Chủ Nhật, ngày 16 tháng 12 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  07/11/2018  
  CÁI TÔI MẪN CẢM, TINH TẾ TRƯỚC THIÊN NHIÊN  
  Cái tôi mẫn cảm, tinh tế trước thiên nhiên trong thơ Thai Sắc còn được thể hiện ở phương diện rung cảm trước vẻ đẹp của các mùa trong năm, đặc biệt là những thời khắc chuyển mùa, giao mùa.   
 
 
THIÊN NHIÊN.jpg


Cái tôi mẫn cảm, tinh tế trước thiên nhiên

(Trích Thế giới nghệ thuật trong thơ Thai Sắc (*))

 

HOÀNG THỊ HỒNG VÂN

 

Trong thơ trữ tình của Thai Sắc, thiên nhiên cũng là một đề tài lớn, tạo nên những rung cảm thẩm mỹ sâu sắc. Cái tôi mẫn cảm, tinh tế trước thiên nhiên đã đem lại cho nhà thơ một sự khám phá, phản ánh vẻ đẹp của nhiều vùng đất, miền quê thân yêu của đất nước - những nơi mà tác giả đã từng trải qua những tháng năm gắn bó như máu thịt. Vì là người trưởng thành nơi đất mẹ Quảng Bình và quê hương Đồng Tháp bưng biền, nên trong thơ Thai Sắc, thiên nhiên được thể hiện một cách gần gũi, thiết tha qua các hình ảnh đặc trưng của làng quê Việt Nam, vừa mang tính phổ quát cho mọi làng quê trên đất nước, vừa mang tính đặc trưng địa phương rõ rệt.

Những hình ảnh đặc trưng của làng quê Đồng Tháp nói riêng và Nam bộ nói chung như: nhịp cầu tre, hàng dừa, cây lúa, bến nước, xuồng ba lá, con đò, khói đốt đồng… xuất hiện với tần số cao trong thơ Thai Sắc, đặc biệt là tập Miệt vườn.

Với Thai Sắc, đó là hình ảnh quen thuộc, thân thương của làng quê vào mùa gặt hái, thu hoạch lúa: Ruộng đồng quê sau mùa gặt hái/ Câu hò trôi giữa khói đốt đồng/ Giai điệu nồng nàn của trời đất rộng/ Của hạt phù sa với biển lúa mênh mông (Những ngọn khói đốt đồng đêm trăng). Khía cạnh văn hóa sông nước, một trong những đặc trưng văn hóa của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và quê hương Đồng Tháp trở thành những hình tượng đẹp, gắn liền với tình yêu con người nơi đây. Nhánh sông xưa bên lở bên bồi gắn liền tình yêu dang dở. Âm hưởng man mác, trầm buồn của nó nhắc nhớ chúng ta về nguồn mạch của những lời ca dao tha thiết, nồng nàn về dòng sông, bến nước, câu hò: Đơn sơ một góc quê mình/ Dòng sông, bến nước, mái đình và em (Nhánh sông xưa) - Ta về nương chuyến đò xưa/ Chòng chành mái dầm nước cũ (Khúc hoàn ca tháng giêng) - Ngày tháng đếm qua từng cơn mưa khuya/ Xếp lại nỗi nhớ ngập lòng/ Dòng sông quá vãng… (Dòng sông xa)…

Quê hương Đồng Tháp, đặc biệt là vùng Đồng Tháp Mười, cánh đồng có diện tích lớn, tiếp giáp với Long An và Tiền Giang, là vựa lúa lớn của vùng ĐBSCL. Trong những năm tháng khó khăn, nhất là mùa nước lũ, những ngọn lúa trời cho (dân gian gọi là lúa ma hay lúa trời) ngoi lên trổ bông trên mặt nước, trở thành nguồn sống của người nông dân chốn bưng biền gian khổ. Là lúa trời, do thiên nhiên ban tặng, không có sự chăm bón của con người nên năng suất của nó là rất thấp. Tuy vậy, hình ảnh những ngọn lúa nhô cao lên khỏi sóng nước mênh mông, bạt ngàn như biển cả đã tạo nên nét thi vị, nên thơ, khó có thể nhầm lẫn với bất cứ vùng đất nào trên đất nước. Đó là hình ảnh của biển lúa bao la, bạt ngàn đến ngút tầm mắt: Rì rào trên những dòng kênh/ Buồm giăng bên lúa là thành biển thôi (Biển quê anh) - Làng lúa quê tôi/ Ngã tư dòng kênh/ Bốn mũi đất như bốn nóc nhà/ Chụm lại giữa trời làm nên làng xóm/ Bốn dòng kênh như bốn dòng sữa ngọt/ Gom phù sa về nuôi đồng quê (Làng lúa quê tôi).

Biển lúa quê hương cũng là nơi chấp cánh bao tình yêu nên thơ, hồn nhiên của bao lứa đôi nơi này. Tình quê gắn bó thiết tha, giản dị mà đằm sâu bao nhiều ước vọng, hẹn thề: Ở Tháp Mười anh có một đêm xuân… Đi suốt thời gian, tình yêu dù cách trở/ Vẫn ấm nồng giai điệu đồng quê (Nói với em trong đêm Tháp Mười) - Người yêu thương nhau như phù sa thương lúa/ Nuôi nấng nhau mứa nắng tự bao giờ (Trước Tháp Mười).

Không chỉ có biển lúa mênh mông, Đồng Tháp Mười còn là vùng đất được biết đến với những cánh đồng sen bất tận. Cũng có lẽ vì lí do này mà trong một bài thơ của mình, nhà thơ Bảo Định Giang từng có những dòng thơ có thể xem như là kinh điển khi viết về hoa sen Đồng Tháp Mười: Tháp Mười đẹp nhứt bông sen/ Việt Nam đẹp nhứt có tên Cụ Hồ. Sen vừa là món quà quý giá mà mẹ thiên nhiên ban tặng, vừa là nguồn sống của cư dân nghèo nơi đây. Trong thơ Thai Sắc, hình ảnh hoa sen gắn liền với tình yêu lứa đôi nên thơ, chung thủy: Tít tắp đầm sen/ Một màu hồng dát lên nền trời tím/ Màu nụ cười em đó chăng? (Tản mạn Tháp Mười). Tháp Mười cũng là vùng đất phèn, bạc màu nên bên cạnh cây lúa, bông sen, cũng có hình ảnh những cánh rừng tràm mênh mông, bất tận, nơi mà thiên nhiên gần như vẫn giữ được nét hoang dã tự bao đời: Có thể em gặp một mảnh rừng tràm/ Đơm hoa trắng từng bông nho nhỏ/ Bầy ong mùa xuân về trong gió/ Nán lại rì rào trên những vòm thơm… (Tháp Mười, khi bắt đầu mùa xuân).

Nét đẹp văn hóa dân gian đặc trưng của vùng Đồng Tháp là những câu hò, điệu hát mang đậm chất quê hương. Nếu vùng đất thần kinh có những câu hò mái nhì, mái đẩy, thì với quê hương Đồng Tháp, đó là điệu hò thân thuộc, nổi tiếng của quê hương, xứ sở: Kết lại âm thanh sâu thẳm câu hò/ Câu hò bao la lấy đất nước mà đo/ Chiều rộng ruộng đồng và chiều dài kênh rạch/ Bao giọt máu mồ hôi gom thành sức nặng/ Trĩu giữa nhịp hò da diết của người xưa (Đêm nghe hò ở Tháp Mười).

Vùng ĐBSCL hằng năm được bồi đắp bởi một lượng lớn phù sa đổ về từ sông Mê - kông (khoảng tháng 8 âm lịch). Nhờ đó mà đất đai màu mỡ, cây cối tốt tươi, tôm cá đua nhau về, trở thành nguồn kinh tế, kế sinh nhai cho người dân nơi đây. Mùa lũ trong tâm thức của người đồng bằng không đơn thuần chỉ là mối đe dọa mà còn là nguồn lợi kinh tế, niềm khích lệ tinh thần to lớn. Đó không phải là kiểu văn hóa ứng xử chống lại thiên nhiên, thuần hóa thiên nhiên mà là cách thức sống chan hòa, hòa hợp với thiên nhiên.

Có lẽ vì vậy, trong thơ Thai Sắc, hình ảnh con nước lũ mang một vẻ đẹp gần gũi, nên thơ như chính bản chất của nó đối với người dân Đồng Tháp nói riêng và miền Tây Nam bộ nói chung: Một chiếc xuồng con một tay lưới nhỏ/ Một khoảng đồng không lặng tờ gợn gió/ Một đêm mùa lũ rất đỗi bình yên/ Một bình minh mới nhọc nhằn vươn lên (Khát vọng mùa lũ) - Nước như từ cõi Ngân Hà/ Bỗng dưng ào xuống Ta bà mênh mông/ Nước làm biển hóa cánh đồng… (Ngẫu hứng nước).

Cái tôi mẫn cảm, tinh tế trước thiên nhiên trong thơ Thai Sắc còn được thể hiện ở phương diện rung cảm trước vẻ đẹp của các mùa trong năm, đặc biệt là những thời khắc chuyển mùa, giao mùa. Từ những cái vỗ cánh, chuyển mình nhẹ nhất của thiên nhiên, tạo vật, nhà thơ đã nắm bắt, phác họa cái thần của nó để đưa vào thơ ca. Thời khắc giao mùa trong thơ Thai Sắc gắn liền với cảm thức về tình yêu đôi lứa: Lá kịp lặt và nụ mai sẽ mở/ Đỉnh tóc trầm đã thấp thoáng màu xuân/ Ta chợt biết mùa đông không địa chỉ/ Gieo vào xa một lạnh lẽo rất gần/ …Ta biết nắng đi tìm màu hoa nắng/ Ta biết em vẫn là em khoảng lặng/ Cháy vào xuân một chớp lửa luân mùa (Mùa đông không địa chỉ). 

Các thời điểm mùa trong năm cũng xuất hiện nhiều trong thơ Thai Sắc. Đặc điểm chung của nó vẫn là cảm thức thiên nhiên gắn liền với cảm thức về tình yêu, dùng thiên nhiên để làm nền bộc bạch những cung bậc của ái tình, chứ không  thuần túy là tả cảnh một cách có chủ đích. Chẳng hạn, thơ viết về mùa hạ, mùa thu: Mùa hạ chưa kịp nồng nàn ta yêu em/ Mùa hạ không kịp thời gian nụ cười em/ Chỉ tiếng hát tình yêu/ Mang trong ngực (Mùa hạ) - Những chiều thu rất đỗi bình thường/ Trên cây lá thời gian trôi trôi mãi/ Mỗi chiều thu đi qua, còn gửi lại/ Giữa đất đai chút kỷ niệm đời người (Chiều thu gặp gỡ). Hay mùa xuân: Những đêm trăng mùa xuân/ Con nước lớn phù sa hôn bãi bồi bỡ ngỡ/ Nhịp cầu tre lung liêng trong tiếng tôm búng gió/ Cành dừa chao qua trăng biếc thảnh thơi… (Những đêm trăng mùa xuân).

Nhưng có thể nói, cái tôi trong thơ Thai Sắc đặc biệt nhạy cảm với thời khắc giao mùa từ đông sang xuân. Ở miền Tây nói riêng và Nam bộ nói chung, chỉ có hai mùa mưa nắng, nên sự chuyển mùa chắc chắn không được lãng mạn, nên thơ như ở miền Bắc - nơi có bốn mùa rõ rệt. Do vậy, thơ Thai Sắc chủ yếu nắm bắt sự thay đổi từ thiên nhiên (hoa cỏ) và cái rộn ràng của lòng người trong thời khắc ấy. Những bài thơ tiêu biểu về mảng này có thể kể ra như: Rượu ngày xuân; Biến tấu xuân; Độc ẩm đêm xuân (tập thơ Độc ẩm) - Thiền xuân; Giao thừa nghe em hát dân ca (tập thơ Ta về với gió) - Nhạc xuân; Lục bát xuân; Kí ức những mùa xuân; Khúc hoàn ca tháng giêng; Khúc tháng giêng (tập thơ Những chiều không thời gian) - Miệt vườn ra giêng; Những đêm trăng mùa xuân (tập thơ Miệt vườn) - Đêm đầu năm; Tháng Chạp chia tay; Mùa xuân; Tết về (tập thơ Ngày chợt đến)…

 

H.T.H.V

 

_____________

(*) Luận văn thạc sĩ Văn học Việt Nam, năm 2017.

 
     
  Cộng tác viên ( Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật











  • TRANG THƠ VNĐT (22/11/2018)





  • TRANG THƠ VNĐT (16/11/2018)




  • SỐNG VỚI ĐAM MÊ (16/11/2018)

  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |