Thứ Năm, ngày 19 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  19/10/2017  
  CÁC ĐỊA DANH TRONG CA DAO QUÊ HƯƠNG ĐỒNG THÁP, NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ GIAO TIẾP  
  Khi nhận ra các địa danh như phương diện ngôn ngữ giao tiếp đặc thù, chúng ta sẽ thấy ca dao về quê hương Đồng Tháp rất giàu sắc thái biểu cảm, đa dạng về ngữ nghĩa như những bài ca dao khác trên khắp mọi miền đất nước.  
 
 

20171017_144224.jpg


CÁC ĐỊA DANH TRONG CA DAO QUÊ HƯƠNG ĐỒNG THÁP,

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ GIAO TIẾP (*)

 

                                                                                             LÊ VĂN MÍ     

 

Có rất nhiều bài ca dao viết về quê hương Đồng Tháp gắn với tên gọi cụ thể một hoặc nhiều địa danh. Đó không đơn giản là tên gọi thuần túy hay chỉ đóng vai trò làm vỏ bọc ngôn ngữ bên ngoài của bài ca dao. Thực sự tên gọi các địa danh còn làm nhiệm vụ chuyển nghĩa ngôn ngữ bên trong của chỉnh thể văn bản nghệ thuật, nhằm để chuyển tải thông điệp giao tiếp của nhân vật trữ tình hay chủ thể phát ngôn trong ca dao. Điều này, không chỉ riêng ca dao Đồng Tháp mà hầu hết ca dao ở các vùng miền khác cũng vậy. Tùy theo độ ngắn dài của bài ca dao và cách thể hiện tình cảm của chủ thể mà tần số xuất hiện của các địa danh nhiều hay ít. Trong số hằng trăm bài ca dao viết về quê hương Đồng Tháp, người ta thấy có một đặc điểm khá nổi bật: khi tả cảnh hay diễn tình, người dân của xứ bưng biền rất thích dùng tên các địa danh của quê hương mình.

Những tên gọi thường xuất hiện trong ca dao như: Đồng Tháp Mười, Đồng Tháp, Cao Lãnh, Phong Mỹ, Nha Mân, Hòa An, Mỹ An, Tân Khánh... Nó chẳng những cho  người đọc biết được nguồn gốc, xuất xứ của ca dao mà còn cho thấy đối tượng giao tiếp trong ca dao. Cụ thể, trong chùm ca dao với những dị bản khác nhau như: Ai về...; Ai đi...; Ai lên...; Ai ơi..,. thấy rằng, tần số xuất hiện của các địa danh rất cao, gần như mỗi bài đều có tên của một địa danh nào đó, từ địa danh chung của vùng miền đến địa danh làng xã, xóm ấp, bến chợ, dòng sông, chiếc cầu... Nó vừa có tính chất hô gọi nhằm định danh cụ thể một quê hương, nhưng cũng vừa định tính, định lượng bản sắc riêng, ví như chùm ca dao sau: Ai về Đồng Tháp xa xôi/ Dừng chân tôi gởi đôi lời nhớ nhung/ Ai về Ngã Sáu ấp Trung/ Cho tôi gởi nhớ về trong Tháp Mười (1) - Ai về Đồng Tháp mà coi/ Mộ quan lớn Thượng trăng soi lạnh lùng/ Bà con đùm đậu quanh vùng/ Tháng ba ngày giỗ xin đừng ai quên (2) - Ai về Tịnh Thới quê ta/ Xoài thơm quýt ngọt dậm đà tình quê (3) - Ai ơi về miệt Tháp Mười/ Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn (4) - Ai về Đồng Tháp mà xem/ Bông sen bông súng nở chen lúa vàng (5) - Ai về Đồng Tháp quê tôi/ Vào thăm lăng Cụ bồi hồi nhớ thương (6).           

Nhìn từ phương diện ngữ nghĩa giao tiếp, giữa chủ thể phát ngôn và nhân vật trữ tình ai phiếm chỉ có một quan hệ mật thiết với địa danh. Ở đó, chủ thể phát ngôn mượn địa danh để chuyển tải thông điệp tâm hồn của mình không chỉ hướng đến nhân vật trữ tình ai mà còn nói hộ cho tiếng nói địa danh vốn được hiểu là sự vật không phải là con người. Dường như từ nhu cầu thấu hiểu về sự vật quê hương trong quá trình tương tác mà chủ thể trong các bài ca dao đã lựa chọn như một kiểu nhân vật trữ tình để tự biểu hiện. Do vậy, ý nghĩa phát ngôn và đích đến của nó chắc chắn không phải chỉ dừng lại ở nhân vật ai mà còn hướng đến khách thể khác trong giao tiếp chính thức.

Thực ra, địa danh trong các bài ca dao đã thực hiện hai vai trò cùng một lúc: vừa là không gian có thật của một xứ sở quê hương, vừa là hình ảnh để chủ thể phát ngôn giới thiệu, gửi gắm tâm tình, chia sẻ nỗi niềm riêng, để phản chiếu tâm hồn phong phú, sinh động của mình. Ở bài ca dao (1), người gửi nỗi nhớ nhung gần như bị mờ khuất đi, còn nhân vật trữ tình ai lại đóng vai người chuyển thông điệp nhớ nhung. Đối tượng nhận thông điệp và chia sẻ với chủ thể phát ngôn chính là Đồng Tháp. Ở bài ca dao (2),(3),(6) cũng tương tự như cách thể hiện ở bài ca dao (1), Đồng ThápTịnh Thới là người cất giữ tình quê. Ở bài ca dao (4), (5), người được chủ thể tự hào, ngợi ca về sự giàu có các sản vật chính là Tháp Mười... Rõ ràng, nhờ các địa danh ấy mà chủ thể phát ngôn trong các bài ca dao có cái cớ để giải bày, chuyển tải nội hàm giao tiếp đến với người đọc. Người đọc lần lượt nhận ra nét văn hóa đặc thù, gương mặt của từng chốn quê. Ví như chốn quê Đồng Tháp, Tháp Mười ở bài ca dao (1) như là xứ sở của tình yêu, của lòng thủy chung; còn Đồng Tháp ở bài ca dao (2) như là xứ sở của lối sống nghĩa tình, của tấm lòng không quên ơn; còn địa danh Tịnh Thới ở bài ca dao (3) và Tháp Mười ở bài ca dao (4), (5) như là cõi thiên đường xinh đẹp, hiền hòa, trù phú... Tất cả có vai trò như một mạch ngầm ngữ nghĩa bên trong của ca dao. Nhờ đó mà người đọc nhận diện quê hương Đồng Tháp qua hệ thống ngữ nghĩa ấy.

Mặt khác, khi bóc tách các lớp ngữ nghĩa bên trong của ca dao quê hương Đồng Tháp, chúng ta thấy tên gọi địa danh còn đóng vai trò trọng yếu: nó kết tinh vẻ đẹp gương mặt, tâm hồn và văn hóa giao tiếp, ứng xử của con người quê hương. Do đó, sự có mặt của các địa danh trong ca dao là nhằm tạo chất, tạo vị cho tư tưởng, tâm hồn quê hương, chứ không phải đóng vai trò ngôn ngữ đơn thuần trong cấu trúc của thơ lục bát. Cho dù địa danh đó đứng bất kì vị trí nào trong bài ca dao thì mạch ngầm ngữ nghĩa của nó vẫn không thay đổi. Nếu chúng ta thử tách các địa danh ấy ra khỏi cấu trúc của một bài ca dao như đã nêu trên, chẳng những ý nghĩa giao tiếp mờ nhạt đi, mà ngược lại phần hồn của nó cũng không còn. Người đọc bài ca dao không thể tìm thấy nơi gửi gắm tình cảm đối với quê hương. Nghĩa là nó đánh mất vai trò của một loại hình nghệ thuật mà người bình dân dùng để diễn tình, ngụ ý.

Cũng có nhiều bài ca dao viết về quê hương Đồng Tháp, nhưng không theo mô - tip những bài ca dao trên: Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh/ Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm (1) - Tháp Mười sình ngập phèn chua/ Hổ mây cá sấu thi đua vẫy vùng (2) - Muốn ăn bông súng mắm kho/ Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm (3) - Tân Huề, Tân Quới, Tân Long/ Ba thôn hiệp lại như rồng lên mây (4) - Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh/ Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân (5) - Thuốc rê Cao Lãnh thơm nồng/ Con gái Cao Lãnh má hồng thấy mê (6) - Thấy cầu lại nhớ Mương Kinh/ Thấy trăng lại nhớ quê mình thiết tha (7).

Ở những bài ca dao (1), (2), (3), Đồng Tháp Mười, Đồng Tháp như tự phơi mình ra, để người đọc soi ngắm vẻ đẹp tự nhiên, hoang dã. Thông qua những hình ảnh trong các bài ca dao (1), (2), (3), người ta cũng nhận ra địa danh Đồng Tháp Mười in hằn dấu tích địa lý, lịch sử, văn hóa của thuở sơ khai, là chiếc nôi hình thành tâm hồn phóng khoáng của con người Nam bộ. Trên cái nền không gian rộng lớn của Đồng Tháp Mười, trong quá trình chinh phục tự nhiên hoang dã, đầy thách thức, con người Nam bộ nói chung và Đồng Tháp nói riêng đã lựa chọn cách ứng xử phù hợp, tinh tế với thiên nhiên tạo vật. Họ lấy tinh thần nghĩa khí, chân tình làm thước đo tình cảm, hòa nhập, đón tiếp, quảng bá, tự hào về quê hương mình. Lời mời mọc thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm chẳng những khẳng định Đồng Tháp là nơi có những đặc sản rất ngon bông súng, mắm kho, mà còn là nơi rất bình dị, dân dã, sẵn sàng đón tiếp, làm thỏa mãn những ước muốn mọi người. Cách nói ăn cho đã thèm như một kiểu giao tiếp chân thành, là lời mở lòng mộc mạc, là tâm hồn phóng khoáng, tự nhiên, không đong đo thiệt hơn của con người Đồng Tháp vậy.

Các địa danh ở bài ca dao (4), (5), (6), (7) có nội dung địa phương hóa, chủ ý nhấn mạnh đến nét đặc sắc riêng biệt của từng chốn quê Đồng Tháp. Những cái tên như Tân Huề, Tân Quới, Tân Long là những xã tọa lạc trên Cù Lao Tây của huyện Thanh Bình. Vùng đất này nằm giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, rất rộng lớn, màu mỡ, trù phú. Lấy hình ảnh rồng lên mây, người bình dân vừa chỉ ra cơ hội phát triển của một vùng đất, vừa giới thiệu một cuộc sống hiền hòa, no ấm, yên vui như chốn thiên đường của họ. Mãi cho đến bây giờ, dấu ấn văn hóa làng quê Việt Nam vẫn còn dậm nét ở Cù Lao Tây, nhất là dấu ấn văn hóa tôn giáo rất đặc trưng nơi đây, nhưng con người vẫn sống với nhau thuận hòa như anh em một nhà.

Địa danh Cao Lãnh đi cùng với đặc sản , thuốc rê; Nha Mân lại thấy hãnh diện vì có đặc sản gái bành. Ở đây, Cao LãnhNha Mân không còn là địa danh để gọi mà trở thành địa danh của những đặc sản. Gà Cao Lãnh chắc nịch, gan lì, chịu đòn, đá hiểm; thuốc rê Cao Lãnh cay nồng, thắm môi; con gái Nha Mân xinh đẹp, dịu dàng, đảm đang... Rõ ràng đó là những giá trị văn hóa, lịch sử tồn tại, ổn định lâu đời của Cao Lãnh, Nha Mân trong nhận thức của nhiều người khi đến Đồng Tháp. Người Đồng Tháp tự hào về xứ sở quê hương mình vì có quýt Lai Vung, có gà Cao Lãnh, có gái Nha Mân, có truyền thống thượng võ Tân Khánh... Những thứ ấy tạo nên các giá trị cốt lõi, lặn sâu trong đời sống tinh thần của nhân dân Đồng Tháp, cần được tôn trọng, giữ gìn như một bản sắc đặc trưng của một quê hương. Trong giao tiếp, nhiều người đã biết vận dụng ca dao có các địa danh ấy để chuyển tải thông điệp con người Đồng Tháp; tự hào về xứ sở quê hương mình, đồng thời như chiếc cầu kết nối giao tiếp với nhiều người, từ đó, kín đáo giới thiệu về mình một cách tế nhị, tự nhiên. Có khi đó lại là cách giao tiếp sinh động, có chiều sâu, có sức hấp dẫn trong sinh hoạt của đời sống cộng đồng.

Trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ có rất nhiều bài ca dao phản ánh tinh thần yêu nước của người dân Đồng Tháp. Nhiều địa danh được nhắc đến trong ca dao thường gắn liền với chiến công hay phẩm chất anh hùng của người dân Đồng Tháp như: Tháp Mười, Ba Sao, Thủ Ô...: Em là con gái Tháp Mười/ Vai mang khẩu súng, miệng cười hoa sen (1) - Pháp vô Đồng Tháp đường cùng/ Mỹ vô Đồng Tháp sụp bùn khó ra (2) - Làm trai ở đất Ba Sao/ Đáng danh anh dũng đồng bào đều khen (3) - Nước mắm ngon dầm con cá sắc/ Ăn gạo Lấp Vò đánh giặc lập công (4).

Những địa danh Tháp Mười, Đồng Tháp, Ba Sao... là đất thành đồng, là sự kết tinh phẩm chất anh hùng, của lòng yêu nước, của vẻ đẹp con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Cũng giống như các câu ca dao viết về chủ đề quê hương, địa danh và vẻ đẹp con người gắn liền với nhau như hai mặt của tờ giấy. Do đó, ý nghĩa giao tiếp giữa chủ thể với người đọc về cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, không cần thiết phải nói rõ xứ sở bưng biền như thế nào, tinh thần yêu nước của người dân ra sao, chỉ cần nhắc đến các địa danh thôi, trên khắp mọi miền đất nước ai cũng thầm hiểu về một quê hương và con người nơi đó. Như vậy, địa danh đã đóng vai trò chuyển nghĩa bên trong, hình thành lớp văn hóa biểu trưng của cộng đồng và các yếu tố biểu thị, biểu thái của xã hội. Phải chăng nhờ mạch ngầm ngữ nghĩa này mà những bài ca dao thêm hàm súc, ngắn gọn so với thơ ca bác học?

Khi khảo sát ca dao Đồng Tháp viết về các chủ đề khác, thấy rằng tần số xuất hiện của địa danh giảm thiểu tối đa. Có thể trong ca dao viết về tình yêu lứa đôi, tình nghĩa gia đình, tình cảm vợ chồng..., vai trò của địa danh không còn quan trọng. Lớp ngữ nghĩa của chính các địa danh ấy tạo ra đã không còn là yếu tố bắt buộc để thể hiện tình cảm của người phát ngôn. Các chủ đề tình yêu lứa đôi, tình cảm vợ chồng, tình nghĩa gia đình... luôn mang sắc thái riêng tư, có tính chất nội cảm. Chủ thể phát ngôn trong ca dao thường mượn hình ảnh của thiên nhiên, các sự vật, các hiện tượng khác để giải bày, nhằm đa dạng hóa về hình thức, cung bậc cảm xúc. Rất hiếm khi có được bài ca dao có tên gọi địa danh như thế này: Buồn tình hai đứa buồn tình/ Ai về Đồng Tháp cho mình quá giang (1) - Trai Sa Đéc, gái Thanh Bình/ Môn đăng hộ đối, sao mình lại chê (2).  

Dường như, khi tình yêu đẹp và cả khi tình yêu trắc trở, con người Đồng Tháp vẫn nghĩ về chốn quê, gửi gắm vào đó một nỗi niềm riêng và cần được chia sẻ? Rất có thể từ những giá trị lịch sử, văn hóa, tình người được khẳng định qua thời gian, địa danh còn là nơi để con người thể hiện niềm tin trong tình yêu!

Khi nhận ra các địa danh như phương diện ngôn ngữ giao tiếp đặc thù, chúng ta sẽ thấy ca dao về quê hương Đồng Tháp rất giàu sắc thái biểu cảm, đa dạng về ngữ nghĩa như những bài ca dao khác trên khắp mọi miền đất nước.

Rất tiếc, những năm qua, ca dao quê hương Đồng Tháp chưa được sưu tầm, tập hợp như trước. Chắc chắn có rất nhiều bài ca dao mới được nhân dân sáng tác, truyền miệng, phản ánh quê hương và đời sống tâm hồn con người Đồng Tháp trong giai đoạn đổi mới.  Trước dòng chảy của đời sống hiện đại, nhiều bài ca dao mới đang nổi trôi, gọi chúng ta có trách nhiệm với chúng.

 

L.V.M

_________________________

(*) Tác phẩm tham dự Cuộc Vận động viết tác phẩm LLPB lần thứ IV - năm 2017 do Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp tổ chức.

 
     
  Cộng tác viên ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |