Thứ Ba, ngày 22 tháng 5 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  06/09/2017  
  BIỂU TƯỢNG NẮNG, MƯA, GIÓ TRONG CA DAO - DÂN CA ĐỒNG THÁP  
  Với góc nhìn đa chiều về hiện tượng tự nhiên nắng, mưa, gió trong ca dao - dân ca Đồng Tháp, người tiếp nhận đã thấy được phần nào giá trị nghệ thuật, văn hóa… của ba biểu tượng này. Theo ý của cố giáo sư Lê Trí Viễn, còn rất nhiều những hạt lúa vàng như các biểu tượng nắng, mưa, gió rơi vãi trên cánh đồng văn nghệ dân gian, cần phải cóp nhặt, phơi phóng để nó được khô giòn, sáng đẹp và sống mãi trong đời sống văn chương nghệ thuật của xứ sở đất sen hồng.  
 
 

vn-sang-campuchia-hoc-xay-dung-thuong-hieu-gao_573358.jpg


BIỂU TƯỢNG NẮNG, MƯA, GIÓ

TRONG CA DAO - DÂN CA ĐỒNG THÁP (*)

                                                                                                           

HỒ VĂN

 

Bài hát Gợi nhớ quê hương của nhạc sỹ Thanh Sơn được bắt đầu bằng câu: Quê em hai mùa mưa nắng… đã đi vào lòng người không chỉ ở giai điệu, ca từ mà còn phản ánh đúng quy luật thiên nhiên miền Tây Nam bộ nói chung, Đồng Tháp nói riêng. Nắng, mưa trong ca dao - dân ca Đồng Tháp vừa báo hiệu hiện tượng thời tiết, vừa thể hiện hoàn cảnh, thời gian nghệ thuật. Bên cạnh đó, ta còn thấy sự xuất hiện của gió hòa quyện vào những cơn mưa, giọt nắng, len lỏi vào mọi ngõ ngách đời sống sinh hoạt của con người. Sự lặp đi lặp lại của ba hình ảnh trên trong tiếng thơ, lời ca, giọng ngâm của tác giả dân gian đã gây sự chú ý mạnh mẽ ở người đọc, người nghe. Qua cách diễn đạt mộc mạc, bình dị, nắng, mưa, gió trở thành những biểu tượng để chuyển tải thông điệp, tình cảm của con người chân lấm tay bùn trên vùng đất tích hợp nhiều nét văn hóa từ các vùng miền khác nhau này. 

Biểu tượng trong ca dao - dân ca nước ta thường là những hình ảnh rất gần gũi với văn hóa làng xã, văn hóa nông nghiệp của người nông dân, với những hình ảnh của đồng ruộng, làng quê. Các biểu tượng, tự thân nó chuyên chở những giá trị tình cảm của con người nên chúng có một sức sống mạnh mẽ trong tiềm thức người dân Việt. Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao đã định nghĩa: “Biểu tượng là nhóm hình ảnh cảm xúc tinh tế về hiện thực khách quan, thể hiện quan niệm tư tưởng của từng nhóm tác giả, từng thời đại, từng dân tộc và từng khu vực cư trú”. Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao -dân ca được xây dựng bằng ngôn từ, với những quy ước của cộng đồng về một ý niệm tượng trưng. Biểu tượng không chỉ đơn thuần thay thế cái được biểu hiện, mà còn chủ yếu tượng trưng cho những ý nghĩ, quan niệm, tư tưởng của con người. Vũ Ngọc Phan là người đầu tiên phân tích hình tượng con cò trong ca dao và nêu lên tính biểu tượng của nó: “Trong ca dao, ng­ười dân lao động Việt Nam đã m­ượn đời sống con cò để biểu hiện đời sống của mình và dùng hình ảnh con cò để gợi hướng, để tỏ sự mong muốn của mình, nói lên những đức tính của mình, nông nỗi khổ cực của mình và cả những thói xấu của mình nữa”. Nắng, mưa, gió là những biểu tượng trong ca dao - dân ca Đồng Tháp bởi nó ngầm mang ý nghĩa tượng trưng cho một lớp người, một dạng thân phận, tâm tư, tình cảm con người hay một nét văn hóa của xứ sở đất sen hồng.

Để tìm hiểu sức ảnh hưởng, nội dung thông điệp và tư tưởng, tình cảm của tác giả dân gian ẩn chứa trong ba biểu tượng trên, chúng tôi đã khảo sát tần suất xuất hiện của nắng, mưa, gió, kể cả hai biểu tượng mưanắng cùng song hành, trong 1330 bài ca dao - dân ca Đồng Tháp. Kết quả cụ thể như sau:

 

Biểu tượng

Nắng

Mưa

Mưa - nắng

Gió

Tần suất xuất hiện

6

16

13

41

 

Theo khảo sát trên, cặp hiện tượng thiên nhiên: nắng - mưa cùng xuất hiện trong ca dao - dân ca Đồng Tháp là 13 lần. Biểu tượng nắng - mưa đi vào đời sống văn hóa của người Đồng Tháp, gắn bó thân thiết với nhau như hình với bóng qua câu đố: “Hai người cắt tóc/ Thề chắc với nhau/ Nắng dãi dầu qua không bỏ bậu/ Mưa sụt sùi bậu lại bỏ qua”. Câu đố lấy hiện tượng đời sống thiên nhiên với hai mùa rõ rệt để kích thích tư duy của con người. Nhưng đồng thời nó còn đưa ra thông điệp nhằm thử thách tình cảm gắn bó, thề nguyền chung thủy của đôi lứa yêu nhau. Bởi nắng - mưa là hai thái cực, đối nhau nhưng song hành trong quá trình dịch chuyển thời tiết hệt như trai gái yêu nhau, chồng vợ sánh đôi trên suốt quãng đường đời. Nắng cháy dãi dầu vẫn không bỏ nhau, chỉ mùa mưa dầm, lại bỏ nhau. Lời trách cứ thật khéo léo, ý nhị của tác giả dân gian. Hai câu cuối của câu đố trở thành một vế đối rất chuẩn. Trong đó, mỗi mùa đều có những gian khổ, khó khăn riêng, quan trọng là sự bền lòng, chc dạ ở con người.

             Đa số những câu ca dao có nắng - mưa xuất hiện song hành cùng nhau đều chỉ hiện tượng thời tiết, khoảng thời gian gian khổ, thử thách đối với con người. Đặc biệt là sự bộc lộ tình cảm của người con gái trong tình yêu: Khổ qua mắc mưa khổ qua đắng/ Khổ qua mắc nắng khổ qua đèo/ Anh thương em làm giấy giao kèo/ Thò tay điểm chỉ dẫu nghèo em cũng theo.

            Bài ca dao - dân ca trên mượn hình tượng trái khổ qua bị mắc mưa, mắc nắng để bộc lộ một cách gián tiếp tình yêu đôi lứa, sự thủy chung, chặt dạ ghi lòng, vượt lên trên vật chất nghèo, giàu. Đồng thời muốn đề cập đến cái trắc trở gian khó, thử thách mà người Đồng Tháp phải gánh chịu, cần phải vượt qua: mưa thì mưa dầm dề, nắng thì nắng chang chát. Hai từ đắngđèo ở cuối câu thứ nhất và thứ hai của bài ca dao - dân ca thật đắt, vừa gợi hình, gợi cảm giác đăng đắng ở đầu môi của vị đắng trái khổ qua khi phải hứng chịu thời tiết thiên nhiên khắc nghiệt.

            Nắng - mưa xuất hiện còn khẳng định tình cảm chân thành sâu kín có chút e dè của nhân vật trữ tình. Bởi họ là phận gái, cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi lời đàm tiếu, dị nghị và lễ giáo ngàn đời: Ra về em chẳng dám cầm/ Dang tay đưa bạn ruột bầm như dưa/ Ra về chẳng lẽ em đưa/ Vái trời đừng nắng, đừng mưa cho anh về.

            Dựa vào hoàn cảnh tự nhiên vùng đất Đồng Tháp nửa mùa nắng nóng, nửa mùa mưa giông, ta thấy tình cảm của cô gái kia thật dữ dội mà khéo léo trong hành động dang tay lúc đưa bạn ra về. Không thể nào có kiểu dang tay thông thường, đơn giản như vậy khi mà ruột bầm như dưa, khi mà tâm trạng, cảm xúc cô gái thật mạnh mẽ, muốn kéo mưa, kéo nắng, kéo trật tự thông thường của thiên nhiên Nam bvái trời đừng nắng, đừng mưa. Không thể có một cái dang tay đơn thuần của đôi lứa yêu nhau đắm say giữa trời nước mênh mông, đồng quê cỏ lúa… quạnh quẽ. Vậy chỉ có thể diễn đạt như sau mới là thỏa đáng nhất: Ra về em chẳng dám cầm/ Dang tay “ôm bạn” ruột bầm như dưa. Nói vậy may ra người ta còn tin.   

Nếu như hai bài ca dao - dân ca vừa phân tích mượn chuyện nắng - mưa để nói đến tình cảm của cô gái, thì bài ca dao dưới đây là tâm tình của chàng trai: Anh ra đi là sự đã liều/ Mưa mai anh chẳng biết, nắng chiều anh chẳng hay.

            Thời tiết vùng đất này không chỉ thay đổi theo mùa: hết mùa nắng rồi đến mùa mưa, mà còn đổi thay từng ngày, từng giờ, từng phút. Thành ngữ có câu sáng nắng chiều mưa để chỉ sự đổi thay thất thường của thời tiết, của lòng dạ con người. Dẫu sao câu thành ngữ ấy vẫn còn yếu tố lạc quan hơn câu ca dao trên: mưa mai - sáng sớm mai trời đã mưa tầm tả, báo hiệu một ngày buồn, cô đơn, sầu nhớ, một tương lai không mấy sáng lạn.

            Trường hợp cặp từ nắng - mưa đi riêng lẻ cũng xuất hiện khá nhiều trong ca dao -dân ca Đồng Tháp. Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, có 16 bài nhắc đến hiện tượng mưa chỉ có 6 bài nhắc đến hiện tượng nắng. Tỉ lệ 16/6 là con số chênh lệch rất lớn khi hai hiện tượng này không cùng song hành nhau như hình với bóng. Có hai bài ca dao nhắc đến hiện tượng nắng để lại dấu ấn: Nắng ngày, đêm lại gặp sương/ Cơn sầu, anh gặp người thương hết sầu - Ban ngày dãi nắng, tối lại dầm sương/ Công tôi lao khổ nàng thương không nàng.

            Nắng bỏ mưa để kết duyên cùng với sương. Chính cuộc ngoại tình đó làm cho tầng nghĩa nắng mờ nhạt trong dự báo thời tiết, nhưng rõ nét trong cách thể hiện thời gian nghệ thuật. Thời gian mang tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong sự sầu nhớ, vấn vương với người mình yêu thương. Chính mối quan hệ ngoài luồng ấy của nắng khiến ta thấy có điều gì đó rụt rè, e ấp, kín đáo trong cách diễn đạt, thể hiện tình cảm: Cơn sầu, anh gặp người thương hết sầu. Ơ hay, giỏi cho chàng trai quá: chính cơn sầu thôi thúc anh thương nhớ, tìm gặp người yêu, chứ phải anh đâu! Cách nói này có nét giông giống bài ca dao: Gió đưa buồn ngủ lên bờ/ Mùng ai có rộng cho ngủ nhờ một đêm. Trong cuộc đi hoang này, chàng trai không hề có tội, không hề lỗi đạo. Tại gió đưa cơn buồn ngủ lên bờ rồi kéo chủ nhân của nó tìm mùng rộng để ngủ nhờ một đêm. Sự hiện diện của nắng, mưa trong các câu ca dao - dân ca vừa phân tích đã phản ánh một cách tinh tế những cung bậc cảm xúc, tình cảm của con người trong cuộc sống và tình yêu.     

            Mưa tách riêng ra cũng chỉ hiện tượng thời tiết, mùa mưa: Mỹ An là xứ lạ kỳ/ Đến mùa mưa xuống nước thì trong veo. Nhưng đa số các câu có chứa biểu tượng mưa dùng để bày tỏ, bộc lộ tâm trạng nhân vật trữ tình: Mưa chi mưa mãi hỡi trời/ Ướt anh du kích giữa nơi không nhà - Trời mưa bong bóng phập phòng/ Má đi lấy chồng con ở với aiTrời mưa ướt áo vai anh/ Ướt em em chịu chứ ướt anh em buồn - Trời mưa ướt lá trầu vàng/ Ướt em em chịu, ướt chàng em thương/ Trời mưa ướt lá trầu hương/ Ướt anh anh chịu, ướt người thương anh buồn.

Giữa hai biểu tượng mưanắng, nắng thường mang đến cho con người niềm tin, lạc quan, hăng say lao động. Mưa thường mang đến cho lòng người một nỗi buồn, nỗi nhớ. Mưa không chỉ hàm chứa thời gian nghệ thuật, mà còn chỉ hoàn cảnh trắc trở, éo le: mưa bong bóng phập phòng, mưa ướt áo, ướt lá trầu vàng, trầu hương làm cho con người phải nơm nớp lo sợ một điều gì đó. Mưa tạo nên một nét sinh hoạt rất riêng trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây. Mưa có tác động mạnh vào cảm xúc, tâm tư của con người hơn nắng. Xứ Huế mộng mơ, nơi xuất hiện rất nhiều nhà thơ, bài thơ hay bởi mưa Huế đẹp ở sự dai dẳng, lất phất bay bay. Mưa Đồng Tháp, miền Tây Nam bộ lại có góc độ hay riêng, mưa dầm dề, dữ dội ầm ào, mưa trắc trở biệt ly bởi sông dài, đò rộng, đường xá sình lầy, kết hợp với hoàn cảnh con người xa quê, nơi xứ lạ quê người, rày đây mai đó… nên càng thích hợp với thơ ca, nhất là ca dao - dân ca.

Mạch viết về mưa trong ca dao - dân ca Đồng Tháp đã chảy mãi không ngừng trong văn học viết. Ta tìm thấy rất nhiều nhà thơ, nhạc sỹ, nhiều bài thơ, bài ca viết về mưa ra đời ngay trên quê hương Tháp Mười như tác phẩm Mưa Tháp Mười của nhà thơ Hồ Tĩnh Tâm và nhạc sĩ Phạm Khiêm chẳng hạn. Trong sự biến đổi không ngừng của thiên nhiên đất trời: mùa mưa về chậm, người nông dân mỏi mắt mong chờ bóng dáng con lũ vẫn còn xa ngái phía mây ngàn. Hình ảnh mùa nước tràn đồng rồi sẽ chỉ còn trong tâm thức con người miền Tây nói chung. Nhưng biểu tượng mưa mãi mãi in đậm trong nét văn hóa, văn chương nghệ thuật Đồng Tháp.    

Biểu tượng gió có tần suất xuất hiện cao nhất, đến 41 lần. Hơn cả mưa xuất hiện đơn lẻ cộng với những trường hợp cùng sóng đôi với nắng: 29 lần. Điều này chứng tỏ gió có nhiều ấn tượng trong đời sống sinh hoạt và đời sống văn chương nghệ thuật của con người Đồng Tháp. Đọc ca dao - dân ca Đồng Tháp, ta bắt gặp một bài phản ánh chân thật sức ảnh hưởng của những cơn gió theo mùa đối với tâm trạng của nhân vật trữ tình. Bài ca dao bắt đầu bằng ngọn gió mùa đông lạnh lẽo: Gió mùa đông ngồi không lạnh lẽo/ Mãi trông chồng thắt thẻo ruột gan/ Gió mùa xuân rưng rưng nước mắt/ Mãi trông chồng ruột thắt từng cơn/ Gió mùa hè rung rinh lá hẹ/ Cảm thương nàng có mẹ không cha/ Gió mùa thu mẹ ru con ngủ/ Năm canh chầy thức đủ năm canh.

Rõ ràng, gió mùa nào cũng ẩn chứa nỗi lòng của người con gái đã có chồng, của chàng trai, của người mẹ ru con. Chúng tôi hơi ngờ ngợ về cách dùng đại từ nhân xưng mẹ của tác giả dân gian, tại sao không dùng từ nhằm mang đậm bản sắc của người Nam bộ. Nếu vậy, hai từ lá hẹ cuối câu năm nên đổi thành chiếc lá cho hiệp vần câu thứ sáu của bài. Bên cạnh đó, cách dùng năm canh chầy nghe sao sang trọng, khuôn mẫu, xưa quá (canh chầy thuộc lớp từ cũ: chỉ thời gian dài, trôi chậm) chưa hợp với vùng đất mới Nam bộ. Để dự đoán hay báo hiệu thời gian, người dân di cư đi khai hoang, lập nghiệp phải dựa vào con nước lớn ròng, dựa vào tiếng kêu của những loài động vật, loài chim đặc trưng ở vùng đất này. Phải chăng đây là một trong những cách mà những người ly hương kín đáo gởi nỗi nhớ, niềm thương về quê cha, đất tổ.  Bên cạnh đó, với cách diễn đạt như trên cũng phần nào lý giải sự hỗn tạp nhiều nguồn văn hóa trong cộng đồng cư dân vùng Đồng Tháp Mười xưa nói chung, Đồng Tháp nói riêng. Mặc khác, bài ca dao khi đề cập đến biểu tượng gió lại đa số dùng thanh trắc, thường gặp trong hai câu bảy của thể song thất lục bát, ở những tiếng: mắt - thắt, hẹ - mẹ, ngủ - đủ. Chứng tỏ gió ở đây không phải là ngọn gió mát, thanh bình mà cố tình gieo vào lòng người nhiều điều trắc trở, ẩn bên trong nó. 

Để biểu tượng gió cũng như các biểu tượng khác đã phân tích chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, trong ca dao - dân ca Đồng Tháp không chỉ nhắc đi nhắc lại nhiều lần hình ảnh đó, mà tác giả dân gian còn biết sử dụng thủ pháp nhân cách hóa để làm sinh động, phong phú hình tượng nhân vật. Thổi vào hiện tượng gió, vào cây cỏ, hoa lá… một linh hồn, một tâm trạng giàu sức sống như con người: Gió đưa trăng là trăng đưa gió/ Trăng lặn rồi gió biết đưa ai/ Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu đời đắng cay/ Lan, huệ sầu ai sao lan huệ héo/ Lan huệ sầu tình trong héo, ngoài tươi. Bài ca dao nói chuyện gió, trăng, hoa lan, hoa huệ nhưng ngụ ý là nói chuyện con người. Hay tiếng của gió trong bài ca dao sau, được chàng trai ví như tiếng của người yêu: Văng vẳng tiếng ai anh nghe hoài với gió/ Cách một con sông này gió nói nhỏ anh chẳng có nghe.

Biểu tượng gió còn mang tâm trạng của con người khao khát sự đổi đời, số phận hẩm hiu, bạc bẽo: Thân em như hoa gạo trên cây/ Chúng anh như đám cỏ may bên đường/ Lạy trời cho cả gió sương/ Cho hoa gạo rụng chui luồn cỏ may/ Thân em như cái sạp vàng/ Chúng anh như manh chiếu rách giữa đàng bỏ quên/ Lạy trời cho gió thổi lên/ Cho manh chiếu rách trải trên sạp vàng.

Mâu thuẫn trong bài ca dao không phải là mâu thuẫn giai cấp xã hội phong kiến kiểu như: Con vua thì lại làm vua/ Con sãi ở chùa thì quét lá đa/ Bao giờ dân nổi can qua/ Con vua thất thế lại ra quét chùa, mà đó là mâu thuẫn giữa sang - hèn trong tình yêu đôi lứa, trong cuộc sống. Phải chăng ở vùng đất bưng biền, xa vua tách chúa ngày xưa, mối quan tâm lớn nhất của cư dân lập nghiệp là miếng ăn, đói no, sống chết, giàu nghèo… chứ không phải là cái chữ, địa vị chức quyền trong trật tự xã hội.

Gió trong ca dao - dân ca Đồng Tháp còn là biểu trưng cho sức mạnh của tình yêu quê hương, đất nước, ngọn gió của những người nghĩa sĩ với tinh thần hào hiệp dám đứng lên trừ bạo, chống cái ác trong cuộc kháng chiến chống Pháp, và tinh thần cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ: Gió đưa tràm tỏa hương thơm/ Nhớ anh thao thức đêm hôm diệt thù/ Đêm nay mây ánh trăng lu/ Anh ơi anh nhớ trả thù cho em - Gió đưa bụi chuối sau hè/ Không đi vệ quốc bạn bè cười chê - Gió đưa bụi trúc la đà/ Anh đi đánh Mĩ mẹ già em nuôi.

Biểu tượng gió của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, biểu trưng cho tinh thần quật khởi trong ca dao - dân ca Đồng Tháp vẫn thổi mãi trong nhịp đập trái tim của những con người yêu nước, thổi mãi trong văn chương nghệ thuật của vùng đất sen hồng. Ngọn gió vừa quen, vừa mới lạ đó, ta bắt gặp trong Gió Thanh Mỹ của Trần Mạnh Hảo, Gió đổi chiều của Khắc Chu… là những ngọn gió cách mạng được khởi nguồn từ ngọn cỏ, dòng kênh, mái lá nghèo, con nước vàng đục ngầu ngầu đậm vị phèn chua… và từ trong nét văn hóa, văn chương nghệ thuật trầm tích từ mấy trăm năm qua.          

Ca dao nói chung thường thể hiện nội dung qua công thức, còn gọi là mô - tip, hay cách diễn đạt quen thuộc, truyền thống. Đó là sự lặp lại một biểu tượng, hình ảnh, chủ đề nào đó được nhắc đến nhiều lần trong nhiều bài ca dao. Thông qua mô - tip hay công thức đó ta sẽ tìm thấy những giá trị nghệ thuật, nội dung và cả về văn hóa của một hoặc chùm bài ca dao. Như trong ca dao - dân ca Việt Nam, ta thường bắt gặp những mô - tip: thân em; ước gì; đôi ta; ai ơi... Tuy lặp đi lặp lại, nhưng mỗi câu ca dao lại mang ý nghĩa biểu trưng khác nhau. Điều đó nói lên sự đa dạng, phong phú của ca dao - dân ca Việt Nam. Qua khảo sát, phân tích ba biểu tượng nắng, mưa, gió trong dao - dân ca Đồng Tháp, chúng tôi chỉ thấy hai biểu tượng: mưagió được sử dụng làm mô - tip thường gặp trong diễn đạt của tác giả dân gian. Nhiều câu ca dao - dân ca bắt đầu bằng mưa; trời mưa; g; gió đẩy; gió đưa; gió mùa… So sánh trong phạm vi hai biểu tượng này thì gió có sự lặp đi lặp lại nhiều lần hơn so với mưa. Cách diễn đạt quen thuộc, truyền thống của hai biểu tượng mưagió, cho thấy chúng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống nghệ thuật, đời sống vật chất, sinh hoạt hàng ngày của con người, vùng đất lấy nông nghiệp làm trọng tâm cho sự phát triển ổn định và bền vững.

Với góc nhìn đa chiều về hiện tượng tự nhiên nắng, mưa, gió trong ca dao - dân ca Đồng Tháp, người tiếp nhận đã thấy được phần nào giá trị nghệ thuật, văn hóa… của ba biểu tượng này. Theo ý của cố giáo sư Lê Trí Viễn, còn rất nhiều những hạt lúa vàng như các biểu tượng nắng, mưa, gió rơi vãi trên cánh đồng văn nghệ dân gian, cần phải cóp nhặt, phơi phóng để nó được khô giòn, sáng đẹp và sống mãi trong đời sống văn chương nghệ thuật của xứ sở đất sen hồng.

                                                                                             H.V                                                                                                                                

 

Tài liệu tham khảo:

[1] Trần Bạch Đằng (chủ biên) (1996), Địa chí Đồng Tháp Mười, Nxb Chính trị quốc gia;

[2] Thơ văn Đồng Tháp, tập I (1986), NXB Tổng hợp Đồng Tháp;

[3] Thơ văn Đồng Tháp, tập II (1986), NXB Tổng hợp Đồng Tháp.

 

___________

(*) Tác phẩm tham dự Cuộc Vận động sáng tác tác phẩm LLPB lần thứ III - năm 2016 do Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp tổ chức.

 
     
  Hồ Văn ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |