Thứ Sáu, ngày 10 tháng 4 năm 2020        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  24/11/2011  
  THỦ PHÁP BIỂU TRƯNG VÀ ƯỚC LỆ TRONG MĨ THUẬT TẠO HÌNH DÂN GIAN VIỆT NAM  
  Tính biểu trưng và thủ pháp ước lệ của nghệ thuật hình khối dân gian Việt Nam đã thể hiện ngay từ thời dựng nước. Những hình tượng trên trống đồng Đông Sơn cho đến những dòng tranh dân gian và chạm khắc đình làng Việt Nam minh chứng cho một tư duy biểu cảm, biểu trưng, giàu tính ước lệ.  
 
 

THỦ PHÁP BIỂU TRƯNG VÀ ƯỚC LỆ TRONG MĨ THUẬT

TẠO HÌNH DÂN GIAN VIỆT NAM

 

                                                                                                                        VÕ LẠC

 

Nằm trong dòng chảy chung của các nền văn hóa lúa nước, ngay từ thuở ban sơ, người Việt cổ đã chú ý biểu thị một thiên hướng sáng tạo nghệ thuật có tính riêng biệt. Trong đó, yếu tố biểu trưng và thủ pháp ước lệ được bộc lộ rõ nét,  thông qua các loại hình nghệ thuật như: tuồng, chèo, hát bội, cải lương, tạo hình… Điều đặc biệt, tính biểu trưng và thủ pháp ước lệ của nghệ thuật hình khối dân gian Việt Nam đã thể hiện ngay từ thời dựng nước. Những hình tượng trên trống đồng Đông Sơn cho đến những dòng tranh dân gian và chạm khắc đình làng Việt Nam minh chứng cho một tư duy biểu cảm, biểu trưng, giàu tính ước lệ.

Theo Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông định nghĩa biểu trưng: là biểu thị một đối tượng hoặc một ý niệm nào đó, có chức năng chuyển tải thông tin trực tiếp tới thị giác” [1]. Theo cách tiếp cận và nghiên cứu của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã phân chia các yếu tố chứa đựng giá trị biểu trưng và tính ước lệ trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam như: chú trọng lột tả giá trị nội dung hơn là hình thức của tác phẩm. Đề cao ý đồ trong tư duy tạo hình và xây dựng hình tượng nhân vật. Trên tinh thần đó, nghệ thuật tạo hình Việt Nam thoát ra yếu tố tả thực. Xây dựng diện hình, mảng hình dẹt, bỏ qua vờn khối. Vai trò của thủ pháp ước lệ trong tạo hình được đề cao và khai thác. Chính nhờ thủ pháp đó, người nghệ nhân khi làm tranh, đục tượng đã bỏ qua các yếu tố đúng sai, đẹp xấu về mặt hình thức; chú trọng biểu cảm về mặt nội dung, sao cho tác phẩm mang được tiếng nói riêng, tình cảm của người sáng tác. Thủ pháp phá bỏ tính chuẩn mực quy ước về phối cảnh không gian theo một trật tự xa gần được các nghệ nhân khai thác sử dụng trong tranh, tượng một cách triệt để. Hơn thế nữa, sự tượng trưng, ước lệ về cách phối màu, dùng màu, thoát li bản chất của cấu trúc tự nhiên sự vật, nâng lên bằng những gam màu, mảng màu có tính khái quát cao… Tính biểu trưng, ước lệ trong nghệ thuật tạo hình dân gian Việt Nam còn thể hiện tư duy mô hình hóa. Các nghệ nhân đã biết quy các hình tượng nhân vật trong tranh vào các dạng hình học cơ bản: như hình tam giác, hình thang, hình tròn, ví dụ như trong các tác phẩm Đánh vật, Hứng Dừa, Ngũ hổ… Trên cơ sở đó, nghệ nhân kết hợp các thủ pháp nhấn mạnh và lược bỏ. Tập trung chú trọng vào những nhân vật, đối tượng chính, quan tâm những nhận vật trung tâm để xử lí diện hình, mảng hình hay biểu cảm nội tâm nhân vật… Qua đó, chuyển tải nội dung của tác phẩm đến người xem với hiệu quả trực cảm mạnh mẽ. Thông qua hệ thống tác phẩm tranh dân gian như: Đám cưới chuột, Thầy đồ cóc, Đánh ghen… tác giả dân gian thể hiện một lối xây dựng hình tượng nhân vật có tính đặc sắc riêng biệt, tạo nên một cái nhìn hồn nhiên, giàu mỹ cảm khác thường. Tính biểu trưng và tư duy ước lệ còn thể hiện ở thủ pháp bất chấp hiện thực, vượt lên tính hiện thực để đạt đến nội dung. Không câu nệ trật tự của không gian, tỉ lệ nhân vật trong tranh (phù điêu)… mà chú trọng đến biểu cảm tâm trạng trên chân dung nhân vật như trong các bức phù điêu: Đánh cờ, Trai gái đùa vui… và rất nhiều phù điêu trang trí trong đình làng Thời Mạc. Người nghệ nhân còn thể hiện tính sáng tạo của mình thông qua thủ pháp đồng hiện, khái quát trật tự không gian, thời gian, công việc diễn ra trong nhiều tình tiết khác nhau trên một mặt tranh. Ví dụ như các tác phẩm Nghề nông, Thập niên nhiên vương, Phụ nữ múa trên lưng rồng… Chính cách nhìn có tính trực cảm, biểu trưng làm cho tranh, phù điêu của nghệ thuật dân gian, mang hơi thở nồng nàn của cuộc sống lao động. Những nhát đục, những loại nét chân đê, những gam màu  ngũ sắc, giấy dó… được khai thác và thể hiện, tạo nên nét đặc trưng của thẩm mỹ dân gian.

Tranh dân gian Đông Hồ

Phương cách phối màu của tranh dân gian Đông Hồ mang tính ước lệ rõ rệt. Từ trong phương thức chế tác màu sắc đến cách bố trí các mảng màu trên mặt tranh là một nghệ thuật đặc trưng, mang nặng tính dân tộc và hồn quê Việt Nam, thể hiện vẻ đẹp tươi mát, kín đáo, duyên dáng, đồng thời bộc lộ sự sáng tạo trong việc tìm kiếm chất liệu chế tác những gam màu thiên thiên và cũng như phối màu trong sự sáng tạo tác phẩm nghệ thuật.

Từ rất lâu đời, nghệ nhân Đông Hồ đã biết khai thác những gam màu có tính truyền thống và cũng tạo nên yếu tố hiện đại. Nhìn vào tranh, chúng ta thấy độ tươi của gam màu, bộc lộ rõ một phương pháp và hình thành một bảng màu rất riêng. Ba màu nền trắng điệp, vàng hòe và đỏ vang hòa quyện với bảng màu. Tranh Đông Hồ được bổ sung thêm các màu đen than lá tre, nâu sỏi, xanh chàm và do kỹ thuật pha trộn, đặc hay loãng; do in chồng màu cộng với màu rỉ đồng, đỏ gấc, đỏ da, cánh sen, son tươi, vàng thỏ tía… những màu đó, được chắt lọc, khi đưa vào tranh tạo ra thuận mắt ta ra mắt người. Màu khoáng tự nhiên làm cho các hạt màu tạo nên sắc tố có tính thuận mắt, phù hợp với đời sống nông nghiệp của người nông dân Việt Nam.

Chính sự tương phản của các sắc tố, mang tính trong sáng và độ rung cảm tương phản, làm cho tranh đạt một giá trị thẩm mỹ khác với các dòng tranh khác. Ngoài ra trong hệ thống màu sắc, tranh dân gian Đông Hồ còn chứa đựng giá trị biểu trưng mang tính triết lý của học thuyết ngũ hành: như màu xanh ứng với hành mộc, màu đỏ ứng với hành hỏa, màu đen ứng với hành thủy, màu vàng ứng với hành thổ, màu trắng ứng với hành kim. Theo quan niệm của nghệ nhân Đông Hồ, tiếp thu quan niệm triết học phương Đông: “màu xanh tượng trưng cho sự sống, sinh sôi; là màu của mùa xuân, màu hợp với ánh mắt nhìn”; “màu đỏ tượng trưng cho lửa, nhiệt nóng, màu của mùa hạ” [2]. Màu vàng thuộc hành thổ, là màu của đất, tượng trưng cho mẹ của thiên nhiên… Cho nên, trong các tranh Đông Hồ thường thấy xử lý màu vàng làm nền cho mặt tranh, có ý nghĩa quan trọng trong tổng hòa quan hệ của bức tranh. Ví dụ trong tranh Ngũ hổ, hình tượng năm chú hổ bố trí bốn con bốn góc, còn chú hổ còn lại được bố trí ngay chính giữa tranh, được xử lý bằng gam màu vàng, tượng trưng cho mẹ của muôn loài. Bốn chú hổ xung quanh bố trí bốn màu tượng trưng cho bốn hành theo chiều tương khắc ngược kim đồng hồ. Màu trắng trong tranh Đông Hồ thường được các nghệ nhân khai thác từ độ lấp lánh của vỏ sò trộn với bột hồ tạo nên trên mặt tranh, tạo hiệu quả đặc biệt, mang tính đặc trưng của dòng tranh.

Tranh dân gian Hàng Trống

Nghệ thuật dân gian Việt Nam nói chung và nghệ thuật tranh Hàng Trống nói riêng đã tạo ra phương pháp bố cục có tính đặc trưng, coi trọng tính giản lược, biểu ý, hơn là mô tả đối tượng sự vật. Chính nét riêng biệt đó, đã tạo dựng cho tranh Hàng Trống một giá trị thẩm mỹ riêng biệt.

Về bố cục, tranh Hàng Trống có xu hướng khép kín các khoảng rỗng, chú trọng đến tính bố cục mảng chính và mảng phụ. Trong bức tranh Ngũ hổ, sự tinh tế được thể hiện rõ, chứa đựng tính triết lí cao. Các nghệ nhân đã biết kết hợp sự chặt chẽ của bố cục hình vuông, trong chu vi bức tranh hình chữ nhật, tạo yếu tố chuyển động xoay tròn.

Về màu sắc trong bức tranh, các nghệ nhân tranh Hàng Trống đã phát triển trên tinh thần của gam màu ngũ sắc, thể hiện tính tượng trưng của màu sắc triết lí phương Đông. Sự kết hợp giữa vẽ và in trong  tranh Hàng Trống, tạo ra độ màu tinh tế và uyển chuyển, những độ tươi sáng tác động lẫn nhau, làm cho bức tranh sinh động, tươi vui thể hiện tính hiện đại. Trong bức tranh Lý ngư vọng nguyệt, hình tượng con cá chép và bóng trăng rất đẹp, tượng trưng chiều sâu ý tưởng của bức tranh: “cá chép là loài cá nước ngọt rất phổ biến, theo truyền thuyết nó được lựa chọn làm biểu tượng cho ý thức vươn lên trong cuộc sống” [3]. Màu sắc trong bức tranh mang ý nghĩa tượng trưng rất lớn, sự phối hợp hai mảng màu chính, màu vàng phía trên bức tranh và màu xanh phía dưới bức tranh, tạo ra sự đơn giản, hài hòa nhưng tương phản cao.

Những tác phẩm tiêu biểu chạm khắc đình làng thời Mạc (TK XVI - XVII)

Đình làng Việt Nam hình thành dưới thời Lý được gọi là trạm đình, dịch đình. Về sau, nhất là trong giai đoạn dưới thời nhà Mạc, đình làng như là một nét văn hóa tiêu biểu của người Việt. Ngoài chức năng thờ thành hoàng làng, đình còn là nơi sinh hoạt của người nông dân Việt Nam: “phải chăng đó là biểu tượng của một làng và là nơi có mật độ đậm đặc nhất của mọi sinh họat vật chất và tinh thần của làng” [4]. Đình làng là biểu tượng mang tính tâm linh, văn hóa cộng đồng, tồn tại với đời sống người nông dân Việt Nam.

Hệ thống đình làng dưới Nhà Mạc còn tồn tại cho đến ngày nay như: đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hào, Hà Bắc) - 1576; đình Công Đình (Hà Nội) - 1669; đình Cổ Mễ (Bắc Ninh) -1681; đình Thôn Hạ (Hà Nội) - 1685; đình Thổ Hà (Bắc Giang) - 1686; đình Phù Lão (Bắc Giang) - 1688; đình Diềm (Bắc Ninh) - 1692; đình Thắng (Bắc Giang) - 1694… Những bức phù điêu trang trí phản ảnh đời sống sinh hoạt, sử dụng thủ pháp cắt hình đột ngột, bằng những nhát đục to khỏe, đã tạo ra những hình tượng nghệ thuật hết sức độc đáo. Thông qua hình tượng nghệ thuật, thể hiện tư duy sáng tạo của người nông dân Việt Nam. Người nông dân một nắng hai sương, tần tảo với ruộng đồng, nhưng chính tình yêu quê hương, yêu lao động, giúp họ sáng tạo lên những tuyệt tác.

Những bức phù điêu trang trí như: Trai gái đùa vui (đình Hưng Lộc, Nam Định) ; Đánh cờ (đình Hà Hiệp, Hà Tây), “tả một nét đời thường duy nhất giữa thế giới toàn rồng với tiên” [5]. Phụ nữ múa trên lưng rồng ở đình Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang); Phụ nữ múa trên lưng rồng ở đình Hà Hiệp (Phúc Thọ, Hà Tây cũ)… là những bức phù điêu trang trí mà “tính ước lệ cách điệu được thể hiện mạnh bạo” [5]. Những thủ pháp nghệ thuật cắt hình và khái quát, đã đưa những hoạt cảnh có tính hồn nhiên, nhưng vẫn không mất tính châm biếm chua cay. “Nguyên lý và mục đích của sự biểu trưng trong nghệ thuật hình khối, chú trọng gợi nhiều hơn tả, hướng sự chú ý của người xem  vào nội dung tư tưởng hơn là hình thức đẹp xấu đúng sai” [6], bằng những động thái có tính khái quát, chắt lọc điển hình, đã đưa người xem thoát ra khỏi sự so sánh đối chiếu đúng sai, mà chú trọng đến thần thái của bức phù điêu, nét giá trị của nội dung. Nghệ thuật điêu khắc đình làng nói riêng và nghệ thuật dân gian nói chung đã hoàn toàn thoát ra khỏi quy ước có tính duy lí. Thể hiện thủ pháp tạo hình  sai tỉ lệ kì diệu, cái sai đem lại cái đẹp, cái duyên cho tác phẩm.  

Tư duy tạo hình trong tranh dân gian và nghệ thuật chạm khắc đình làng thể hiện đậm nét tính biểu trưng và thủ pháp ước lệ trong nghệ thuật tạo hình dân gian Việt Nam, thể hiện năng lực tạo hình mang tính đặc trưng, tạo nên một bản sắc văn hóa riêng biệt, khác với nghệ thuật phương Tây. Đây chính là một trong những giá trị nghệ thuật điển hình có tính định hướng đối với sự phát triển nghệ thuật Việt Nam trong hiện tại và tương lai.

 

V.L

 

______________________

 

Tài liệu tham khảo:

[1]  Đặng Thị Bích Ngân chủ biên - Từ điển thuật ngữ mĩ thuật phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.

[2]  Nguyễn  Đình  Như  - Tìm  hiểu  và ứng dụng học thuyết ngũ hành, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002.

[3]  Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002.

[4] Nguyễn Quân - Phan Cẩm Thượng - Mỹ thuật ở làng, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, 1991.

[5]  Leâ Thanh Ñöùc (2001), Đình làng miền bắc, Nxb Myõ thuaät, Hà Nội.

[6] Trần Ngọc Thêm - Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng hợp TPHCM, 2006.


 


 
     
  Võ Lạc ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật


















  • Phụng! (09/12/2019)

  • NỒI LÁ XÔNG … (09/12/2019)

  • LỜI PHÊ (09/12/2019)

  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |