Chủ Nhật, ngày 23 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  13/06/2017  
  TỪ NHỮNG CHUYẾN ĐI THỰC TẾ  
  Tôi đã tham gia nhiều chuyến đi. Những chuyến đi như vậy với tôi thật sự bổ ích và cần thiết. Từ mỗi chuyến đi thực tế, tôi thu thập được rất nhiều điều và gần như sau mỗi chuyến đi, tôi viết được ít nhất một tác phẩm. Nó như một thói quen nghề nghiệp, không viết cứ cảm thấy thiêu thiếu một cái gì đó, rất khó chịu.  
 
 

18035439_225886561227653_644502410_n.jpg


TỪ NHỮNG CHUYẾN ĐI THỰC TẾ (*)

 

PHẠM THỊ TOÁN          

 

Tác phẩm ra đời là sự sáng tạo, phản ánh hiện thực cuộc sống. Để có được một tác phẩm, người viết cần tuân thủ quy trình chung, trong đó đi thực tế là một bước rất quan trọng để tìm chất liệu. Quan sát và cảm nhận khi đi thực tế sẽ quyết định việc thu thập, thẩm định và phân tích thông tin. Nói một cách hình tượng: Đi để chạm vào nắng, vào gió, nhìn cánh cò, rặng tràm xanh, cái xuồng ba lá... Đi để được gặp con người của từng vùng miền đất nước, được tiếp cận với từng sự việc xảy ra hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống, rồi trao đổi học tập kinh nghiệm với đồng nghiệp… Đi để có cảm xúc, từ đấy có chỗ tích lũy cho những tác phẩm của mình thai nghén và ra đời… 

Tôi đã tham gia nhiều chuyến đi. Những chuyến đi như vậy với tôi thật sự bổ ích và cần thiết. Từ mỗi chuyến đi thực tế, tôi thu thập được rất nhiều điều và gần như sau mỗi chuyến đi, tôi viết được ít nhất một tác phẩm. Nó như một thói quen nghề nghiệp, không viết cứ cảm thấy thiêu thiếu một cái gì đó, rất khó chịu.

Mùa lũ năm 2011, sau khi vỡ đê Tân Hồng, nguy cơ sẽ vỡ đê Hồng Ngự. Đứng trên đê, tôi thấy hai bên bờ ruộng và sông, mực nước chênh nhau trên 4m. Nhưng nhờ cái bờ lửng do ông Nguyễn Trạng Sư, Phó Chủ tịch huyện chỉ huy mọi người làm đã cứu được đê. Tìm hiểu, tôi nghe bà con kể: Ông nhảy ùm xuống sông, dầm mình ngay sát hàng cừ ngoài cùng, chỉ từng gàu cát đổ xuống khoảng giữa hàng cừ ngoài sông và hàng “cừ người”. Vừa hò hét bộ đội phải ôm chặt từng bao cát thành một hàng thẳng, đan nhau, không cho dạt ra sông, một mặt chỉ từng gàu cát phải hạ xuống giữa lằn ranh hàng “cọc bộ đội” và cọc cừ phía ngoài sông. Xáng bỏ xuống nhanh quá cũng không được, bỏ sát đê quá thì cả khối cát sẽ chụp vào đầu các anh bộ đội, bỏ ra ngoài quá thì trôi đất xuống sông rất phí, hoặc không khéo sẽ rơi thẳng xuống đầu ông. Từng gàu đất được đổ lên theo cánh tay đưa lên hạ xuống của ông, bờ cao dần giống chiếc cầu treo, dập dềnh, thành một mảng chắn, chiều ngang khoảng 5 mét, chạy dài hơn 70 mét bảo vệ phía ngoài chân đê. Dòng nước hung hãn giờ đây không còn ầm ầm đập thẳng vào thân đê như trước mà chảy hiền hòa hơn, hướng dòng chảy ra ngoài, sóng bớt đánh trực diện vào bờ đê. Sau một hồi lặng đi, cả ngàn người bỗng reo hò vang dậy. Thắng rồi, hoan hô Trạng Sư! Ông lại lóp ngóp bò từ dưới sông lên, bà con công kênh ông lên như muốn truyền thêm chút hơi nóng từ những bàn tay để lòng ông ấm lại, khi cơn mưa vẫn đang xối xả. Nhiều người mặt cũng dàn dụa như ông, không biết do nước mưa hay nước mắt nữa… Cảm động trước một con người dám xả thân vì dân, vì nước, tôi đã viết kí Sơn Tinh thời nay, đạt giải cuộc thi viết Cảm nhận Tây Nam bộ tổ chức năm 2012.

Đợt đi chụp ảnh nghệ thuật với Câu lạc bộ Nhiếp ảnh nữ Đồng Tháp ở Trường Xuân, Tháp Mười, tôi nhìn thấy tấm bằng liệt sĩ. Hỏi thăm bà Thu là vợ liệt sĩ thời chống Mỹ, bà tâm sự: Lúc ấy, tôi mới ba mươi tuổi, một nách bốn đứa con, bị tụi lính gây khó dễ đủ điều bởi chúng cho: Đàn ông không có trong nhà, nếu không đăng lính thì chỉ có một lý do duy nhất là đi theo Việt cộng. Chúng nói đúng! Cái đường kênh này hầu như nhà nào cũng giống như nhà tôi, đều là vợ Việt cộng và sau này trở thành vợ liệt sĩ. Có lẽ, chưa ở nơi đâu trên thế giới lại có nhiều phụ nữ thờ chồng như ở Việt Nam! Bà nói rất bình thản nhưng tim tôi chợt đau nhói. Tôi thầm hỏi: Ai là kẻ đã làm cho những người phụ nữ hiền lành ở xứ sở này bỗng trở thành góa bụa, những đứa trẻ ngơ ngác, vô tội bỗng mất cha? Và từ lời kể của bà, một nhân chứng sống, tôi đã viết tác phẩm Người đại đội trưởng của tiểu đoàn Năm lẻ hai. Bà gần như thuộc lòng từng câu chữ của bài kí. Cứ mỗi lần vừa đọc bà vừa khóc. Cả gia đình bà tới tận bây giờ vẫn nâng niu cất giữ và coi những trang báo Văn nghệ Đồng Tháp này như một báu vật.

Năm 2014, tôi được cử đi cùng đoàn văn nghệ sĩ, nhà báo đến thăm binh chủng hải quân ở đảo Bạch Long Vĩ. Chứng kiến cuộc sống của các chiến sĩ hải quân trên đảo, gặp vợ con ra thăm các anh nhân dịp Tết đến xuân về, tâm sự với các chị, vừa đi vừa về 3 ngày, tôi đã viết một loạt tác phẩm như: Bạch Long Vĩ đảo quê hương; Em sẽ đến bên anh; Chủ nhiệm chính trị Nguyễn Quốc Văn… Xin đọc lại một vài câu trong nhật kí của cô giáo gửi chồng là lính hải quân: Em muốn ghen với từng gốc cây, ngọn cỏ nơi anh hàng ngày đã đi qua ở nơi đảo xa. Anh à! Hôm nay là Ngày Tình nhân. Từ khi gặp anh, với em, ngày nào em cũng cảm nhận đó là ngày Valentine. Gi gió những nụ hôn tới anh trong ngày Valentin của hai chúng mình…

Kỉ niệm 70 năm 100 ngày tập kết tuyển quân tại Cao Lãnh, tôi được phân công đi viết hồi kí cho các đồng chí đã từng tập kết nơi đây. Một trong 40 bài hồi kí tôi đã viết có tên Hãy đợi anh về. Ông Hồng Nhân, vật trong bài đã tâm sự: Cũng chỉ vì cái gật đầu hứa hẹn, hơi ấm và những giọt nước mắt nóng hổi của vợ tôi trong đêm mùa thu năm ấy trên quê hương Cao Lãnh, mà trong mấy chục năm ròng, cứ ngày Bắc, đêm Nam, tôi luôn nhớ về người vợ trẻ vô cùng yêu thương và đứa con sắp chào đời lúc chia tay mà quên đi tất cả mọi đòi hỏi thường tình của người đàn ông đang vào độ sung mãn… Nói thật, có những đêm tôi khóc ròng, tưởng đã tới ngưỡng tận cùng của nỗi nhớ, không thể chịu đựng hơn được nữa vì quá nhớ vợ, thương con, khát khao hạnh phúc, dù đang được sống tự do trên đất Bắc…

Khi tôi vào nhà gặp một người con gái ngồi dặt dẹo, không vững, tay chân co quắp, tôi chợt rùng mình, ông Út Tường ở Hòa An, Thành phố Cao Lãnh trong hồi kí Những nỗi đau, tâm sự: Nhìn con, tôi lại nghĩ: Sao tôi không chết đi để con tôi được sống bình thường, lớn lên như bao nhiêu đứa trẻ ở trên cõi đời này. Bọn Mỹ đã cuốn xéo hết về nước, đất nước được thanh bình. Chiến tranh đã đi qua mấy chục năm rồi nhưng nó không hề mất đi, thật đau đớn, nó vẫn hiển hiện sừng sững trong từng đêm, từng ngày, từng giờ trên mỗi cử chỉ, tiếng cười méo mó, hoang dại, vô hồn ở đứa con gái yêu quý, vô cùng tội nghiệp của vợ chồng tôi hôm nay. Chúng tôi, ngoài ở lại anh dũng, còn phải hứng chịu những nỗi đau không thể nói sao cho hết được. Tôi ứa nước mắt, thay ông viết những câu gan ruột, khi nhìn thấy cảnh hai ông bà đã bước vào cái tuổi xưa nay hiếm phải chăm sóc cô con gái hoàn toàn vô thức.

Tôi không nhớ đã viết bao nhiêu tác phẩm được đăng tải trên các báo trung ương và địa phương. Điều đáng nhớ là tác phẩm nào cũng đều ghi dấu ấn của mỗi chuyến đi sáng tác của tôi.

Trước hết, hãy đi và cảm nhận, phân tích, khi về chúng ta sẽ viết được thôi. Đó là thông điệp tôi muốn gởi tới các bạn đồng nghiệp.

 

P.T.T

__________________

(*) Tham luận tại Tọa đàm Văn học Đồng Tháp hôm nay do Phân hội Văn học - Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp tổ chức ngày 17.02.2017.

 
     
  Phạm Thị Toán ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)








  • THƯ CẢM ƠN! (19/08/2018)

  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |