghệ Đồng Tháp lật lại những trang báo của năm 2016 để một lần nữa thâm nhập hồn cốt các tác phẩm văn học nghệ thuật nơi đây, nhất là các truyện ngắn, trong đó có chùm tác phẩm hay của Nguyễn Lệ Ba và Hồ Văn.

 

T.Đ

 

 

____________________

(*) Nguyễn Lệ Ba: Về với đất (số 1,2,3,4); Vạt bần xa tắp bên sông (số 9); Những linh hồn chưa ăn cháo lú (số 19); Đỗ Thừa (số 21) - Hồ Văn: Bụi tre ngoài đồng (số 7); Đường về (số 10); Tiếng vọng của đồng bưng (số 17); Cánh hạc thuở học trò (số 22).
 
     
  Tao Đàn ( Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |